MỤC LỤC Chuyên đề 1 1 1 1 2 1 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 1954) Bối cảnh thế giới và trong nước sau Cách mạng Tháng Tám năm.
Trang 1MỤC LỤC Chuyên đề 1:
4
4
721
Những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo hoạt động đốingoại của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước (1954-1975)
23
2326
Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng trong 10năm đầu cả nước quá độ lên CNXH (1975-1985)
Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng trong thời kỳđổi mới và hội nhập quốc tế (từ năm 1986 đến nay)
Kết quả và kinh nghiệm
41
415060
Chuyên đề 4 SỰ HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM VÀO ASEAN 80
Trang 2Quan hệ Việt Nam - ASEAN TỪ 1995 đếnnay
Tác động của ASEAN đối với Việt NamVai trò của Việt Nam trong tiến trình hội nhập ASEAN
8090108111
Trang 3Chuyên đề 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM
LƯỢC(1945-1954)
MỤC TIÊU
- Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về chủ trương
và chính sách đối ngoại của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược, có cách nhìn đầy đủ về mối quan hệ giữa đường lối đối nộivới đối ngoại, dân tộc và quốc tế
- Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp tư
duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về quan điểm, đường lối đối ngoạicủa Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; biết vậndụng kiến thức được trang bị để phân tích, đánh giá chủ trương, chính sáchđối ngoại của Đảng và Nhà nước hiện nay
-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa
học vào sự đúng đắn về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhànước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như trong thời kỳ đổimới hiện nay; tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức sai trái
NỘI DUNG 1.1 Bối cảnh thế giới và trong nước sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đờitrong hoàn cảnh thế giới và trong nước có những thay đổi lớn
1.1.1 Về tình hình thế giới: Với thắng lợi vĩ đại của Liên Xô đối với
chủ nghĩa phát-xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, kết thúc chiếntranh thế giới lần thứ hai, một kỷ nguyên mới trong thời đại quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới bắt đầu
Liên Xô nhanh chóng phục hồi và lớn mạnh về kinh tế, khoa học, kỹthuật và quốc phòng Chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới với sự
ra đời của một loạt nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu và Cộng hòa dân
Trang 4chủ nhân dân Triều Tiên Vị trí ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hộichủ nghĩa tăng lên Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ với quy
mô ngày càng lớn ở châu Á, châu Phi và lan dần sang châu Mỹ la-tinh Phongtrào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tưbản chủ nghĩa phát triển sôi nổi Ba trào lưu cách mạng của thời đại đã hìnhthành và đang phát triển thế tiến công chiến lược chống chủ nghĩa đế quốc vàchủ nghĩa thực dân
Hệ thống các nước đế quốc chủ nghĩa suy yếu nhiều Riêng đế quốc
Mỹ mạnh lên, có ưu thế to lớn về kinh tế, quân sự và khoa học, kỹ thuật, trởthành tên sen đầm của chủ nghĩa đế quốc
Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai về cơ bản là chủnghĩa đế quốc đi vào một giai đoạn mới của cuộc tổng khủng hoảng Đó làthuận lợi cơ bản của nhân dân ta sau Cách mạng Tháng Tám Nhưng, trướcmắt đất nước ta còn ở vào khu vực ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc, cònnằm trong vòng vây của các nước đế quốc và các chính quyền phản độngtrong khu vực Cách mạng nước ta chưa thể nhận được sự giúp đỡ trực tiếpcủa Liên Xô và các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới Tình hình đó đòihỏi Đảng ta phải phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ để lãnh đạo nhândân ta tiến hành một cuộc đấu tranh nhằm giữ vững chính quyền và bảo vệthành quả cách mạng
1.1.2 Về tình hình trong nước: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
mở ra trong lịch sử Việt Nam một bước ngoặt lớn, đem lại cho cách mạngViệt Nam thế và lực mới Đảng ta, từ chỗ là một đảng hoạt động bất hợppháp, trở thành một đảng lãnh đạo nhà nước Nhân dân ta thoát khỏi cuộc đời
nô lệ kéo dài gần một thế kỷ, trở thành người chủ nước nhà Song cách mạngnước ta lại đứng trước những thử thách hết sức nghiêm trọng:
Sau ngày giành được chính quyền, nền kinh tế nước ta vốn đã nghèonàn, lạc hậu, lại bị Pháp - Nhật tranh nhau vơ vét, bị chiến tranh và thiên taitàn phá nặng nề, đã rơi vào tình trạng xác xơ, kiệt quệ Điển hình là nạn đóikhủng khiếp đầu năm 1945 làm chết 2 triệu người do Pháp - Nhật gây ra chưakịp khắc phục, thì nạn lụt lớn đã xẩy ra làm cho 9 tỉnh Bắc Bộ bị ngập lụt,
Trang 5mùa màng mất trắng Sau nạn lụt là nạn hạn hán kéo dài, 50% ruộng đất phải
bỏ hoang Một nạn đói mới đe dọa dữ dội vào đầu năm 1946 Sản xuất côngnghiệp bị đình đốn, hang vạn công nhân không có việc làm, hang hóa khanhiếm, giá cả tăng vọt Tài chính khô kiệt, kho bạc trống rỗng, Ngân hàngĐông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp; quân Tưởng tung tiền Quan kimmất giá ra thị trường gây rối loạn nền tài chính, kinh tế của ta; trình độ vănhóa thấp kém, 90% dân số mù chữ
Nhưng nghiêm trọng hơn vẫn là nạn ngoại xâm và nội phản
Với tính chất chống đế quốc triệt để, với vị trí tiên phong trong phongtrào chống chủ nghĩa thực dân tại một địa bàn chiến lược quan trọng, cáchmạng Việt Nam trở thành một đối tượng chống phá quyết liệt của các thế lực
đế quốc và phản động quốc tế Bọn chúng cố dàn xếp những mâu thuẫn vềquyền lợi, hòng chĩa mũi nhọn tiêu diệt cách mạng Việt Nam, xóa bỏ nền độclập và chính quyền cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được và thiết lập nên
Vì vậy, chỉ trong vòng 20 ngày sau cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, nhữngđội quân của các nước Đồng Minh đã dồn dập kéo đến 20 vạn quân Tưởng ồ ạttràn qua biên giới, tiến vào miền Bắc cho đến vĩ tuyến 16 Theo gót chúng là bè
lũ Việt gian phản quốc lưu vong lâu ngày trên đất Trung Quốc, tập hợp lại tronghai tổ chức phản động: Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồngchí hội Bọn này dựa vào quân Tưởng đã chiếm đóng và lập chính quyền phảncách mạng ở một số nơi Bọn Tưởng và tay sai, có Mỹ đứng đằng sau, ra sứcquấy nhiễu, phá phách, cướp của, giết người, tuyên truyền kích động quần chúngchống lại chính quyền cách mạng
Ở miền Nam, tình hình còn nghiêm trọng hơn Cũng với danh nghĩa quânĐồng Minh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội của đế quốcAnh đã đồng lõa và tiếp tay cho thực dân Pháp quay trở lại Đông Dương, phốihợp với hành động này là tàn quân Nhật Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quânAnh giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lượcViệt Nam và Đông Dương lần thứ hai Các lực lượng phản cách mạng ở miềnNam đều ngóc đầu dậy làm tay sai cho Pháp “Chưa bao giờ trên đất nước tacùng một lúc lại có nhiều kẻ thù hung bạo và xảo quyệt như vậy”1
1.2 Chủ trương và chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng
1 Tính đến tháng 10-1945 trên đất nước ta có khoảng 30 vạn tên Trong đó có 20 vạn quân Tưởng, 2,6 vạn quân Anh, 2 vạn quân Pháp và 6 vạn quân Nhật.
Trang 61.2.1 Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời, bản Tuyên ngôn độc lậpcủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
công bố ngày 2-9-1945 đã khẳng định: “Lâm thời Chính phủ của nước ViệtNam mới - đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ vớithực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký kết về nước ViệtNam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”2 Tuyên ngôn khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đemtất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do,độc lập ấy”3 Thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Chính phủ lâm thời khẳng
định đường lối độc lập, tự chủ của nước Việt Nam trong quan hệ chính trịquốc tế
Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng họp ngày 10 và 11-9-1945, thông qua
án nghị quyết khẳng định về ngoại giao chúng ta phải lợi dụng những mâuthuẫn giữa Tàu, Mỹ và Anh để có lợi cho ta, đồng thời xác định nhiệm vụchính trong lúc này là “củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũkhí cần thiết đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập”4
Trong điều kiện mới – điều kiện trực tiếp lãnh đạo chính quyền, Đảng
đã vạch ra đường lối đối nội và đối ngoại phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến
và kiến quốc đi đến thắng lợi Đường lối đối ngoại được đặt ở vị trí quantrọng, với một hệ thống quan điểm, chiến lược, sách lược về quan hệ của ViệtNam với thế giới
Ngày 3-10-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra Thông cáo về chính sách ngoại giao của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, nêu rõ: Chính sách đối ngoại của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở: thực tiễn Việt Nam; tình hình quốc tế; thái độ của các liệt quốc Điều đó có
nghĩa là dân tộc Việt Nam tự mình vạch ra đường lối, chính sách đối ngoại
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr3.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr3.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t8, tr.6.
Trang 7độc lập, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, nhưng đồngthời phải phù hợp với chuẩn mực quốc tế, thích ứng với xu thế thời đại.
Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam là góp phần “đưa nước nhà đến nền
độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” Đó là sự khẳng định nhất quán, nhiệm vụ đốingoại đảm bảo lợi ích của quốc gia dân tộc, bảo đảm các quyền dân tộc cơbản như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhấtđất nước
Thông cáo đề cập chính sách đối ngoại của Việt Nam với một số đối
tượng chủ yếu trong quan hệ quốc tế như: các nước lớn, các nước đồng minhchống phát xít thì “Việt Nam hết sức thân thiện và thành thực hợp tác trên lậptrường bình đẳng và tương ái”; “riêng với Chính phủ Pháp Đờ Gôn chủtrương thống trị Việt Nam thì kiên quyết chống lại”; với các nước láng giềng,thông cáo nhấn mạnh quan hệ hữu nghị hợp tác và bình đẳng; với hai nướcCao Miên và Ai Lao, Việt Nam chủ trương “dây liên lạc lấy hai dân tộc tựquyết làm nền tảng, lại càng phải chặt chẽ hơn nữa”
Về nguyên tắc đối ngoại, nền ngoại giao Việt Nam lấy nguyên tắc của
Hiến chương Đại Tây Dương làm nền tảng
Tiếp đó, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về Kháng chiến kiến quốc, ngày 25-11-1945 nêu rõ: “Kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước
theo nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ” Phải đặc biệt chú ý những điều này:
một là thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết; hai là muốn ngoại giao được thắng lợi phải biểu dương thực lực”5 Điềunày có nghĩa là: giữ vững độc lập, tự do, bảo vệ chế độ là mục tiêu nhất quántrong toàn bộ chủ trương, chính sách đối ngoại; phương châm thực hiện là “thêmbạn bớt thù”, “biểu dương thực lực”, chú trọng biện pháp đối thoại và thươnglượng hòa bình
Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Hồ Chí Minh cũng đã nêu rõ chính
sách đối ngoại của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như sau:
“Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủnhững nguyên tắc dưới đây:
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.8, tr 27.
Trang 81.Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hainước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đốigiữa các nước có chủ quyền.
2 Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chínhsách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tưbản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giaothông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc
tế dưới sự lãnh đạo Liên hợp quốc
d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lụcquân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt
và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân vàkhông quân”6
Về phương châm đối ngoại, nền ngoại giao của nước Việt Nam mới
quán triệt quan điểm độc lập tự chủ, tự lực, tự cường Trong quan hệ quốc tế,phải nắm vững phương châm kiên trì về nguyên tắc, giữ vững về chiến lược,nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược: “Mục đích bất di, bất dịch của ta vẫn
là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vữngchắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt”7
Phương châm đối ngoại của Đảng thể hiện quan điểm chủ động, tích cực
tự lực cánh sinh; lấy sức ta mà giải phóng cho ta; “Ta có mạnh thì họ mớichịu “đếm xỉa đến” Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu
là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”
1.2.2 Đảng chỉ đạo hoạt động đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Giữ vững mục tiêu và nguyên tắc, đồng thời sẵn sàng thực hiện chínhsách đối ngoại rộng mở là nét độc đáo trong đường lối đối ngoại của nướcViệt Nam mới Giữ vững mục tiêu và nguyên tắc này, Nhà nước Việt Nam
6 H Chí Minh: ồ Chí Minh: To n t p, àn tập, ập, Nxb Chính tr qu c gia, H N i, 2011, t 4, tr 469-470.ị quốc gia, Hà Nội, 2011, t 4, tr 469-470 ốc gia, Hà Nội, 2011, t 4, tr 469-470 à Nội, 2011, t 4, tr 469-470 ội, 2011, t 4, tr 469-470.
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t7, tr 319.
Trang 9Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành những hoạt động ngoại giao đặc biệt vớinhững sách lược khôn khéo, nhân nhượng, đối thoại với kẻ thù Đó là tạmthời hòa hoãn với quân Tưởng, chủ trương Hoa – Việt thân thiện, coi Hoakiều như dân tối huệ quốc” nhân nhượng cho quân Tưởng một loạt quyền lợi,song không để cho chúng can thiệp vào nội trị và xâm hại đến độc lập, tự docủa Tổ quốc Thực hiện sách lược hòa hoãn ấy đã đưa lại cho cách mạng thờigian rảnh tay đối phó với quân Pháp ở miền Nam, đồng thời từng bước phátan âm mưu “Diệt Cộng, cầm Hồ”, “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng GiớiThạch, bảo vệ chính quyền cách mạng Đường lối đối ngoại và đối sách củanước Việt Nam mới đã phát huy hiệu quả ngay từ buổi đầu chính quyền cáchmạng ra đời Những năm 1945-1946, cách mạng Việt Nam phải đối phó vớinhiều kẻ thù nguy hiểm Trên cơ sở xác định đúng đắn “Kẻ thù chính của talúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vàochúng”8, Đảng đã có những đối sách ngoại giao khôn khéo: lúc thì chủ trươngHoa - Việt thân thiện”, hòa với Tưởng để hạn chế hành động chống phá cáchmạng của chúng và để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp Đến khi Hoa –Pháp ký Hiệp ước Trùng Khánh (ngày 28-2-1946), Đảng quyết định hòa hoãnvới Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng về nước, thực hiện chủ trương “Hòa đểtiến” Đây là những mẫu mực về sự mềm dẻo trong sách lược và sự tài tìnhtrong lợi dụng mâu thuẫn giữa các thế lực thù địch, đưa cách mạng Việt Namvượt qua tình thế hiểm nghèo.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ, ngày
6-3-1946 và sau đó là bản Tạm ước ngày 14-9-6-3-1946 là sự lựa chọn giải pháp đối
ngoại tối ưu để bảo vệ thành quả của cách mạng, tranh thủ thêm thời gianchuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài mà Đảng biết là
không thể nào tránh khỏi Với Hiệp định Sơ bộ, đây là lần đầu tiên, người đại
diện nước Pháp là Sainteny đã phải đàm phán với đại diện của Việt Nam,công nhận đây là một bên đối thoại với tư cách bình đẳng của hai quốc gia,không còn là mối quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa nữa Pháp phải công
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.244.
Trang 10nhận Việt Nam “là một quốc gia tự do”, nghĩa là không phải một xứ tự trịnhưng cũng chưa là một nước độc lập, mặc dù Nhà nước này có “chính phủ,nghị viện, quân đội và tài chính riêng của mình” Đồng thời, Pháp được đưa
15 ngàn quân ra phía Bắc vĩ tuyến 16 trong thời hạn 5 năm Đây là sự nhânnhượng cần thiết trong bối cảnh đầy phức tạp của mối quan hệ ba bên Pháp –Hoa – Việt Chúng ta hòa với Pháp để “tránh tình thế bất lợi: phải cô lậpchiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàutrắng, bọn phản cách mạng trong nước), chúng sẽ đúc thành khối và được bọn
đế quốc Anh, Mỹ giúp sức để đánh ta…”9 Mặc dù còn những hạn chế nhất
định, nhưng việc ký Hiệp định Sơ bộ ta đã “đạt được những mục tiêu vô cùng quan trọng: Một là, Hiệp định mang tính chất văn bản pháp lý quốc tế đầu
tiên của nước Việt Nam độc lập với nước ngoài, chứng tỏ rằng, Việt Namkhông còn là thuộc địa của Pháp, nước Pháp đã thừa nhận nước Việt nam là
một nước tự chủ Hai là, biến thỏa thuận tay đôi Hoa – Pháp thành thỏa thuận
tay ba Việt - Pháp – Hoa, kết thúc vai trò của lực lượng Tưởng Giới Thạch vềmặt pháp lý trên đất nước ta, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho
cách mạng Ba là, bảo toàn thực lực, dành được giây phút nghỉ ngơi để sửa
soạn cuộc chiến đấu mới Trên tất cả, quan trọng hơn hết thảy là hòa khôngphải là lùi bước, hòa không phải là đầu hàng, không phải là thất bại, khôngnhụt ý chí chiến đấu, mà hòa là bước đệm, toàn dân tộc “không ngừng mộtphút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu””10.Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á, trước hết là đối với Lào vàCampuchia, chủ trương của Đảng là: “Thống nhất Mặt trận Việt – Miên – Làochống xâm lược” Ngày 30-10-1945, Hiệp định liên minh quân sự giữa Chínhphủ Itxala và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với Hiệp định liênquân Lào – Việt được ký kết và bắt đầu thực hiện Đối với các nước trong khuvực châu Á, Việt Nam chủ động mở quan hệ thân thiện Ngay sau khi nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ đã cử đại diện sang Băng Cốc(Thái Lan) để tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân nước này Đặc
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.49.
10 Xem: Nguyễn Thị Mai Hoa: Chính sách đối ngoại của Đảng những năm sau Cách mạng Tháng Tám, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9, 2011, tr.16.
Trang 11phái viên của Chính phủ Việt Nam đã có những cuộc tiếp xúc với đại diệnngoại giao các nước Ấn Độ, Inđônêxia, tạo cơ sở cho quan hệ giữa Việt Namvới các nước này.
Thực tế cho thấy, ngay sau khi giành được chính quyền, lập ra Nhà nướcViệt Nam mới, Đảng đã nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt độngđối ngoại trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc11 Trên cơ sở đó, Đảng đãsớm xác lập đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bao gồm các nội dung về:mục tiêu, nhiệm vụ của đối ngoại; sắp xếp lực lượng; xác định nguyên tắc,phương châm và phương pháp đấu tranh ngoại giao của cách mạng Việt Nam.Đường lối đối ngoại của Nhà nước Việt Nam mới “đã đổi mới quan hệ giữachính quốc và thuộc địa và quan hệ với láng giềng gần xa – kể cả quan hệ vớicác nước lớn, mở ra trang sử mới của quan hệ quốc tế Việt Nam”12
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động đối ngoại của Nhà nước ViệtNam mới đã mở ra cục diện đấu tranh ngoại giao, góp phần bảo vệ nền độclập dân tộc và chính quyền cách mạng non trẻ, đồng thời qua đó nâng caohình ảnh, uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Từ cuối năm 1946, thực dân Pháp ngày càng trắng trợn phá hoại Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước 14-9-1946 Chúng quyết tâm xâm lược
nước ta một lần nữa
Để chiến thắng được kẻ thù có tiềm lực mạnh hơn mình gấp nhiều lần,Đảng chủ trương tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ.Trong đó, hoạt động đối ngoại trở thành một bộ phận quan trọng của đườnglối kháng chiến toàn diện Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn kháng chiến thắng lợiphải phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế, lấy sức mạnh dân tộc làchủ yếu; phải kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao, lấy quân sự chính trị làmchủ yếu Chính sách đối ngoại của Đảng lúc này là: “Liên hiệp với dân tộcPháp, chống bọn phản động thực dân Pháp; đoàn kết với hai dân tộc Mên, Lào
và các dân tộc bị áp bức trong khối Liên hiệp Pháp; thân thiện với các dân tộc
11 Ngày 14-11-1945, thay mặt Đảng và Chính phủ, Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi Nhân tài và kiến quốc đã nhấn mạnh: “Chúng ta cần nhất bây giờ là: Kiến thiết ngoại giao; Kiết thiết kinh tế; Kiến thiết quân sự; Kiến thiết giáo dục…” (xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.114).
12 Nguyễn Phúc Luân (chủ biên): Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do 1975), Nxb Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.82.
Trang 12(1945-Tàu, Xiêm, Diến Điện, Ấn Độ, Nam Dương và các dân tộc yêu chuộng dânchủ, hòa bình trên thế giới”13.
Tháng 9-1947, khi trả lời nhà báo Mỹ S Eli Maissie về câu hỏi: “Nhữngđại cương chính sách đối ngoại của nước Việt Nam”? Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định phương hướng đối ngoại của nước ta là: “Làm bạn với tất cảmọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”14
Với cách mạng Lào – Campuchia, Đảng chủ trương phải thắt chặt tìnhđoàn kết chiến đấu trên cơ sở lấy dân tộc tự quyết làm nền tảng Đầu năm
1947, Ủy ban giải phóng Việt – Miên – Lào được thành lập, tạo cơ sở hình
thành liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược
Thực hiện chủ trương của Đảng, Việt Nam đã bước đầu mở quan hệ ngoạigiao với các nước trong khu vực Ngày 14-4-1947, cơ quan đại diện của Chínhphủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Băng Cốc chính thức đi vào hoạt động.Trong năm 1948, Việt Nam đã thiết lập cơ quan đại diện ở Miến Điện và lậpquan hệ ở những mức độ khác nhau với các nước như Ấn Độ, Pakixtan,Inđônêxia
Ngày 2-1-1950, Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc, hai bên thỏa thuậncông nhận lẫn nhau Ngày 15-1-1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộnghòa tuyên bố công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Ngày 18-1-
1950, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố công nhận Việt Nam Dânchủ Cộng hòa về mặt ngoại giao Ngay sau đó, ngày 30-1-1950, Liên Xôtuyên bố công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt ngoại giao Sau hai
sự kiện này, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Triều Tiên lần lượt tuyên
bố công nhận Việt Nam về mặt ngoại giao Đây là thắng lợi to lớn về mặt đốingoại của cách mạng Việt Nam do thực dân Pháp với dã tâm xâm lược nước
ta một lần nữa đã tìm mọi cách cô lập, bao vây, ngăn cản mọi ảnh hưởng củaChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thắng lợi này đã chấm dứt thời kỳđơn độc chiến đấu trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc Từ đây, cuộc khángchiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam trở thành một bộ phận của phong
13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.151.
14 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.37.
Trang 13trào cộng sản quốc tế Uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đượcnâng cao trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia tích cựcvào phong trào hòa bình, dân chủ của nhân dân thế giới, tranh thủ thêm sựủng hộ quốc tế về chính trị và vật chất – kỹ thuật đối với cuộc kháng chiếnchống Pháp của nhân dân ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) đã xác định nhiệm
vụ đối ngoại là phục vụ kháng chiến để tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược,đánh đổ bọn can thiệp Mỹ; chính sách ngoại giao của Việt Nam có tính dântộc, dân chủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất đất nước; ủng hộ phong tràogiải phóng dân tộc; bảo vệ hòa bình và dân chủ trên thế giới, chống bọn gâychiến; đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước dânchủ nhân dân khác; hợp tác thân thiện, tự do và bình đẳng với chính phủ vànhân dân các nước Đảng đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữacách mạng Việt Nam với cách mạng Lào và Campuchia, xác định đây là mốiquan hệ hợp tác lâu dài Tại Hội nghị liên minh ba nước trên bán đảo ĐôngDương họp tháng 9-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Việt Nam cókháng chiến thành công thì Lào, Miên mới thắng lợi; và Lào, Miên có thắnglợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi
Ngày 4-5-1954, nhận lời mời của Chính phủ Liên Xô và Chính phủTrung Quốc, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đếnGiơnevơ tham dự hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương15.Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc ngày 8-5-1954, chưa đầy 24 giờsau khi quân Pháp thất bại tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Đoàn đại biểuViệt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giaoPhạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn Tại Giơnevơ, lần đầu tiên nền ngoại giaonon trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tham gia vào một hội nghịquốc tế trong đó có đại diện của năm nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc, Pháp,Anh và Mỹ trong bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp Sau
15 Năm 1953, Liên Xô đưa ra sáng kiến triệu tập Hội nghị Giơnevơ, được 4 nước lớn thỏa thuận (vào tháng 1954), thành phần Hội nghị lúc đầu là 5 nước lớn (Liên Xô, Trung Quốc, Anh Mỹ và Pháp), mục đích Hội nhằm giải quyết hòa bình ở Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương, nhưng do thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc các nước trên phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam tại Giơnevơ.
Trang 142-75 ngày thương lượng với 31 phiên họp, trong đó có 8 phiên họp toàn thể và
23 phiên họp hẹn cấp trưởng đoàn cùng với rất nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúcsong phương và đa phương bên lề Hội nghị, các hiệp định đình chỉ chiến sựđược ký kết và các bên ra Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị vào ngày 21-7-
1954 Trong bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ đã viết: “Hộinghị tuyên bố đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề về chính trị,thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất là toàn vẹnlãnh thổ” và “Hội nghị chứng nhận tuyên bố của Chính phủ Pháp sẽ tôntrọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Cao Miên, Lào
và Việt Nam”16 Hiệp định quy định quân Pháp phải tập kết ở phía Nam vĩtuyến 17 để sau đó rút khỏi Việt Nam: “Hội nghị chứng nhận tuyên bố củaChính phủ Pháp nói rằng sẵn sàng rút quân đội Pháp khỏi Cao Miên, Lào
và Việt Nam”17 So với Hiệp định Sơ bộ năm 1946, Hiệp định Giơnevơ là
một thắng lợi lớn của Việt Nam về chính trị và ngoại giao “Lần đầu tiêntrên thế giới, một hiệp định quốc tế với sự tham gia của các nước lớn côngnhận một nước thuộc địa có các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ và dân tộc tự quyết”18 Kết quả của Hiệp định
Giơnevơ không những đã vượt qua kết quả của Hiệp định Sơ bộ, ngày
6-3-1946, mà còn vượt qua ý đồ ban đầu của Pháp và Mỹ muốn hạn chế nộidung của Hội nghị trong khuôn khổ tìm một giải pháp cứu nguy cho quânđội Pháp và duy trì lợi ích của họ ở Đông Dương Đánh giá về Hiệp địnhGiơnevơ, Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương (tháng 11-1988) đã kếtluận: “Với Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tuy ta chưa hoàn thành mục tiêugiải phóng cả nước, nhưng đã đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng: đánhbại đế quốc Pháp, giải phóng miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậuphương vững mạnh, chuẩn bị điều kiện để tiến hành cuộc kháng chiếnchống Mỹ sau này Đây là một thắng lợi vĩ đại của một nước nhỏ đánhthắng một đế quốc to, thắng lợi oanh liệt của cuộc chiến tranh nhân dân đầu
16 Xem: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.159.
17 Xem: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.159.
18 Nguyễn Thị Bình: Những thành tựu nổi bật của nền ngoại giao Việt Nam, in trong cuốn “Ngoại giao Việt
Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.36.
Trang 15tiên ở nước ta do Đảng lãnh đạo”19 “Hiệp định Giơnevơ là cơ sở pháp lýquan trọng để nhân dân ta tiến lên đấu tranh đòi thống nhất đất nước”20.
Hoạt động đối ngoại nhân dân
Đối ngoại nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám đóng vai trò quan trọngtrong việc thực hiện đường lối chính sách đối ngoại kháng chiến, trước hết làvận động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đốivới cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phương châm “làm cho nước mình
ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”
Thực hiện nghị quyết về đối ngoại của Hội nghị Tân Trào (ngày 13 đếnngày 15-8-1945) và chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, hoạt động đối ngoại nhân dân đã được tiến hành một cách chủ động, sángtạo nhằm đạt mục tiêu cách mạng là làm cho Việt Nam “độc lập hoàn toàn vàvĩnh viễn”, cô lập thực dân Pháp và quân đội của Tưởng Giới Thạch, xâydựng quan hệ thân thiện với tất cả các nước Các tổ chức nhân dân đã tiếnhành các hoạt động bày tỏ thái độ hữu nghị với các nước coi trọng nền độclập của Việt Nam, hữu nghị và hợp tác trên cơ sở bình đẳng với các nướctrong Đồng minh chống phát xít, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước thuộc địa
và nhân dân Trung Quốc, Pháp, đoàn kết với nhân dân Lào và Campuchia,tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô, Mỹ nhằm chống lại mưu đồ quay trở lạiĐông Dương của Pháp và chiếm Việt Nam của chính quyền Tưởng GiớiThạch Qua con đường đối ngoại nhân dân, Hội Việt - Mỹ thân hữu (17-10-1945) và Hội Việt - Trung thân hữu đã được thành lập Chủ tịch Hồ Chí Minhcòn quan tâm đặc biệt đến quan hệ hữu nghị với nhân dân Lào vàCampuchia21
Cuối tháng 9-1945, quân Pháp liên tiếp xâm lấn Nam Bộ và ở miền Bắcquân Tưởng không ngừng gây rối, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng,hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần thực hiện chủ trương tập trung ngọnlửa đấu tranh vào kẻ thù chính trước mắt là thực dân Pháp xâm lược, tránh
19 Nguyễn Phúc Luân (chủ biên): Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập tự do 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.149.
(1945-20 Nguyễn Thị Bình: Những thành tựu nổi bật của nền ngoại giao Việt Nam , in trong cuốn “Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.36.
21Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hoạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H 2003, tr 92-93.
Trang 16xung đột với quân Tưởng, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc nhằm làmthất bại âm mưu lật đổ của chúng Trong khi hòa hoãn với quân Tưởng, nhândân Việt Nam không ngừng tỏ rõ tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, ra sứcsản xuất chống “giặc đói”, “giặc dốt”, đồng thời tiến hành các cuộc mít tinh,biểu tình tỏ rõ thái độ quyết bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được để biểudương lực lượng Đối với quân Pháp, nhân dân ta anh dũng chiến đấu chốngcác cuộc tiến công xâm lấn của chúng ở Nam Bộ, đồng thời có thái độ ứng xửđúng đắn với kiều dân Pháp lương thiện tôn trọng nền độc lập của Việt Nam,thực hiện nghiêm túc chính sách của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phânbiệt rõ bạn, thù, phân biệt nhân dân Pháp với thực dân Pháp Nhiều cuộc míttinh, diễu hành lớn đã diễn ra nhằm ủng hộ việc Chính phủ Việt Nam đàm
phán và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) để gạt nhanh
quân Tưởng về nước, làm thất bại âm mưu phá hoại, lật đổ của chúng và bọnphản động người Việt, kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để xây dựng lựclượng cách mạng
Trong thời gian cuộc đàm phán Việt - Pháp diễn ra tại Phôngtennơbơlô(Pháp), Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đã gặp gỡ rộng rãi cáctầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội Pháp, nhiều nhà hoạt độngchính trị các nước Tây, Bắc Âu, Mỹ và các nước thuộc địa Pháp Trong cáccuộc tiếp xúc này, đoàn Việt Nam đã nêu rõ ý chí độc lập, tự do và thốngnhất, thiện chí hòa bình và hợp tác với Pháp trên cơ sở tôn trọng nền độc lậpcủa Việt Nam, đồng thời bày tỏ tình cảm hữu nghị của nhân dân Việt Nam đốivới nhân dân Pháp và nhân dân các nước khác Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếpxúc với Hội Pháp - Việt, một tổ chức hữu nghị với Việt Nam của nhữngngười Pháp tiến bộ chống lại chính sách sai lầm của chính phủ Pháp ở ViệtNam Người thường xuyên bày tỏ tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam vớinhân dân các nước Á, Phi, các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa đang đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân để giành độc lập tự do.Trên đường đi Pháp qua Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố tán thành
Trang 17sáng kiến của các nhà lãnh đạo Ấn Độ triệu tập một cuộc hội nghị liên Áchống chủ nghĩa thực dân
Trong những năm đầu kháng chiến, nước ta bị bao vây, cô lập với thếgiới bên ngoài, đối ngoại nhân dân đã khắc phục khó khăn, vận động lập được
cơ quan đại diện tại Băng Cốc (Thái Lan) và Rănggun (Mianma) vào tháng
4-1947 và tháng 2-1948 Một số phái viên được cử đi một số nước châu Á, châu
Âu, đặt thêm phòng thông tin ở Xingapo, Hồng Kông, Tân Đảo, Niu Đêli,Pari, Luân Đôn, Praha, Niu Yoóc22
Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cử một số cán bộ đi vận động quốc tế ởmột số nước như Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, Trung Quốc(căn cứ Diên An) Hồ Chí Minh gửi thư giao nhiệm vụ cho đoàn 10 cán bộ điThái Lan, Mianma (tháng 2-1948) và Trung Quốc (1950) vận động nhân dân,lập quan hệ với một số tổ chức quần chúng quốc tế và tổ chức quần chúngmột số nước
Đại biểu nhân dân Việt Nam đã dự một số hội nghị quốc tế: Hội nghịliên Á ở Niu Đêli, Ấn Độ (tháng 3-1947); Hội nghị Thanh niên dân chủ thếgiới ở Praha Tiệp Khắc (tháng 2-1948); Hội nghị nhân dân thế giới đấu tranhcho hòa bình ở Pari, Pháp (tháng 4-1949); Hội nghị Liên hiệp công đoàn thếgiới ở Milano, Italia (tháng 6-1949)…
Đầu năm 1950, sau khi Trung Quốc, Liên Xô và các nước XHCN kháccông nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta, công tác đối ngoại nhân dânnhờ đó có điều kiện phát triển sâu rộng Các hội hữu nghị với các nước xã hộichủ nghĩa bắt đầu được thành lập Một số cán bộ được cử đi công tác ở bộphận thường trực của các tổ chức dân chủ quốc tế (thanh niên, sinh viên, côngđoàm…) Nhiều đoàn đại biểu nhân dân đi thăm các nước bạn và tham dự cáchội nghị quốc tế
Tuy nhiên, đánh giá hoạt động đối ngoại nhân dân thời gian này Đại hộiđại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ II (1951) nhận định: “Do chưa nhận thức
22Sđd, tr 20.
Trang 18đầy đủ về tác dụng của ngoại giao nhân dân, ta chưa có kế hoạch tích cực,kiên quyết vượt mọi trở lực để xúc tiến ngoại giao nhân dân”23
Để khắc phục hạn chế trên, Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ đối ngoại nhân dânlà: “Mở rộng quan hệ ngoại giao nhân dân; giao thiệp thân thiện với chính phủnước nào tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại giao với các nước
đó theo nguyên tắc tự do, bình đẳng và có lợi cho cả hai bên”24; “Củng cố mối liên
hệ với nhân dân Pháp để tiến tới những hình thức phối hợp đấu tranh chống đếquốc Pháp – Mỹ, quyết liệt và phong phú hơn… đặc biệt chú trọng tham gia cáccuộc vận động lớn trên thế giới, và thắt chặt liên hệ tổ chức và hoạt động giữanhững đoàn thể của nhân dân Việt Nam với các đoàn thể của nhân dân thế giới”25.Cùng với mặt trận đoàn kết toàn dân trong nước, đã hình thành mặt trậnđoàn kết nhân dân Việt - Lào - Campuchia đấu tranh chống thực dân Phápxâm lược và mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Cuối thập kỷ 40 đầu 50, phong trào hòa bình thế giới phát triển mạnh
mẽ Ngày 19-11-1950, Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đượcthành lập tại Việt Bắc26, với đại diện nhiều tổ chức quần chúng, chính trị - xãhội, một số nhân sĩ, trí thức và đại diện các tầng lớp nhân dân Việt Nam Đây
là một trong những tổ chức chính trị - xã hội lớn đầu tiên được Đảng và Chủtịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập để hoạt động trong lĩnh vực đối ngoạinhân dân, gắn liền sự nghiệp bảo vệ hòa bình, độc lập và tự do ở Việt Namvới phong trào hòa bình thế giới Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của ViệtNam đã góp phần động viên nhân dân trong và ngoài nước, đặc biệt là ở Pháp,góp công sức kháng chiến thắng lợi và bảo vệ hòa bình thế giới Trong khiquan hệ ngoại giao chính thức của nước ta với các nước còn hẹp, các đại biểucủa Uỷ ban hòa bình Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức hòa bình
ở các nước XHCN và các nước Tây Âu sử dụng diễn đàn của Hội đồng Hòabình thế giới để nêu cao sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tranh
23 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr 147.
24 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.441.
25 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr 147.
26 Tháng 5-1988, Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đổi tên là Ủy ban hòa bình Việt Nam.
Trang 19thủ sự ủng hộ của phong trào hòa bình thế giới, nâng cao vị trí của Việt Namtrên trường quốc tế
Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức tại Việt Bắc ngày11-3-1951 đã lập ra Mặt trận đoàn kết, Liên minh nhân dân Việt Nam - Lào -Campuchia trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và hợp tác, tôn trọngquyền tự quyết, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau Tháng 9-1952, banước Đông Dương lại họp Hội nghị đoàn kết, khẳng định tăng cường quan hệhữu nghị, cùng nhau tiếp tục kháng chiến và cùng giành thắng lợi
Với nhân dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Các bạn hãy gópsức với dân tộc chúng tôi: chúng ta hãy đánh quỵ bọn thực dân Chúng ta hãycùng nhau xây dựng hòa bình, dân chủ và hòa khí giữa hai dân tộc”27 Phong
trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chính phủ Pháp chấm dứt cuộc chiếntranh ở Việt Nam diễn ra liên tục, biểu thị tình hữu nghị, đoàn kết mạnh mẽvới nhân dân Việt Nam Các hoạt động chống chiến tranh liên tiếp xảy ra, nhưđình công không sản xuất và vận chuyển vũ khí sang Đông Dương, quăng vũkhí xuống biển Sau chuyến thăm Việt Bắc của đồng chí Lêo Phighe, Ủyviên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phong trào phản chiến ở Pháp pháttriển ngày càng sâu rộng Nhất là trong thời gian tiến hành Hội nghị Giơnevơgiữa năm 1954, nhân dân Pháp đấu tranh mạnh mẽ đòi Chính phủ Pháp phảiđàm phán thật sự và sớm ký hiệp định đình chiến
Ở các nước thuộc địa của Pháp như Angiêri, Tuynidi có phong tràochống bắt lính đưa sang chiến trường Đông Dương, không chịu bốc xếp vũkhí xuống tàu đưa sang Việt Nam
Với tình cảm hữu nghị sâu sắc, nhiều cuộc biểu tình, mít tinh và hộinghị quốc tế của các lực lượng và tổ chức hòa bình, dân chủ đã thực sự lànhững cuộc biểu dương lực lượng ủng hộ nhân dân Việt Nam Các đại hộihòa bình thế giới đều có nghị quyết ủng hộ Việt Nam Đại hội Công đoànthế giới lần thứ 3 (tháng 10-1953) ở Viên (Áo) quyết định lấy ngày 19-12-
1953 làm “Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh dũng và đấu tranh đòichấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam”
27 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, T5, tr 535.
Trang 20Thực tiễn lịch sử đã hình thành một phong trào rộng lớn của nhân dânLiên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, Pháp, các dân tộc đang đấu tranhgiành độc lập ở châu Á, Phi, Mỹ Latinh, các lực lượng hòa bình, dân chủ vàtiến bộ trên thế giới nhiệt tình hoạt động hữu nghị và ủng hộ nhân dân ViệtNam kháng chiến chống thực dân Pháp Mặt trận đoàn kết quốc tế đó đã gópphần quan trọng tạo nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954
1.3 Đánh giá khái quát sự lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954)
Nhìn khái quát, hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong cuộc khángchiến chống thực dân Pháp đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vàothắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Bên cạnh những thành tựu đạt được, đối ngoại Việt Nam trongkháng chiến chống Pháp cũng bộc lộ những hạn chế như: “chưa có nhiềukinh nghiệm trong vận dụng tư tưởng độc lập, tự chủ trên mặt trận đốingoại song phương và đa phương, nhất là trong thời điểm quan hệ giữacác nước lớn đang diễn ra phức tạp… Cuộc vận động quốc tế có nhiềulúc thiên về châu Âu hơn châu Á, Đông Nam Á (sau năm 1950) Nhậnthức của ta về chiến lược của các nước có lúc còn chưa sâu, hiểu biết vềngoại giao đa phương còn hạn hẹp”28
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước sau Cáchmạng Tháng Tám 1945?
2 Đảng chỉ đạo hoạt động đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu tham khảo bắt buộc:
1 Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945- 2000 Nxb Chính trị
Quốc gia, H.2005
28 Nguyễn Phúc Luân (chủ biên): Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập tự do 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.154.
Trang 21(1945-2 Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975), thắng lợi và bài học,
- Tài liệu tham khảo không bắt buộc:
1 Chu Văn Chúc (2007), "Chính sách đối ngoại của Đảng giai đoạn
4 Vũ Dương Huân (2008), "Thông cáo 3-10-1945 về chính sách ngoại
giao - văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số (3).
5 Vũ Dương Ninh (2005), "Quan hệ đối ngoại Việt Nam trên chặng
đường 60 năm”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số (8).
6 Hoàng Bích Sơn (1986), "Về công tác ngoại giao trong cuộc kháng
chiến chống Pháp”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4).
Trang 22Chuyên đề 2 CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954-1975) MỤC TIÊU
- Kiến thức: Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về chủtrương, chính sách đối ngoại của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, có cách nhìn đầy đủ về mối quan hệ giữa đường lối đối nội với đốingoại, dân tộc và quốc tế
- Kỹ năng: Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp
tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về quan điểm, đường lối đối ngoạicủa Đảng trong cuộc kháng chiến chống chống Mỹ, cứu nước; biết vận dụngkiến thức được trang bị để phân tích, đánh giá chủ trương, chính sách đốingoại của Đảng và Nhà nước hiện nay
-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoahọc vào sự đúng đắn về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhànước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong thời kỳ đổimới hiện nay; tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức sai trái
NỘI DUNG 2.1 Tình hình quốc tế và trong nước sau năm 1954
2.1.1 Tình hình quốc tế
Thuận lợi
Liên Xô hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1955), lớn mạnh khôngngừng cùng với hệ thống XHCN Năm 1953 Liên Xô sản xuất được vũ khíkhinh khí, đến tháng 10 năm 1957, sản xuất được tên lửa vượt đại châu, đãphá vỡ tình trạng Mỹ là nước duy nhất sản xuất được loại vũ khí này Các tênlửa tầm trung mà Mỹ bố trí ở các nước đồng minh của Mỹ ở gần Liên Xô đãtrở nên kém hiệu quả, giảm tác dụng, nước Mỹ không còn an toàn nữa Chiếnlược quân sự “trả đũa ồ ạt” của Ai-xen-hao bị đảo lộn Trong khi đó, hàngloạt sự kiện quốc tế khác đang gây bất lợi cho CNĐQ do Mỹ đứng đầu:
Trang 23- Xu hướng li tâm khỏi Mỹ của các nước Tây Âu do Đờ-Gôn khởixướng đang phát triển.
- Các nước XHCN ở Đông Âu dưới sự giúp đỡ của Liên Xô đang trên
- Tháng 12 năm 1953 Ấn Độ nhận viện trợ của Liên Xô, sau đó từ chốinhận viện trợ quân sự của Mỹ và ra tuyên bố thu hồi 4 thành phố thuộc địacủa Pháp mà Mỹ đang có ý định thay thế
- Có sức lan toả của chiến thắng Điện Biên phủ, tháng 8 năm 1954, Mặttrận giải phóng dân tộc An-giê-ri phát động khởi nghĩa và chiến tranh du kích,Pháp đưa 400.000 quân viễn chinh sang đàn áp nhưng chịu thất bại Tháng 3năm 1957 Pháp buộc phải ký Hiệp định Eviăng và rút quân khỏi An-giê-ri
- Tháng 3 năm 1957, Ga-ma, nước châu Phi đầu tiên tuyên bố độc lập.Ngày 1-1-1959, cách mạng Cu Ba giành thắng lợi trong cả nước, tháng 5 năm
1960 tuyên bố đứng vào hệ thống các nước XHCN
Phong trào độc lập dân tộc và xu hướng lên CNXH phát triển mạnh mẽtrên tất cả các châu lục làm phân tán lực lượng của CNĐQ, tăng sức cổ vũ choCMMN, hỗ trợ tích cực cho sự nghiệp CMXHCN
Sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, phong trào trung lập pháttriển trong các nước dân tộc chủ nghĩa do giai cấp tư sản lãnh đạo Khối trunglập châu Á gồm các nước Ấn Độ, Xri-lan-ca, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện vàPakistan tuyên bố thành lập, họp ở Cô-lôm-bô lên tiếng đòi Mỹ đình chiến ởĐông Dương, đòi cấm vũ khí nguyên tử và lên án chủ nghĩa thực dân Tháng
12 năm 1954, khối này họp mở rộng ra 29 nước Á, Phi tham gia Hội nghị ratuyên bố 10 nguyên tắc hoà bình
Trang 241.1.2 Khó khăn
Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ tiến hành hàng loạt cácbiện pháp để củng cố vai trò siêu cường số một của mình Mỹ từng bước hấtcẳng đế quốc Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan để chiếm lấy thuộc địa của cácnước này, mở rộng thị trường, ngăn ngừa sự phát triển của CNCS; Lập hệthống tiền tệ, lấy đồng đô la làm trụ cột; Chạy đua vũ trang, sản xuất vũ khínguyên tử làm cho Liên Xô suy yếu do phải chạy theo Mỹ; Xuất khẩu mạnh
vũ khí, tập hợp đồng minh, lập ra các tổ chức kinh tế, tài chính, quân sự khiếncác nước đế quốc khác lệ thuộc vào Mỹ Ở Đông Dương, Mỹ tổ chức ra Hiệpước Đông Nam Á (SEATO), đặt MNVN, Lào, Cam-pu-chia trong ô bảo hộcủa Mỹ, ngăn chặn CNCS tràn qua vĩ tuyến 17 và phát triển ở khu vực này
Trong khoảng 10 năm sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ đã thiết lậpđược sự thống trị đối với Tây Âu, Nhật Bản và hầu như toàn bộ thế giới tưbản Mỹ nung nấu tham vọng về một “Đại thế kỷ Mỹ”
Trong thời gian này xuất hiện sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc
tế và hệ thống XHCN (vào những năm cuối thập kỷ 50) Nổi lên quyết liệt nhất
là mâu thuẫn giữa Liên Xô với Trung Quốc (hai nước lớn trong hệ thốngXHCN và có vai trò giúp đỡ to lớn nếu chiến tranh Việt Nam - Mỹ xảy ra)
Trong các điểm nóng trên thế giới, Mỹ chọn Việt Nam là trọng điểm vì:Việt Nam đang là một điểm sáng trong phong trào đấu tranh giành độc lậpdân tộc; Mỹ có nhiều lợi ích chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế,…do
đó Việt Nam trở thành nơi đụng đầu lịch sử Thắng ở Việt Nam, Mỹ hy vọng
sẽ dẹp được phong trào độc lập dân tộc trên thế giới, ngăn chặn có hiệu quảphong trào cộng sản chủ nghĩa
Trước tiềm lực kinh tế, quân sự rất mạnh của Mỹ, nhiều nước trên thếgiới mang tâm lý phổ biến là sợ Mỹ, phục Mỹ Theo họ, Việt Nam sẽ nhanhchóng bị sức mạnh Mỹ đè bẹp
Bối cảnh thế giới trên, đặt cho Đảng ta vấn đề: Làm thế nào để tranhthủ đến mức cao nhất chỗ mạnh của ba dòng thác cách mạng? Làm sao đểtranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân thế giới, hạn chế các nhân tố tiêu cực,
… ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam
Trang 252.1.2.Tình hình trong nước
Thuận lợi
- Lực lượng cách mạng đã lớn mạnh hơn rất nhiều so với thời kỳ 1945 – 1954
- Quyền làm chủ thuộc về nhân dân, có Đảng lãnh đạo, khí thế cáchmạng của cả nước đang lên cao
- Có điều kiện quốc tế thuận lợi
1.2.2 Khó khăn cơ bản của ta
- Lực lượng cách mạng tại chỗ của miền Nam mỏng, phải rút vào hoạtđộng bí mật và ở thế giữ gìn lực lượng
- Miền Bắc được giải phóng nhưng chưa được củng cố để trở thành hậuphương lớn vững chắc cho cách mạng miền Nam
- Hậu quả xã hội thuộc địa, phong kiến và sự tàn phá sau 9 năm chiếntranh chống Pháp rất nặng nề
- Nền kinh tế miền Bắc là nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ, trình
2.2 Chủ trương và chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Để đối phó với các âm mưu và hành động của Mỹ, ngày 5-9-1954, Bộ
Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới của Đảng Nghị quyết
nêu rõ mục tiêu chính sách đối ngoại của Việt Nam là: "Chống chính sáchchiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á,củng cố hòa bình ở Đông Dương, bảo vệ hòa bình Đông Nam Á và toàn thế
Trang 26giới”29 Đảng chủ trương: đối với Pháp cần tiếp tục hình thức thương lượng vàđàm phán để điều chỉnh, tránh quá căng thẳng gây tan vỡ; mở rộng quan hệvới các nước như Ấn Độ, Nam Dương ; phát triển và củng cố tình hữu nghịvới Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ nhân dân khác.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) xác định nội dung cơ bảnchính sách ngoại giao của Việt Nam là: "Tiếp tục tăng cường sự đoàn kết nhấttrí giữa nước ta và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứngđầu”30; đối với các nước láng giềng, Việt Nam "mong muốn xây dựng và pháttriển mối quan hệ tốt trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau vàkhông can thiệp vào nội bộ của nhau Chúng ta sẵn sàng đặt quan hệ hữunghị với tất cả các nước khác trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi”31; điđôi với việc xây dựng và tăng cường quan hệ với chính phủ, mở rộng quan hệhữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước
Đảng khẳng định mục tiêu ngoại giao là "bảo đảm thắng lợi cho sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp thống nhấtnước nhà”32
Cuối năm 1963, tình hình cách mạng thế giới có những thay đổi nhanhchóng theo hướng có lợi cho nhân dân các nước, hệ thống xã hội chủ nghĩa
thế giới được thành lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai không ngừng lớn
mạnh và thu được nhiều thắng lợi quan trọng Ở trong nước, quân và dânmiền Nam đã vượt qua khó khăn, làm thất bại từng bước chiến lược “chiếntranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ Trước tình hình đó, tháng 12-1963, tại HàNội, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ chín thông qua hai Nghị
quyết quan trọng: Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng tavà Nghị quyết Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi ở miền Nam
Trong bản Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta,Trung ương Đảng đã phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung,
tính chất của thời đại, từ đó khẳng định: lực lượng so sánh trên thế giới ngày
29 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.15, tr 304.
30 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.21, tr 625.
31 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.21, tr 625.
32 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.21, tr 627.
Trang 27càng thay đổi có lợi cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội,không có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, cao trào cách
mạng xuất hiện sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đang phát triển mạnh mẽ và
liên tục
Nghị quyết Hội nghị khẳng định những biến chuyển quan trọng trong
phong trào cách mạng thế giới Một là, từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ
hai là lực lượng cách mạng tiến công liên tục vào chủ nghĩa đế quốc, đãhình thành, củng cố và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa bao gồmmười ba nước là Anbani, Ba Lan, Bungari, Cuba, Cộng hoà Dân chủ Đức,Hungari, Liên Xô, Mông Cổ, Rumani, Tiệp Khắc, Triều Tiên, Trung Quốc
và Việt Nam Hai là, quá trình sụp đổ nhanh chóng của hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc dưới những đòn phản kích mãnh liệt của phong
trào giải phóng dân tộc Balà, hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới mà thành
trì là phe đế quốc chủ nghĩa đứng đầu là đế quốc Mỹ đang ở trong quátrình suy yếu và khủng hoảng sâu sắc
Từ việc phân tích trên, Hội nghị đi đến nhận định rằng: “Mục tiêu cuối cùng của phong trào cộng sản quốc tế là làm cách mạng đánh đổ toàn bộ chủ
nghĩa đế quốc, xoá bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột trong xã hội loài người, thựchiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới” Đểthực hiện mục tiêu ấy, cần tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủnghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế, tăng cường đoàn kết giai cấpcông nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và các lực lượng hoàbình và dân chủ khác trên thế giới chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc hiếuchiến và xâm lược, giành độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tiếntới thực hiện một thế giới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Đồng thời, Hội nghị cũng đã khẳng định lại tinh thần của hai bản Tuyên
bố Mátxcơva năm 1957 và năm 1960 về những nhiệm vụ lớn của phong tràocộng sản quốc tế Để bảo đảm hoàn thành những nhiệm vụ lớn đó, Hội nghịchỉ ra nhiệm vụ của Đảng Lao động Việt Nam trong việc cùng với các đảngmácxít - lêninít anh em bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin,
Trang 28chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩabiệt phái
Về chủ trương và nhiệm vụ quốc tế của Đảng, Hội nghị chỉ rõ: góp phầnkhôi phục và tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa vàphong trào cộng sản quốc tế; tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộccủa nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh; tích cực ủng hộ phong trào đấutranh vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân cácnước tư bản chủ nghĩa; góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới
Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định cần phải tiến hànhnhững công tác cấp bách sau:
- Tăng cường việc giáo dục chính trị, làm cho cán bộ và đảng viên thấmnhuần hơn nữa đường lối của Đảng ta về cách mạng Việt Nam, hiểu rõ lậptrường, quan điểm của Đảng về những vấn đề chiến lược của phong trào cộngsản quốc tế và nhiệm vụ quốc tế của Đảng
- Ra sức cải tiến và tăng cường công tác đối ngoại của Đảng và của Nhànước, bảo đảm cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta làm tốt hơn nữa nhiệm vụquốc tế của mình là góp phần khôi phục và tăng cường sự đoàn kết nhất trítrong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế, góp phầntăng cường lực lượng về mọi mặt của phe xã hội chủ nghĩa; tích cực ủng hộphong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh vàphong trào đấu tranh vì dân chủ và chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân vànhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa; tích cực bảo vệ hoà bình ở ĐôngNam Á và thế giới
Đường lối đối ngoại đúng đắn thể hiện trong Nghị quyết đã hạn chế mứctối đa những hậu quả tiêu cực của thực trạng chia rẽ, bất đồng trong phe xã hộichủ nghĩa và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ về vật chất và tinh thần củacác nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân thế giới, đưa cuộc kháng chiến đếnthắng lợi
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và Hội nghị lần thứ 12 BanChấp hành Trung ương Đảng khóa III, quân và dân cả nước ta đã giành được
những thắng lợi to lớn về mọi mặt Nhưng đế quốc Mỹ ngoan cố, một mặt tiếp
Trang 29tục tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh, hòng đánh mạnh thắng
nhanh về mặt quân sự, mặt khác tăng cường những thủ đoạn ngoại giao xảo
quyệt Đầu năm 1967, những thắng lợi mới của nhân dân ta ở trên cả hai miềnđất nước đã tạo ra những khả năng mới để đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao,tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ
Mỹ, cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ Từ ngày 23 đến ngày 27 - 1 - 1967, BanChấp hành Trung ương (khóa III) họp Hội nghị lần thứ mười ba Sau khi nghebáo cáo về tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân
ta từ sau Hội nghị lần thứ 12,Hội nghị thông qua Nghị quyết Về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.Hội nghị dự đoán những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong thời gian tới và nhận định: “Năm 1967-1968, đặc biệt là năm
1967, cuộc chiến đấu giữa ta và địch sẽ diễn ra rất gay go, quyết liệt Địch cố
giành thắng lợi quân sự và mong tạo cái thế vững vàng cho chúng để làm hậuthuẫn cho một giải pháp chính trị đi đến kết thúc chiến tranh một cách có lợicho chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để khi cần thì kéo dài chiến tranh”
Từnhận định trên, Hội nghị khẳng định:“Chủ trương của Đảng ta là trên cơ
sở nắm vững phương châm đánh lâu dài, cần phải động viên và tập trung lực lượng của cả nước, cố gắng cao độ, đập tan âm mưu của địch, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài hoặc mở rộng ra cả nước” "Đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta
cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt trận đấu tranh đó
để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”33 Nghị quyết Hội nghị đã vạch rõ vị trí củatừng hình thức đấu tranh: đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miềnNam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở chothắng lợi trên mặt trận ngoại giao Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉđơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc
tế hiện nay với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giaogiữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động Hội nghị nhận định chúng ta
33Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.28, tr 174.
Trang 30tiến công địch về mặt ngoại giao bây giờ là đúng lúc, vì ta đã và đang thắngđịch, thế của ta là thế mạnh
Trong đấu tranh ngoại giao, Đảng yêu cầu nắm vững các phương châm:
"- Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta;
Để đạt được mục đích đó, phương châm và phương pháp đấu tranh ngoạigiao là: "Cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo,nhằm khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc khác, phân hóanội bộ bọn cầm quyền Mỹ, cô lập bọn hiếu chiến ngoan cố nhất, làm tan rã tinhthần ngụy quân, ngụy quyền và làm hoang mang tinh thần quân Mỹ, quân chưhầu, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trịcủa miền Nam giành thắng lợi lớn Chúng ta cần ra sức phấn đấu để tranh thủhơn nữa dư luận thế giới ủng hộ những mục tiêu phấn đấu của ta là bảo vệmiền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”35
Nội dung cơ bản của Nghị quyết thể hiện đường lối độc lập, tự chủ vàchủ động tiến công địch trên mặt trận đối ngoại; khẳng định đấu tranh ngoạigiao giữ một vai trò quan trọng, tích cực Nghị quyết Hội nghị Trung ươnglần thứ 13 có ý nghĩa như một cương lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng,nhằm góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi Thực tế chothấy, đây là lần đầu tiên Đảng khẳng định đấu tranh ngoại giao là một mặt
34 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.28, tr 174.
35 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, t.28, tr 175.
Trang 31trận Mặt trận ngoại giao cùng với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, tạonên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù Dưới ánh sáng của Nghị quyếtHội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương khóa III, cuộc đấu tranh trênmặt trận ngoại giao ngày càng mở rộng, phối hợp chặt chẽ và tích cực chocuộc đấu tranh chính trị và quân sự, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của
sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968
đã mở ra cục diện mới, cục diện "vừa đánh vừa đàm” Ngày 13-5-1968, ViệtNam và Mỹ chính thức mở cuộc đàm phán tại Pari Và, phải đến lúc cuộc tậpkích chiến lược trên không của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng (từ ngày 18 đến
ngày 30-12-1972) bị đánh bại hoàn toàn, Mỹ mới buộc phải ký Hiệp định Pari (27-1-1973) Với Hiệp định này, Mỹ phải "chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; trong đó, thắng lợi quan trọng nhất của ta làquân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam ViệtNam, còn quân chủ lực của ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên so sánh lực lượngmới có lợi cho ta kể từ 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”36
Như vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa thắng lợi trên chiến trường với
cuộc đấu tranh quyết liệt trên bàn đàm phán đã dẫn đến thắng lợi của Hội nghị Paris.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, để thực hiện mục tiêu hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất Tổ quốc, vấn đề kết hợp đấu tranhngoại giao với đấu tranh quân sự và chính trị buộc đối phương thi hành Hiệpđịnh trở thành bộ phận quan trọng của cách mạng Việt Nam Vì vậy, tháng 5-
1973, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về đấu tranh thi hành Hiệp định Nhiệm vụđối ngoại cơ bản được xác định là:
"- Phối hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đấu tranh thi hành
Hiệp định Paris, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng.
- Chống sự dính líu và can thiệp của Mỹ, cô lập chính quyền Sài Gòn
- Tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới
36 Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, H, 1996, tr.90.
Trang 32- Đẩy lùi khả năng Mỹ ngăn cản ta giải phóng hoàn toàn miền Nam”37.Đến cuối năm 1974, do sự chống phá của chính quyền Sài Gòn, cơ chế
thực hiện Hiệp định Paris đình chỉ hoạt động Nhiệm vụ đối ngoại đặt ra là:
theo dõi, đánh giá khả năng Mỹ có thể trở lại can thiệp bằng quân sự haykhông và ngăn chặn khả năng đó, tức là phục vụ tổng tiến công "đánh chongụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
- Hoạt động đối ngoại nhân dân
Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoạt động đốingoại nhân dân góp phần đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ (1954-1956) Nghị quyết số 07/NQ-TW của Trung ương Đảng, ngày 10-4-1956khẳng định: “Muốn thực hiện đầy đủ chính sách đối ngoại của Đảng, cầnphải chú ý hoạt động trên hai mặt: Một mặt, Chính phủ ta với chính phủ cácnước, một mặt nhân dân ta với nhân dân các nước” Vì vậy, Đảng chủtrương thành lập Ban Hoạt động quốc tế - một cơ quan chuyên trách giúpTrung ương theo dõi và quản lý hoạt động đối ngoại nhân dân của các đoàn
thể nhân dân, nhằm “tăng cường chỉ đạo và phối hợp các hoạt động quốc tế của các đoàn thể nhân dân nhằm củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân các nước đối với cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân ta, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới”.
Quán triệt chủ trương của Đảng, thời kỳ này, nội dung, phương pháp vàhình thức vận động quốc tế cũng như đấu tranh ngoại giao rất đa dạng
Về hình thức, ngoài việc ra bản tin, sách báo, phát thanh, phim ảnh, chútrọng vận động cá nhân, gặp mặt, hội nghị hội thảo trong và ngoài nước, tốcáo tội ác của Mỹ - nguỵ bằng người thật việc thật, còn vận động thông quacác diễn đàn nhân dân quốc tế và ở một số nước cũng như quan hệ giữa các tổchức quần chúng, hội hữu nghị, tổ chức nhân đạo và quan hệ kết nghĩa địaphương giữa nước ta và một số nước
Các hoạt động đối ngoại nhân dân trong giai đoạn này tập trung thựchiện hai nhiệm vụ chiến lược là góp phần xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu
37 Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb CTQG, H, 2005, tr.270.
Trang 33tranh hòa bình thống nhất đất nước Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của ViệtNam tích cực hưởng ứng các họat động bảo vệ hòa bình như hưởng ứngTuyên bố Berlin đòi 5 nước lớn ký Công ước hòa bình (1955), tham gia Hộinghị thế giới chống bom A-H đầu tiên ở Nhật Bản (8-1955, bày tỏ sự nhiệttình của nhân dân ta ủng hộ các sáng kiến hòa bình của các nước XHCN đoànkết với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ủng hộ 5 nguyên tắc cùng tồntại hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước Khi Mỹđẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam, năm 1962 Uỷ ban đã tổ chứcĐại hội hòa bình lần thứ tư, quán triệt nhiệm vụ đẩy mạnh phong trào hòabình, đánh thắng chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Uỷ ban đã phốihợp với các đoàn thể quần chúng vận động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình vàủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứunước của nhân dân ta, từng bước góp phần vận động hình thành trên thực tế mặttrận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam đã cử đại biểu tiếp xúc với đạidiện phong trào hòa bình Mỹ, tạo điều kiện cho việc vận động nhân dân tiến bộ
Mỹ ủng hộ nhân dân Việt Nam, hình thành phong trào phản chiến đòi chính phủ
Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và tội tác ở Việt Nam Hội đồng hòabình thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động đoàn kết với Việt Nam, coi đây lànhiệm vụ hàng đầu của phong trào hòa bình thế giới Các đại hội của Hội đồngđều có nghị quyết ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam
Theo chủ trương của Đảng, ngày 19-10-1956, Ủy ban đoàn kết của ViệtNam được thành lập (đến năm 1958 đổi tên thành Uỷ ban đoàn kết nhân dân Á -Phi; tháng 8-1984 đổi thành Ủy ban đoàn kết, hợp tác Á - Phi - Mỹ Latinh) và đãtích cực tham gia các hoạt động của tổ chức này,dự các hội nghị quốc tế do Tổchức đoàn kết nhân dân Á - Phi và các Uỷ ban đoàn kết nhân dân Á - Phi cácnước, đồng thời lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Á - Phi -
Mỹ Latinh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân, giành và bảo vệ độc lập chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ Để tăng cường đoàn kết với nhân dân một số nước,một số ủy ban đoàn kết song phương của Việt Nam cũng được thành lập: Ủy banViệt Nam đoàn kết với nhân dân Palestine, với nhân dân El Sanvadore, với nhân
Trang 34dân Chile, với nhân dân Lybia, Uỷ ban Việt Nam ủng hộ hòa bình thống nhấtTriều Tiên
Hoạt động hữu nghị nhân dân tập trung vào việc góp phần tăng cườngquan hệ với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN Đông Âu vàcác nước độc lập dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ để khắc phục hậuquả chiến tranh ở miền Bắc, vận động quốc tế ủng hộ nhân dân ta đấu tranhđòi Pháp và Mỹ thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ
Từ năm 1960, cuộc kháng chiến ở miền Nam bước vào giai đoạn mới,ngày càng phát triển lớn mạnh và quyết liệt Phong trào hữu nghị giữa nhândân Việt Nam với nhân dân các nước cũng phát triển theo xu thế đó, hỗ trợcho cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường và sau này cho cảcuộc đấu tranh trên bàn đàm phán với Mỹ Tháng 2-1963, Ban công tác quốc
tế nhân dân được thành lập (tháng 8-1974 đổi thành Ban Quốc tế nhân dân).Mục đích của việc thành lập tổ chức này là nhằm tăng cường chỉ đạo và phốihợp hoạt động quốc tế của các đoàn thể nhân dân; củng cố và phát triển tìnhhữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước; tranh thủ sự đồngtình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ củanhân dân ta
Thực hiện chủ trương của Đảng về đối ngoại nhân dân, trong khángchiến chống Mỹ, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống
Mỹ, cứu nước đã hình thành trên thực tế từng bước, bắt đầu phát triển sâurộng khi Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ thất bại (1963-1964).Trong lịch sử thế giới, thật hiếm có một cuộc đấu tranh của một dân tộc nàonhận được sự ủng hộ rộng rãi và mạnh mẽ của nhân dân thế giới như cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và trong nhiềunăm, vận mệnh của dân tộc ta lại gắn liền với vận mệnh của các dân tộc yêuchuộng hòa bình, tự do và công lý như vậy Nhiều lực lượng khác nhau ởnhiều nước trên khắp năm châu từ người dân bình thường đến các nhà hoạtđộng chính trị, nghị sĩ, trí thức, nhà báo, từ các tổ chức quần chúng, tổ chức
xã hội đến các đảng phái chính trị và cả một số chính phủ đã lên án Mỹ xâmlược và ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Nam với một tinh thần bền bỉ,lòng mong mỏi và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam
Trang 35Hình thức ủng hộ và đoàn kết phong phú đa dạng như: mít tinh; biểu tình; rabản tin, sách báo, phát thanh, nói chuyện, hội thảo, quyên góp ủng hộ về vậtchất; lập ra các ủy ban đoàn kết với Việt Nam ở nhiều nước; tự thiêu để phảnđối chiến tranh xâm lược của Mỹ, tự nguyện làm công tác thông tin, vận độngủng hộ Việt Nam; thậm chí gửi thư tình nguyện đến Việt Nam để chiến đấuchống Mỹ… Có ít nhất 10 vụ tự thiêu để phản đối chiến tranh xâm lược ViệtNam của Mỹ.
Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với nhân dân Việt Namchống Mỹ là một phong trào quốc tế rộng lớn và hiếm có trong lịch sử thếgiới Từ phong trào này, một “thế hệ Việt Nam” đã ra đời ở nhiều nước Trong bối cảnh quốc tế phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta, nhất là mâuthuẫn Xô - Trung sâu sắc và bất đồng nghiêm trọng trong phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, công tác đối ngoại nhân dân đã cùng với công tác đốingoại Đảng và ngoại giao Nhà nước khắc phục khó khăn, phát huy tự lực tựcường và đoàn kết quốc tế, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ về chính trị vàgiúp đỡ về vật chất của nhân loại tiến bộ, góp phần kết hợp sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại đưa công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đếnthắng lợi
2.3 Những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
2.3.1.Kiên trì mục tiêu chiến lược đi đôi với vận dụng linh hoạt sách lược
- Thấm nhuần tư tưởng của HCM về công tác đối ngoại và đấu tranh ngoại giao là: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì mục tiêu chiến lược lúc này là hoà bình, thống nhất, ĐLDT và CNXH, cái bất biến là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
- Trong hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao luôn quán triệt tư tưởng tiến công, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách lược, biết nhân nhượng thoả hiệp trên những vấn đề thứ yếu để giành cho kỳ được mục tiêu cơ bản Quá trình đó phải biết giành thắng lợi từng bước để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Trang 36Ví dụ: Đấutranh trên bàn tại Hội nghị Pari, mặc dù diễn ra 202 phiên họpchính thức và hàng trăm cuộc gặp riêng và tiếp xúc bí mật nhưng mục tiêu bất
di bất dịch của ta là : Mỹ đưa quân xâm lược VN, nên muốn chấm dứt chiếntranh thì Mỹ phải rút quân khỏi VN Kết quả đấu tranh tại Hội nghị đạt được
là: Quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại.
Sách lược khồn khéo, nhân nhượng khi cần thiết:
+ Đấu tranh đòi Mỹ tiến hành đàm phán để kết thúc chiến tranh: Ban đầu
ta đưa ra điều kiện Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc némbom MB, sau đó (đầu tháng 4/1968) Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trộ
ra, ta chấp nhận đàm phán
+ Sau khi thất bại trong tập kích B52 vào HN, HP, Mỹ rơi vào thế thấtbại thảm hại, nhưng ta không đưa ra những đòi hỏi cao hơn trọng bản dự thảoHiệp định đã được thoả thuận vào tháng 10/1972
+ Trong Hiệp định ta chấp nhận ởMN cổ 2 chính quyền, 3 lực lượng và 2vùng (chấp nhận tồn tại của chính quyền Thiệu, lực lượng của bọn tay sai vàvùng của địch chiếm đóng)
2.3.2 Biết lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kè thù và thực hiện phương chăm thêm bạn bớt thù
- Thực hiện nhất quán chính sách thêm bạn bớt thù, Đảng ta luôn chú ý
và khéo lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch, phân hoá, tranh thủ những lực lượng
có thể tranh thủ và cổ lập cao độ kẻ thù chủ yếu để đánh thắng chúng Tại Đại
hội Đảng III, Đảng ta chỉ rõ: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch “là một nguyên tắc chiến lược chứ không chỉ là vấn đề sách lược”.
- Đảng ta đã có nhiều chủ trương và biện pháp khéo léo nhằm khoét sâu
và lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù như mâu thuẫn giữa ĐQM vớicác đế quốc đổng minh củ họ; giữa phái chủ chiến với phái chù hoà, giữa cáctập đoàn có lợi ích khác nhau trong giới cầm quyền Mỹ; giữa Mỹ với cácnước phụ thuộc, giữa Mỹ và chíhh quyền tay; mâu thuẫn giữa nhà cầm quyền
Mỹ với các tầng lớp nhân dân Mỹ Khẩu hiệu của chúng ta là: "Đoàn kết bất
cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập, cốt nhằm phân hoá kẻ
Trang 37thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiêm thêm nhiều bạn ca trong và ngoài nước".(Một số VKcủa Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Tl, tr75-76)
2.3.3 Có chủ trương mêm dẻo, linh hoạt trong tập hợp lực lượng, giữ nghiêm nguyên tắc và có sự kết hợp chặt chẽ các nguyên tắc.
- Một trong những thành công về vấn đề này là Đảng đã đề ra đúng lúc
mục tiêu: “ thực hiện một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoàn bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà".Đặt mục tiêu "miền Nam hoà bình và trung lậplà một chủ trương mềm dẻo của Đảng ta nhằm tập
hợp mọi lực lượng, mọi người yêu nước chống Mỹ-Diệm Với mục tiêunày, ta hạn chế cuộc đấu tranh ở MN trong phạm vi dân tộc chống đế quốc
và gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta với cuộc đấu tranh vì HB,ĐLDT,DCtrên thế giới
- Chủ trương mềm dẻo này đã góp phần to lớn trong việc tập hợp mọi lựclượng yêu nước tiến bộ ở trong nước và tranh thủ được rộng rãi sự ủng hộ quốc tế
- Nhân dân ta phân biệt rõ ràng bạn thù, luôn coi nhân dân Mỹ là bạn,cũng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược, chia sẻ nỗi đau thương mất mátvới họ Ta tìm mọi hình thức cơ hôi để cảm hoá và tranh thủ họ đứng về phíanhân dân VN chống lại cuộc chiến tranh phi nghía, tàn bạo do nhà cầm quyền
Mỹ tiến hành Chinh sách và việc làm nhân nghĩa của ta đã thức tỉnh, layđộng lương tâm nhân dân Mỹ, góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến pháttriển ngày càng rộng lớn và mạnh mẽ trong lòng nước Mỹ
2.3.4 Phối hợp chặt chẽ các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao trong hoạt động đối ngoại.
- Nghị quyết BCHTW lần thứ 13 (1/1967) chỉ rõ:
“Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết đinh thắng lơi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ cố thể giành thắng lợi trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta giành được trên chiêh trường Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chìêh trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay đối với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động
của nó ”
Trang 38Kinh nghiệm cho thấy, có phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng đấu tranh ngoạigiao với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị; kết hợp cuộc chiến đấu trênchiến trường với cuộc đấu tranh trên trường quốc tế mới đánh vào chỗ yếu
nhất của chiến lược chiên tranh của ĐQM là về chính trị.Hiệu quả của đấu
tranh ngoại giao mới góp phần tạo thêm thê và lực cho cuộc đấu tranh Điều
đó thể hiện rất ro trong giai đoạn mở ra cuc diên “vừa đánh vừa đàm”
3.5 Nắm vững xu hướng phát triển của quốc tế, kết hợp chặt chẽ mục tiêu dân tộc với mục tiêu chung của cách mạng thế giới.
- Nhận thứcchấp nhận đánh Mỹ, là một cuộc đối đầumang tính thời đại,
một tiêu điểm cùa cuộc đấu tranh quyết liệt giữa thế lực phản cách mạng doĐQM cầm đầu và thế lực cách mạng do phe XHCN làm nòng cốt.Nhân dân
VN chẳng những chiến đấu vì lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còngánh vác một sứ mệnh do lịch sử giao phó là người chiến sĩ xung kích trongcuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới chống CNĐQ vì HB,ĐLDT,DC
và TBXH
- Chính ta kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu, lợí ích của dân tộc với mụctiêu và lợi ích của cách mạng thế giới, gắn liền sự nghiệp chính nghĩa củamình với những trào lưu cách mạng của thời đại nôn đã kết hợp sức mạnh dântộc với sức mạnh của thời đại, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp để đánhthắng Mỹ
- Trong dường lối của Đảng luồn giương cao ngọn cờ ĐLDT và CNXH
ở 2 míển, với chù trương kiém chế và đánh thắng Mỹ ò MN và cố gắng hạn
chế không gian chiến tranh ở VN để giữ gìn an ninh cho hê thống XHCN vàbảo vệ hoà bình thế giói Ta đã kết hợp chạt chỗ cách mạng VN với các xu thếcủa thời đại; đổng thời gắn líển những mục tiêu trước mắt của cuộc khángchiến vớí chiến lược chung của cách mạng thế giới, trong đò nhiệm vụ bảo vệ
HB được đặt lén hàng đầu Việc thực thi đường lốì dó cùng với thắng lợi từngbước giành được trong quá trình đánh Mỹ đã có sóc thuyét phục và tranh thủđược sự đổng tình sâu sắc, sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của các lực lượngcách mạng và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trênthế giới
Trang 39CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Chủ trương và sự chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước?
2 Kinh nghiệm trong lãnh đạo đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu tham khảo bắt buộc:
1 Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945- 2000 Nxb Chính trị
- Tài liệu tham khảo không bắt buộc:
1 Chu Văn Chúc (2007), "Chính sách đối ngoại của Đảng giai đoạn
4 Vũ Dương Huân (2008), "Thông cáo 3-10-1945 về chính sách ngoại
giao - văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số (3).
5 Vũ Dương Ninh (2005), "Quan hệ đối ngoại Việt Nam trên chặng
đường 60 năm”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số (8).
6 Hoàng Bích Sơn (1986), "Về công tác ngoại giao trong cuộc kháng
chiến chống Pháp”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4).
Trang 40Chuyên đề 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG THỜI KỲ CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐỔI
MỚI,HỘI NHẬP QUỐC TẾ (1975-2011)
MỤC TIÊU
- Kiến thức: Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về chủtrương, chính sách đối ngoại của Đảng trong thời kỳ cả nước quá độ lênCNXH, đổi mới và hội nhập quốc tế; có cách nhìn đầy đủ về mối quan hệgiữa đường lối đối nội với đối ngoại, dân tộc và quốc tế
- Kỹ năng: Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp
tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về quan điểm, đường lối đối ngoạicủa Đảng trong thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH, đổi mới và hội nhập quốctế;; biết vận dụng kiến thức được trang bị để phân tích, đánh giá chủ trương,chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước hiện nay
-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoahọc vào sự đúng đắn về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhànướctrong thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH, đổi mới và hội nhập quốc tế;;tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức sai trái
NỘI DUNG 3.1.Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng trong 10 năm đầu cả nước quá độ lên CNXH (1975-1985)
3.1.1 Hoàn cảnh lịch sử
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dânViệt Nam, chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới được mở rộng Tuy nhiên, lúcnày trong hệ thống xã hội chủ nghĩa tình hình diễn biến phức tạp: mâu thuẫngiữa Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục gay gắt; ở các nước xã hội chủ nghĩaĐông Âu và Liên Xô, kinh tế trì trệ, xã hội bất ổn
Trong khi đó, nền kinh tế thế giới phát triển mạnh do tác động của cáccuộc cách mạng khoa học và công nghệ Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trởthành hai trung tâm kinh tế thế giới Xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã thúcđẩy trạng thái hòa hoãn giữa các nước lớn