1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại cục hải quan lào cai

92 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại Cục Hải quan Lào Cai
Tác giả Tạ Thanh Đụng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tuyến
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét về phương diện pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thể được hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước người thu thuế với tổ chức, cá nhân người nộp thuế, theo

Trang 1

vÒ qu¶n lý thuÕ xuÊt khÈu, thuÕ nhËp khÈu

tõ thùc tiÔn t¹i Côc H¶i quan Lµo Cai

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ph¸p luËt

vÒ qu¶n lý thuÕ xuÊt khÈu, thuÕ nhËp khÈu

tõ thùc tiÔn t¹i Côc H¶i quan Lµo Cai

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Tạ Thanh Đông, học viên lớp Luật Kinh tế khóa 2018 - 2020 xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tạ Thanh Đông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Văn Tuyến về đề tài

luận văn: "Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn

tại Cục Hải quan Lào Cai" Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được

rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Trường

Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Văn Tuyến đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định

mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp

ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tạ Thanh Đông

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU,

THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ

1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu trong điều kiện nền kinh tế thị trường 6 1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 6 1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 8 1.1.3 Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 9 1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 11 1.2.2 Các đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 15 1.2.3 Nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 19 1.3 Lý luận pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 21

1.3.2 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 22

2.1 Thực trạng quy định về chủ thể và quyền nghĩa vụ của các

chủ thể trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 26 2.1.1 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản

2.1.2 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp

thuế trong quan hệ quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 31 2.2 Thực trạng quy định về nội dung và nguyên tắc quản lý thuế

2.2.1 Quy định về nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 34 2.2.2 Quy định về nguyên tắc quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 35

Trang 6

2.3 Thực trạng quy định về trình tự, thủ tục quản lý thuế xuất

2.3.1 Về thủ tục đăng ký thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 37 2.3.2 Về thủ tục kê khai thuế, ấn định thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 41 2.3.3 Về thủ tục nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 43

Về thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 44 2.4 Thực trạng quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 46 2.4.1 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 47 2.4.2 Phương thức kiểm tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 48 2.4.3 Trình tự, thủ tục kiểm tra, thanh tra thuế xuất khẩu, thuế

2.5 Nhận xét thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất, thuế nhập

3.1 Thực tiễn quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải

3.1.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn quản lý thuế xuất

khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Lào Cai từ năm 2018

3.1.3 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn quản lý

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Lào Cai 63 3.2 Một số kiến nghị nhằm nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao

hiệu quả quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong bối cảnh thế giới đương đại, pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng đã và đang là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước, góp phần hạn chế tình trạng gian lận thương mại, trốn thuế và định hướng phát triển quốc gia

Trước tình hình kinh tế thế giới hiện nay đang suy thoái, do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 đang diễn ra rất phức tạp, chưa thể kiểm soát trên phạm vi toàn cầu; cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc

đã gây ra suy giảm tăng trưởng kinh tế thế giới và gây ra sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thương mại, đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế mở của Việt Nam Do vậy, Nhà nước phải có những công cụ mạnh mẽ để quản lý chặt chẽ đối với hoạt động thu nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong hoạt động thương mại, góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời thiết lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động thương mại quốc tế

Với vai trò là công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế, pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng đang ngày càng được quan tâm, xây dựng hoàn thiện theo hướng ngày càng tiếp cận với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Bằng chứng rõ nhất là gần đây Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Quản lý thuế số 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019 để thay thế cho Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được

áp dụng tại Việt Nam từ hơn 10 năm nay Sự thay đổi chính sách về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng thể hiện trong đạo luật về quản lý thuế năm 2019 chắc chắn rất cần được nghiên cứu, tìm hiểu để đánh giá về mức độ hiệu quả của nó trong quá trình thực hiện

Đây chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại Cục Hải quan Lào Cai” để nghiên

cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Kể từ sau thời điểm Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ra đời cho đến nay, vấn đề pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế nói

Trang 9

riêng đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả với cách tiếp cận nghiên cứu từ các góc độ khác nhau Một cách khái quát, có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Cường với đề

tài: “Hoàn thiện pháp luật về quản lý nợ thuế ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2015,

tại Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về quản lý nợ thuế và pháp luật về quản lý nợ thuế; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nợ thuế ở Việt Nam hiện nay và

đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Luận văn này không trực tiếp nghiên cứu về vấn đề quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam và cũng không nghiên cứu thực tiễn thực hiện quản

lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại một địa phương cụ thể là Cục Hải quan Lào Cai

- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với đề tài:

“Pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và thực

tiễn thi hành tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội”, bảo vệ năm 2018, tại

Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật về quản lý thuế và nội dung quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Luận văn cũng phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội;

từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác này trong thực tiễn

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương với đề tài:

“Pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn thi hành tại

Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn”, bảo vệ năm 2018, tại Trường Đại học Luật Hà

Nội Luận văn trình bày cơ sở lý luận về pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp; phân tích thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn; từ đó đưa ra một

số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác này trong thực tiễn

- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Khuất Thị Thu Hà với đề tài:

“Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các hộ

Trang 10

kinh doanh trên địa bàn thành phố Vũng Tàu”, bảo vệ năm 2013, tại Trường

Đại học Luật Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh với đề

tài “Pháp luật quản lý thuế thu nhập ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

kinh tế quốc tế”, bảo vệ năm 2013, tại Trường Đại học Luật Hà Nội Đề tài

này nghiên cứu khái quát về pháp luật quản lý thuế thu nhập trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập

ở Việt Nam hiện nay; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;

- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Văn Cương về đề tài: “Pháp luật quản

lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu nêu trên phần nhiều đề cập đến công tác quản lý thuế nói chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng chưa phân tích, đề cập một cách đầy đủ, chuyên sâu ở một địa phương

cụ thể Chính vì vậy tác giả nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại Cục Hải quan Lào Cai” là cần thiết; từ

đó đưa ra những kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ đề tài

Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; đánh giá thực trạng tại một địa phương cụ thể và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản

lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay

Với mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và đánh giá thực tiễn thực hiện công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Lào Cai;

- Trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Lào Cai để chỉ ra một số tồn tại, nguyên

Trang 11

nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vào ba nhóm vấn đề cơ bản bao gồm:

- Lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Cục Hải quan Lào Cai từ năm 2018 đến năm 2020

- Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở áp dụng các phương pháp nghiên cứu có tính chất phổ quát trong khoa học xã hội và nhân văn như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa: được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Phương pháp thống kê, phân loại và hệ thống hóa: được sử dụng để thu thập thông tin, thống kê số liệu, sắp xếp, phân loại quy định pháp luật và các vấn đề có cùng bản chất để phục vụ cho việc nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn thực hiện công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Lào Cai

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để đánh giá, bình luận pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữa các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam với nhau

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

- Đánh giá, bình luận thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và chỉ ra những vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn thi hành, đóng góp ý kiến xây dựng hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Thực tiễn quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục

Hải quan Lào Cai và một số kiến nghị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU,

THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ

THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU

1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế thị trường

1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong đời sống kinh tế xã hội, thuế được biết đến như là khoản tiền do các tổ chức, cá nhân nộp cho Nhà nước để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu với Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Ở mỗi quốc gia, cấu trúc hệ thống thuế thường bao gồm hai nhóm cơ bản là thuế nội địa và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với tư cách là một loại thuế đánh vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò rất quan trọng, không chỉ góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để kiểm soát hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thời kỳ Lịch sử hình thành và phát triển của thuế cho thấy rằng mặc dù xuất hiện tương đối muộn nhưng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa với bên ngoài và bảo hộ nền sản xuất trong nước1

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng thu hẹp phạm

vi ảnh hưởng và tầm quan trọng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu song về

cơ bản, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như Việt Nam

Xét về phương diện lý thuyết, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

Trang 14

Xét về phương diện kinh tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế qua biên giới của một nước

Với cách tiếp cận này, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Mặt khác, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu

Xét về phương diện pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thể được hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), theo đó các bên phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý đối với nhau trong quá trình hành thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp

lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân là người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu2

Việc tiếp cận khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về bản chất của thuế nói chung và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia đối với người đóng thuế, hay là một “thoả thuận” song phương giữa người thu thuế với người nộp thuế? Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp cho Nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp hơn với quyền lợi của quốc gia và của người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá qua biên giới được điều tiết và kiểm soát bởi hai công cụ chủ yếu là “hàng rào thuế quan” và “hàng rào phi thuế quan” Hàng rào thuế quan ở những nước

2 Trường Đại học Luật hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

Trang 15

này được hiểu thực chất là thuế nhập khẩu đánh vào hàng hoá nhập khẩu3

, chứ không bao gồm cả thuế xuất khẩu đánh vào hàng hoá xuất khẩu như Việt Nam hay Trung Quốc4

Do có quan niệm khác nhau như trên giữa các nước về nội hàm của khái niệm “thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sự khác nhau Sở dĩ có sự khác nhau này trong chính sách thuế quan của các nước là bởi vì, mỗi quốc gia đều có phong tục, tập quán riêng cần được duy trì, tôn trọng, bảo vệ và quan trọng hơn, mỗi quốc gia đều có quyền đánh thuế đối với các công dân hay tổ chức mang quốc tịch nước mình hoặc đối với các công dân, tổ chức nước ngoài có hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá diễn ra trên lãnh thổ nước mình Quyền đánh thuế của quốc gia chính là cơ sở, là đạo

lý cơ bản để Nhà nước - với tư cách là người đại diện hợp pháp cho quốc gia, ban hành và áp dụng các đạo luật về thuế quan trên tinh thần của nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc quốc tịch

1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

So với các loại thuế nội địa thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có nhiều điểm khác biệt quan trọng cần được nhận diện đầy đủ và chính xác Những điểm khác biệt này bắt nguồn từ bản chất và chức năng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Theo quan điểm nhận thức của tác giả luận văn, các đặc điểm cơ bản này bao gồm5

:

Thứ nhất, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là

các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới của một quốc gia theo quy định của pháp luật quốc gia đó Khái niệm “hàng hoá” là đối tượng chịu thuế nhập khẩu có thể hiểu theo nghĩa thông thường, bao gồm các tư liệu sản xuất

và tư liệu tiêu dùng do con người sản xuất ra và được lưu thông trên thị trường bằng cách chuyển vào hoặc chuyển ra khỏi biên giới của một nước

Trong xã hội hiện đại ngày nay, xuất hiện ngày càng nhiều loại hàng hoá vô hình được chuyển vào hoặc ra khỏi biên giới một nước nhưng không phải bằng phương thức thông thường mà cơ quan Hải quan có thể kiểm soát được Ví dụ điển hình cho những loại hàng hoá này chính là những sản phẩm

3 Khoản 1 Điều 12 Luật Hải quan Indonesia; tiết 100 Luật thuế quan trong Bộ Luật Hải quan Philippines và Luật thuế hải quan (chống bán phá giá) năm 1975 của Úc

4 Điều 53 Luật Hải quan Trung Quốc

5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

Trang 16

phần mềm công nghệ thông tin được giao dịch hàng ngày qua mạng máy tính toàn cầu (internet)

Thứ hai, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tính chất đặc thù so với

nhiều loại thuế nội địa khác Điều này thể hiện ở chỗ, đối với thuế xuất khẩu, loại thuế này luôn có tính chất là thuế gián thu, vì khoản thuế xuất khẩu sau khi nộp sẽ được tính vào giá xuất khẩu và chuyển cho người nhập khẩu chịu thông qua việc thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu Còn đối với thuế nhập khẩu, khi nhà nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hoá nhập khẩu đó chứ không bán ra bên ngoài thì khi đó khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất giống như là thuế trực thu, vì chính người nhập khẩu vừa là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Ngược lại, khi nhà nhập khẩu đã nộp xong thuế nhập khẩu và bán lại số hàng hoá đó cho người khác thì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho người mua hàng chịu và do đó, khoản thuế nhập khẩu này lại có tính chất là thuế gián thu, bởi lẽ người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một

Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo

hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Chức năng này thể hiện sự khác biệt căn bản giữa thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với các loại thuế nội địa khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp… Tuy nhiên, trải qua thời gian, dưới sức ép của trào lưu hội nhập kinh

tế quốc tế và tự do hoá thương mại, chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có xu hướng ngày càng giảm sút, để nhường chỗ cho chức năng tạo nguồn thu ngân sách nhà nước Ngày nay, do chính sách thuế nhập khẩu của các nước có xu hướng cắt giảm dần các mức thuế suất nhằm đáp ứng yêu cầu tự do hoá thương mại quốc tế nên có thể trong tương lai, ranh giới để phân biệt giữa thuế nhập khẩu và thuế nội địa sẽ trở nên rất mong manh và thậm chí có thể bị “xoá nhoà” hoàn toàn, khi mà tự do hoá thương mại đã trở thành xu hướng tất yếu và mang tính hiện thực trên toàn thế giới6

1.1.3 Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Giống như bất kỳ loại thuế nào, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng thể hiện ba vai trò cơ bản sau đây:

6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

Trang 17

Một là, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Vai trò này thể hiện ở

chỗ, nhờ có thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà Nhà nước có thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và nguồn thu này có thể chiếm một tỷ lệ khác nhau trong tổng thu ngân sách nhà nước ở từng quốc gia, tùy thuộc vào kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng năm của mỗi quốc gia là nhiều hay ít Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng trở nên mạnh mẽ, vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chắc chắn sẽ có xu hướng ngày càng giảm sút và chính phủ các nước thường có xu hướng lựa chọn các giải pháp khác để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, trong khi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu buộc phải giảm do các quốc gia phải thực hiện các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan

Hai là, điều tiết hoạt động kinh tế Có thể nhận thấy, đây là vai trò rất

quan trọng của thuế nói chung và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng ở mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vai trò này thể hiện ở chỗ, Nhà nước có thể sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như một công cụ kinh tế - tài chính để tác động vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó điều tiết hoạt động kinh tế trong nước và đồng thời cũng điều tiết mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ

Ba là, hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội Vai trò này của thuế xuất

khẩu, thuế nhập khẩu thể hiện ở chỗ, nếu Nhà nước muốn người tiêu dùng trong nước ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước và hạn chế dùng hàng hóa nhập khẩu thì Nhà nước sẽ có xu hướng đánh thuế thấp đối với hàng hóa sản xuất trong nước và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng nhập khẩu Ngược lại, nếu Nhà nước muốn thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa có xuất xứ Việt Nam để tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế thì Nhà nước sẽ giảm thuế xuất khẩu, thậm chí không đánh thuế đối với hàng xuất khẩu được xuất sang các thị trường mà Nhà nước mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa có nguồn gốc, xuất

xứ từ Việt Nam

Ngoài ra, do đặc trưng cơ bản của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là đánh vào các hàng hoá xuất khẩu hoặc nhập khẩu và sau đó được cấu thành trong giá cả của hàng hoá xuất, nhập khẩu nên loại thuế này còn có một vai

Trang 18

trò khá đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hoá trong nước với hàng hoá ngoại nhập

Xét trên bình diện lý thuyết, vai trò này của thuế nhập khẩu được thể hiện ở chỗ: do bị đánh thuế nhập khẩu nên về lý thuyết, giá cả của loại hàng hoá này trên thị trường nước nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó các hàng hoá được sản xuất trong nước, do không phải chịu thuế nhập khẩu (hoặc chỉ phải chịu thuế nhập khẩu cho phần nguyên liệu hay máy móc, thiết bị là tài sản cố định nhập khẩu) nên giá thành sản phẩm của loại hàng hoá này có xu hướng

rẻ hơn và do đó có sức cạnh tranh lớn hơn so với hàng ngoại nhập Điều này cho thấy việc đánh thuế xuất khẩu hay thuế nhập khẩu thực chất là một biện pháp để một quốc gia thực hiện chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước, khi Chính phủ nhận thấy những bất lợi nghiêng về phía các hàng hoá được sản xuất từ các doanh nghiệp trong nước7

1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Để làm rõ khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có lẽ trước hết cần bắt đầu từ việc làm rõ các khái niệm có tính chất tiền đề như khái niệm “quản lý” và khái niệm “quản lý thuế”

Về khái niệm “quản lý”

Theo Từ điển Hán - Việt của tác giả Đào Duy Anh, “quản lý” được giải nghĩa là “sắp đặt, chăm nom công việc”8 Tương tự, theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, “quản lý” cũng được giải nghĩa là

“chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức”9

Theo Từ điển Việt Nam của tác giả Thanh Nghị, “quản lý” được giải nghĩa là “trông nom, coi sóc”10

Trong đời sống kinh tế, xã hội, quản lý được quan niệm là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017

8 Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, tr 154

9 Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2002, tr 555

10 Thanh Nghị, Từ điển Việt Nam, NXB Thời Thế, Sài Gòn, 1958, tr 1063

Trang 19

lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực Thuật ngữ “quản lý” cũng có thể chỉ những người quản lý một tổ chức

Về khái niệm “Quản lý thuế”

Trong khoa học kinh tế - tài chính, khái niệm “quản lý thuế” đã được một số tác giả nhắc đến trong cuốn “Tài chính công” được xuất bản bởi Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2005), theo đó: “Quản

lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện” Với cách định nghĩa này, các tác giả của tác phẩm nói trên cho rằng quản lý thuế là hoạt động mang tính chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu ngân sách nhà nước (ví dụ: cơ quan thuế, cơ quan hải quan…), hướng tới mục tiêu cơ bản là đảm bảo thu đúng, thu đủ số thuế phải nộp đối với người nộp thuế

Trong khoa học pháp lý, một số tác giả luận văn, luận án khi thực hiện công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý thuế nhưng các định nghĩa này đều chỉ phản ánh quan điểm cá nhân của mỗi tác giả, chưa phải là định nghĩa chính thức được thừa nhận rộng rãi trong giới luật học

Trong pháp luật thực định (bao gồm cả Luật Quản lý thuế mới nhất được ban hành năm 2019), các nhà làm luật cũng không giải thích thuật ngữ

“quản lý thuế” là gì Rõ ràng, sự thiếu vắng một định nghĩa chính thức về quản lý thuế đã phần nào gây khó khăn cho việc nghiên cứu lý thuyết về quản

lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

Qua nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết về quản lý thuế cho thấy, có hai luồng quan điểm, ý kiến khác nhau về khái niệm và bản chất của quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quản lý thuế là hoạt động quản lý hành

chính nhà nước về thuế, do cơ quan thuế và các cơ quan hành chính nhà nước khác thực hiện với tư cách là chức năng quản lý hành chính của nhóm chủ thể này Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm hoạt động quản lý hành chính về thuế của các cơ quan hành chính nhà nước mà thôi Ví dụ điển hình cho quan điểm này là định nghĩa đã dẫn ở trên, theo đó: “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức

Trang 20

năng thu ngân sách nhà nước thực hiện”11 Ngoài ra, tác phẩm này cũng cho rằng quản lý thuế “đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định” Với quan niệm như vậy, quản lý thuế được hiểu gần như đồng nghĩa với quản lý thu thuế Nó bao gồm việc xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành thuế Theo quan điểm này, quản lý thuế là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng của quản lý thuế làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra

Như vậy, với quan điểm tiếp cận coi quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước thì đương nhiên chủ thể quản lý thuế sẽ được xác định là Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước cụ thể được trao thẩm quyền như cơ quan thuế, cơ quan hải quan, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp tham gia vào hoạt động quản lý thuế…) và đối tượng quản lý thuế sẽ là các tổ chức, cá nhân - với tư cách là người nộp thuế Cũng theo quan điểm này, các công cụ được Nhà nước sử dụng trong quản lý thuế chính là pháp luật, là kế hoạch, là chính sách và một số công cụ khác

Trong số các công cụ này, pháp luật là công cụ quản lý thuế có tính định hướng và điều tiết quan trọng nhất Nó tạo tiền đề để điều chỉnh các quan

hệ kinh tế, duy trì sự ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững Nó tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ về thuế giữa các chủ thể kinh

tế Kế hoạch cũng là một công cụ không thể thiếu trong quản lý thuế Nếu quản lý thuế không lên kế hoạch ngắn hạn, trung và dài hạn một cách cụ thể thì không thể đánh giá so sánh được chất lượng hiệu quả của quản lý thuế qua các từng giai đoạn, không rút ra được những kinh nghiệm bổ ích phục vụ công tác quản lý thuế Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với nhiều nhân tố tác động đến quản lý thuế từ trong và ngoài nước, công tác lập

kế hoạch và quản trị chiến lược trong quản lý thuế càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách được xem là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời

11 Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, “Tài chính công”, xuất bản năm 2005

Trang 21

sống kinh tế xã hội của đất nước Các chính sách về kinh tế rất đa dạng, nhưng đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quản lý thuế Những chính sách chủ yếu tác động tới quản lý thuế gồm có chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách thuế Chính sách kinh tế đối ngoại thay đổi theo hướng mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì công tác quản lý thuế sẽ trở nên khó khăn, phức tạp hơn, do phải đối mặt với những vấn đề mới phát sinh như thuế trùng, chuyển giá, cạnh tranh thuế Chính sách cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng chuyển dịch từ nông nghiệp, công nghiệp sang dịch vụ thì cơ cấu nguồn thu từ thuế cũng có sự thay đổi Chính sách thuế thay đổi để phù hợp với yêu cầu của hội nhập như cắt giảm thuế quan và tuân theo các nguyên tắc quốc tế thì nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng Ngoài ra, nó có thể tác động tới bộ máy quản lý thuế, chu trình quản lý thuế Bộ máy quản lý thuế phải hình thành thêm những phòng chức năng mới, chu trình quản lý thuế phải thiết kế phù hợp với chuẩn mực quốc tế Với những lý do trên, hệ thống các chính sách kinh tế là công cụ vô cùng quan trọng cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế trong nước và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc

tế đang ngày càng gia tăng

Quan điểm thứ hai cho rằng, quản lý thuế là hoạt động của nhiều chủ

thể khác nhau, trong đó có chủ thể là Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và các tổ chức, cá nhân (trong đó có những người nộp thuế) Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa rộng, theo đó quản lý thuế không chỉ là hoạt động có tính chất quyền lực của Nhà nước, mà còn là hoạt động có tính cách xã hội và giám sát cộng đồng của các

tổ chức, cá nhân, trong đó bao gồm cả những người trực tiếp hoặc gián tiếp nộp thuế cho Nhà nước

Ở Việt Nam hiện nay, quan điểm này đã được thể hiện khá rõ trong Luật Quản lý thuế năm 2019, theo đó Khoản 3 Điều 5 đạo luật này quy định một trong những nguyên tắc quản lý thuế là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế theo quy định của pháp luật”12

Theo quan điểm này, các yếu tố cấu thành của quản lý thuế có sự khác biệt nhất định so với quan điểm thứ nhất về quản lý thuế Cụ thể là:

12 Điều 5 Luật Quản lý thuế năm 2019

Trang 22

(i) Về chủ thể quản lý thuế, không chỉ là các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm rất nhiều chủ thể khác như các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức đoàn thể xã hội, mọi doanh nghiệp và

cá nhân, trong đó bao gồm cả những người trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước;

(ii) Về đối tượng quản lý thuế, không chỉ là hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyến toán thuế của người nộp thuế mà còn bao gồm cả hoạt động hành thu thuế, giải quyết khiếu nại về thuế, xét miễn giảm thuế, hoàn thuế hay truy thu thuế của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ

Tóm lại, từ sự phân tích các quan điểm trên đây về quản lý thuế, tác giả luận văn đồng ý với quan điểm thứ hai về quản lý thuế, theo đó cần phải tiếp cận khái niệm quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng theo nghĩa rộng Với quan điểm này, tác giả cho rằng có

thể định nghĩa về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau: Quản lý

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hoạt động có mục đích của các chủ thể liên quan gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân thông qua việc áp dụng những biện pháp nhất định, phù hợp với pháp luật nhằm đảm bảo cho việc đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế, miễn giảm thuế và giải quyết khiếu nại, khởi kiện về thuế nhập khẩu được thực hiện hiệu quả, đúng pháp luật, góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết hiệu quả các hoạt động kinh tế và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý trong xã hội

1.2.2 Các đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Xét về phương diện lý thuyết, có thể cho rằng quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thể hiện những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Như đã đề cập ở trên, chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm trước hết là các cơ quan nhà nước (cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp), trong đó các cơ quan hành pháp nói chung

và cơ quan thuế, hải quan nói riêng đóng vai trò chủ đạo trong công tác quản

lý thuế Ngoài ra, chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn bao gồm các tổ chức, cá nhân khác, kể cả các tổ chức, cá nhân là người

có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trang 23

Thực tế cho thấy, mặc dù thành phần chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tương đối đa dạng nhưng thực tế đa số các ý kiến đều cho rằng chủ thể chính tham gia quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan thuế, cơ quan hải quan, các cơ quan hành chính nhà nước khác

Thứ hai, về đối tượng quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong khoa học pháp lý, đối tượng quản lý thuế là khái niệm gây nhiều tranh cãi Có ý kiến cho rằng: Đối tượng của quản lý thuế là các quan

hệ phát sinh trước, trong và sau quá trình triển khai tổ chức thu nộp thuế cho nhà nước Các quan hệ này có thể diễn ra giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, giữa người nộp thuế với nhau, giữa nội bộ cơ quan thuế, thậm chí giữa

cơ quan thuế trong nước với cơ quan thuế các nước khác Vì vậy, nó hết sức

đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải có các công cụ và phương pháp quản lý thích hợp Quan điểm này coi đối tượng quản lý thuế chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế giữa cơ quan thuế với nhau hoặc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế Tuy nhiên, quan điểm khác lại cho rằng: Đối tượng quản lý thuế chính là hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ thuế, ví

dụ, hành vi của người nộp thuế, hành vi của cơ quan thuế hoặc công chức thuế, hành vi của các tổ chức, cá nhân khác có liên quan (tổ chức cung cấp dịch vụ thuế, tổ chức khấu trừ thuế tại nguồn…) Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận đối tượng quản lý thuế từ khía cạnh hành vi của chủ thể tham gia quan hệ quản lý thuế chứ không phải là chính quan hệ quản lý thuế

Thứ ba, về phương pháp quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Về lý thuyết, phương pháp quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng bao gồm: phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; phương pháp giáo dục, thuyết phục

Phương pháp hành chính được sử dụng khi các chủ thể của quản lý thuế muốn các đòi hỏi của mình phải được đối tượng quản lý thuế tuân thủ một cách bắt buộc, vô điều kiện Quản lý thuế bằng phương pháp hành chính cần tránh kiểu quản lý hành chính quan liêu, lạm dụng quyền hành Sử dụng phương pháp này chỉ có hiệu quả khi các quyết định mà chủ thể quản lý thuế đưa ra có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế Sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt với việc xác định rõ ràng quyền hạn và

Trang 24

trách nhiệm của cấp ra quyết định, mỗi bộ phận, mỗi cán bộ khi sử dụng các quyền hạn đó (trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm giải trình)

Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các chủ thể quản lý, tức là tác động tới các

tổ chức và cá nhân đang thực hiện các hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Phương pháp kinh tế trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thể hiện dưới hình thức khoán, thưởng, ưu đãi về lợi ích vật chất

Phương pháp giáo dục, thuyết phục trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được sử dụng thông qua việc Nhà nước tác động vào nhận thức và tình cảm của chủ thể quản lý nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực của họ trong việc thực hiện các quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ đối với Nhà nước Nhà nước có thể sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, đài phát thanh, truyền hình sử dụng các tổ chức đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội để thực hiện tuyên truyền, giáo dục nhằm góp phần quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tốt hơn

Thứ tư, về mục tiêu quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Tùy vào đặc điểm về kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của từng quốc gia mà quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng sẽ có các mục tiêu khác nhau Nhìn chung, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở các nước thường nhằm vào các mục tiêu cơ bản như:

- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới Thuế tài trợ cho các hoạt động cơ bản của chính phủ Vì vậy, quản lý thuế phải hướng đến việc khai thác tối đa nguồn thu này Tuy nhiên, để tăng trưởng và ổn định

số thu của ngân sách nhà nước trong tương lai, công tác quản lý thuế cũng cần chú ý duy trì và phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu thuế Không nên thu thuế với thuế suất quá cao, thu thuế bằng mọi giá Xây dựng một chính sách thuế phải phối hợp với việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô khác Các chính sách thuế của nhà nước, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, tác động đến các hoạt động kinh tế - vốn dĩ là cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai

Trang 25

- Tối thiểu hóa chi phí để từ đó nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Chi phí cho quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước hết là những chi phí của chính phủ liên quan đến quản lý thuế Nó bao gồm chi phí trả lương cho đội ngũ cán bộ ngành thuế hay hải quan, chi phí in

ấn tài liệu, ghi chép lưu giữ sổ sách hóa đơn chứng từ, chi cho cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, chi phí tư vấn cho người nộp thuế, chi phí khác Ngoài ra, chi phí cho quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn phải kể đến các chi phí tuân thủ của người nộp thuế Nếu Nhà nước chỉ quan tâm đến tối thiểu hóa chi phí cho bộ máy hành thu, đẩy gánh nặng chi phí tuân thủ cho người nộp thuế thì không giải quyết được một cách căn cơ mối quan hệ giữa

cơ quan thuế với người nộp thuế Sở dĩ như vậy là bởi vì, nếu người nộp thuế phải gánh chịu các chi phí quá cao của việc tuân thủ pháp luật thuế thì tất yếu

họ sẽ phản ứng bằng cách tránh thuế, trốn thuế hoặc dây dưa nộp thuế, từ đó gây khó khăn cho cơ quan thuế trong quá trình hành thu

- Phát huy tối đa vai trò của thuế trong nền kinh tế Vai trò của thuế nói chung và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Thuế (trong đó có thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, điều tiết thu nhập, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, thuế góp phần kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh Song, những vai trò đó chỉ có thể đạt được khi con người biết lựa chọn cách hành xử phù hợp, bởi lẽ các vai trò

đó là kết quả của những tác động từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những nội dung

cơ bản của quản lý tài chính nhà nước Giống như các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng phải thông qua công cụ luật pháp, chính sách để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, các tổ chức kinh

tế trong hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa nói riêng Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách đó, bằng công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân cũng sẽ được nâng cao Ý thức chấp hành pháp

Trang 26

luật thể hiện trình độ phát triển của một xã hội văn minh, hiện đại, theo đó Nhà nước phải quản lý bằng luật pháp, mọi tổ chức, cá nhân, kể cả Nhà nước cũng phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

1.2.3 Nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong khoa học kinh tế và khoa học pháp lý hiện nay, không có một quan điểm chính thống nào về nội dung quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng Do đó, về lý thuyết có thể tham chiếu quan điểm của nhà làm luật được thể hiện tại Điều 4 Luật Quản lý thuế năm 2019, theo đó nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:

(i) Hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Đây là một trong những thủ tục ban đầu để giúp Nhà nước nắm được đầy đủ thông tin về người nộp thuế và các hoạt động làm phát sinh nghĩa vụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thông qua đó góp phần quản lý thuế hiệu quả

(ii) Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Đây là một nội dung của công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo việc thu thuế hợp lý, đúng pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế Việc Nhà nước ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế hoặc không thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xem là các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ

(iii) Khoanh tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ

Về lý thuyết, có thể nhận thấy việc khoanh tiền thuế nợ; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không tính tiền chậm nộp, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ được xem là hoạt động quản

lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, bởi vì, thông qua việc việc khoanh tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, miễn tiền chậm nộp, tiền phạt, không tính tiền chậm nộp, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ, Nhà nước có thể đạt được các mục tiêu quản lý của mình trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trang 27

(iv) Quản lý thông tin người nộp thuế

Việc quản lý thông tin người nộp thuế được xem là một nội dung quản

lý thuế bởi vì, thông qua việc nắm bắt thông tin về người nộp thuế, Nhà nước

có thể kiểm soát được các hoạt động làm phát sinh nghĩa vụ thuế đối với người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, ví dụ như: số lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu; giá tính thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu; các trường hợp người nộp thuế được miễn, giảm thuế hoặc được hoàn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

(v) Quản lý hóa đơn, chứng từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Sở dĩ việc quản lý hóa đơn, chứng từ được xem là nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bởi vì, các hóa đơn chứng từ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa nói riêng của người nộp thuế,

từ đó giúp Nhà nước xác định chính xác thông tin về số lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu; giá tính thuế và mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được miễn, giảm hoặc được hoàn thuế đối với người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

(vi) Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế

Trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, việc kiểm tra, thanh tra thuế và thực hiện các biện pháp phòng chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật thuế là hoạt động có tính tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quan hệ quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì nhất thiết phải thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế, thông qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (cơ quan Hải quan, các

bộ ngành và ủy ban nhân dân các cấp…)

(vii) Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Thực tế cho thấy không phải khi nào người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng tự giác tuân thủ, tự giác thực hiện các quyết định hành chính

về thuế (ví dụ: quyết định ấn định thuế, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, quyết định truy thu thuế…) Vì vậy, việc cưỡng chế thi hành

Trang 28

các quyết định hành chính này trở nên cần thiết trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, góp phần đảm bảo tính hiệu quả cho công tác quản lý thuế

(viii) Xử phạt vi phạm hành chính về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Trong quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, nếu đã không tránh được việc vi phạm pháp luật thuế thì cũng không thể tránh được việc phải xử lý hay áp dụng chế tài đối với các hành vi

vi phạm đó Chính vì vậy, việc thiết kế một hệ thống chế tài hoàn chỉnh, hợp

lý, đồng bộ nhằm xử lý khách quan, chính xác đối với các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng là rất cần thiết Thực tế cho thấy, ở các quốc gia trên thế giới đều quan tâm, chú ý đến việc xây dựng các chế tài này, trong đó bao gồm chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài kỷ luật

(ix) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Quan hệ thuế nói chung và quan hệ quản lý thuế nói riêng vốn dĩ liên quan trực tiếp đến vấn đề lợi ích của các chủ thể hoặc nhóm chủ thể Chính vì vậy, việc xung đột, mâu thuẫn hay bất đồng về phương diện lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế là điều khó tránh khỏi, từ đó làm phát sinh nhu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết tranh chấp về thuế, trong đó có thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

(x) Hợp tác quốc tế về thuế và tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế Trong bối cảnh thế giới “phẳng” như ngày nay, hợp tác và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ về công tác quản lý thuế là điều tất yếu Chính vì vậy, việc hợp tác quốc tế về thuế và tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế luôn được các quốc gia chú ý phát triển và đã trở thành một xu hướng tất yếu trong quản trị quốc gia hiện đại

1.3 Lý luận pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

1.3.1 Khái niệm

Trong hoạt động kinh tế, pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế nói riêng (trong đó có quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là một chế định tương đối đặc thù Tính chất đặc thù của chế định này thể hiện ở chỗ, pháp luật về quản lý thuế chủ yếu bao gồm các quy phạm pháp luật về hình thức, trong đó Luật quản lý thuế là văn bản pháp luật có vai trò quan

Trang 29

trọng nhất, có nhiệm vụ quy định những vấn đề cơ bản về quản lý thuế như: chủ thể và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quản lý thuế; nội dung và các nguyên tắc quản lý thuế; trình tự, thủ tục quản lý thuế

Xét về khía cạnh lý luận, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về quản lý

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau: Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu,

thuế nhập khẩu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận,nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thông qua đó góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kiểm soát hợp lý hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa và đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội

1.3.2 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một tiểu chế định pháp luật khá đặc biệt cấu thành nên pháp luật thuế nói chung có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về bản chất, pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu là bộ phận pháp luật về hình thức, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật hình thức, trong đó nhà làm luật quy định về chủ thể, thẩm quyền, nguyên tắc và trình tự, thủ tục quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (gọi là pháp luật về hình thức) với bộ phận khác của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (gọi là pháp luật về nội dung, trong đó quy định về: chủ thể nộp thuế nhập khẩu; đối tượng chịu thuế nhập khẩu; căn cứ tính thuế nhập khẩu; chế độ miễn giảm, hoàn thuế nhập khẩu…)

Thứ hai, về nội dung, pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật quy định về chủ thể và thẩm quyền của các chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; nhóm quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc và nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; nhóm quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Thứ ba, nguồn của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập

khẩu bao gồm Luật Quản lý thuế năm 2019, Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định về quản lý thuế nói chung, trong đó có việc quản lý thuế xuất khẩu,

Trang 30

thuế nhập khẩu Còn Luật Hải quan năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan, trong đó có quy định về hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của cơ quan hải quan các cấp

Như đã đề cập ở trên, pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một tiểu chế định pháp luật khá đặc biệt Cấu trúc của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm các bộ phận cấu thành chủ yếu sau:

- Các quy định về chủ thể và thẩm quyền của các chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nhiệm vụ cơ bản của nhóm quy

phạm pháp luật này là quy định về thành phần chủ thể tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (các cơ quan nhà nước về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các chủ thể khác tham gia quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) và thẩm quyền của các chủ thể đó trong quá trình quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Các quy định về nội dung và nguyên tắc quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.Nhiệm vụ của nhóm quy phạm pháp luật này là xác định các vấn

đề thuộc nội dung quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Các quy định về trình tự, thủ tục quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ trình tự, thủ tục

quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm những bước nào, những công việc mà các chủ thể có liên quan phải thực hiện trong mỗi bước đó ra sao

- Các quy định về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.Nhóm quy phạm pháp luật này có

nhiệm vụ xác định rõ các trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thẩm quyền thanh tra, kiểm tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; việc xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Về lý thuyết, với tư cách là một tiểu chế định cấu thành nên pháp luật thuế nói chung, pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chịu sự tác động của một số yếu tố cơ bản sau đây:

Thứ nhất, yếu tố lợi ích của các bên liên quan đến quan hệ quản lý

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trang 31

Sở dĩ có thể khẳng định rằng yếu tố lợi ích có tác động trực tiếp đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bởi vì, suy cho cùng, pháp luật nói chung và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng chẳng qua là công cụ để Nhà nước thực hiện việc phân bổ lợi ích giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, trong đó có lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các bên tham gia quan hệ quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong quá trình quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, pháp luật là công cụ để Nhà nước điều chỉnh hành vi xử sự của các bên tham gia quan hệ quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vì lợi ích của chính họ và lợi ích của

cả Nhà nước Vì vậy, nếu Nhà nước thiết kế các quy định về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu một cách hợp lý, đảm bảo sự hài hòa, cân bằng về lợi ích của tất cả các chủ thể có liên quan thì các quy định đó chắc chắn sẽ được các chủ thể này tự giác tuân thủ Ngược lại, nếu các quy định về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho một chủ thể nào đó thì chủ thể này sẽ có xu hướng vi phạm pháp luật để tránh sự bất lợi cho mình, còn chủ thể được lợi hơn bởi các quy định pháp luật thì sẽ có xu hướng muốn thực hiện các quy định đó

Thứ hai, yếu tố trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội

Không thể phủ nhận rằng trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng Sự ảnh hưởng này thể hiện ở chỗ: Nếu nền kinh tế - xã hội của một quốc gia đang

ở trình độ phát triển cao thì nó sẽ đặt ra các yêu cầu đối với hệ thống pháp luật (trong đó có pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là phải phát triển ở trình độ tương ứng để tạo hành lang hay khuôn khổ pháp lý phù hợp cho các hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn Ngược lại, nếu một quốc gia có nền kinh tế - xã hội kém phát triển hoặc chậm phát triển thì tất yếu nó sẽ tác động đến sự phát triển của hệ thống pháp luật, trong đó có các quy định vềquản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Vì vậy, để hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Nhà nước rất cần chú ý đến mối quan hệ tác động qua lại giữa yếu tố kinh tế và yếu tố pháp luật, giống như mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong một hình thái kinh tế - xã hội

Trang 32

Thứ ba, yếu tố truyền thống văn hóa và đạo đức xã hội, đạo đức nghề

nghiệp

Đây là một trong những yếu tố có tác động trực tiếp đến pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng Sự tác động này thể hiện ở chỗ, về lý thuyết cũng như trong thực tế, tất

cả các bên tham gia vào quan hệ quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đều chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi truyền thống văn hóa dân tộc cũng như văn hóa kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội Điều này có ảnh hưởng nhất định đến thói quen thực hiện pháp luật và tuân thủ pháp luật của chủ thể tham gia vào quan hệ quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cần phải tính đến sự tác động của yếu tố văn hóa kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội của người tham gia quản lý thuế nhằm giúp cho các quy định này đạt được mức độ hiệu quả tối ưu

- Mục tiêu của quản lý thuế là hướng đến sự tăng cường tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, đảm bảo sự hài hòa, cân bằng về lợi ích của tất

cả các chủ thể có liên quan tự giác tuân thủ, chấp hành

- Pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận của

hệ thống quản lý thuế của mỗi quốc gia, là công cụ của nhà nước để tổ chức thu thuế Để phát huy vai trò thực tế trong đời sống xã hội, quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật quản lý thuế phải chú trọng tính kỹ thuật kinh tế, cần tránh tính chính trị hóa không cần thiết, trên cơ sở nhận diện rõ pháp luật quản lý thuế là phương tiện chuyển tải đưa pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập vào cuộc sống

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU,

THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng quy định về chủ thể và quyền nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Theo quy định hiện hành, chủ thể có thẩm quyền quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước hết bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung như Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng, có tính chuyên trách như cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan, kho bạc nhà nước… Ngoài ra, chủ thể tham gia quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng còn bao gồm các tổ chức, cá nhân khác, trong đó có cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

2.1.1 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ở Việt Nam hiện nay, cơ quan nhà nước có chức năng chuyên trách quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là Hải quan, với tư cách là một cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính Cơ quan này được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Hải quan năm 2014 nhưng hoạt động chuyên môn về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lại được điều chỉnh bởi Luật Quản lý thuế năm 2019 Chính vì vậy, khi phân tích về cấu trúc quyền, nghĩa

vụ của cơ quan Hải quan - với tư cách là cơ quan chuyên trách quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luận văn sẽ kết hợp giữa các quy định của Luật Hải quan năm 2014 với Luật Quản lý thuế năm 2019 để đảm bảo xem xét một cách toàn diện về cơ sở pháp lý của vấn đề này

Trước hết, theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2019, cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (ở đây được hiểu là cơ quan Hải quan)

có các quyền hạn và nhiệm vụ sau đây:

Một là, về phương diện quyền hạn, cơ quan quản lý thuế xuất khẩu,

thuế nhập khẩu có quyền13

Trang 34

nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế Việc thiết

kế và trao quyền này cho cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chính là nhằm giúp cơ quan này có được thông tin đầy đủ về người nộp thuế

để từ đó giúp cho việc quản lý thuế hiệu quả hơn

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế Đây cũng được xem là một quyền năng

rất quan trọng bởi lẽ trong một số trường hợp, việc cung cấp thông tin từ người nộp thuế không được đầy đủ mà cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cần được cung cấp thêm thông tin từ các tổ chức, cá nhân khác có liên quan (không phải là người nộp thuế)

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế theo quy định của pháp luật Sở dĩ

pháp luật cần ghi nhận quyền này cho cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là bởi vì, nếu không có hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế thì cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu rất khó phát hiện được các sai phạm của người nộp thuế và các chủ thể khác trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, từ đó không có cơ sở thực tiễn và bằng chứng để xử lý các sai phạm này nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Ấn định thuế Đây là một quyền rất quan trọng bởi lẽ trên thực tế, rất

nhiều trường hợp người nộp thuế cố tình khai sai thuế dẫn đến giảm số thuế phải nộp so với quy định của pháp luật Trong trường hợp đó, cơ quan thuế cần được trao thẩm quyền ấn định thuế để bảo đảm thu đúng, thu đủ số thuế nhập khẩu phải nộp theo quy định Tuy nhiên, cùng với việc ghi nhận quyền

ấn định thuế, pháp luật cũng đòi hỏi cơ quan ấn định thuế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi ấn định thuế của mình và có thể bị đối kháng bởi người nộp thuế về hành vi ấn định thuế

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.Quyền

năng này được xây dựng dựa trên cơ sở thực tiễn là người nộp thuế luôn có xu hướng không tự giác thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (ví dụ như: nghĩa vụ nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước… theo quy định của pháp luật thuế) Vì vậy, việc ghi nhận quyền này

Trang 35

chính là để giúp cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thêm quyền lực để thực thi pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật

về thuế Đây cũng được xem là một trong những nội dung rất quan trọng của

quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, bởi lẽ để quản lý thuế hiệu quả thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể không thanh tra, kiểm tra và trên cơ sở đó tiến hành xử lý vi phạm pháp luật về thuế, trong đó có vi phạm hành chính về thuế và công khai việc

xử lý đối với các hành vi này trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật Trong quản lý thuế nói

chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, việc trao quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính cho các cơ quan chức năng là rất cần thiết vì thực tế cho thấy có nhiều trường hợp người nộp thuế có hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc nghĩa vụ nộp phạt vi phạm pháp luật thuế Thẩm quyền này thường được trao cho các cơ quan chức năng thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế đối với nhà nước

- Ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số loại thuế theo quy định của Chính phủ Trên thực tế, đây cũng được xem là một trong những

giải pháp hiệu quả để quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bởi lẽ việc làm này sẽ góp phần làm giảm chi phí quản lý thuế, trong khi vẫn đảm bảo tính hiệu quả cho việc quản lý thuế nói chung và việc hành thu thuế nói riêng

- Mua thông tin, tài liệu, dữ liệu của các đơn vị cung cấp trong nước

và ngoài nước để phục vụ công tác quản lý thuế; chi trả chi phí ủy nhiệm thu thuế từ tiền thuế thu được hoặc từ nguồn kinh phí của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Chính phủ Giải pháp này đặc biệt cần thiết trong quản lý

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bởi lẽ thực tế cho thấy trong một số trường hợp cụ thể, cơ quan thuế rất cần đươc cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài nhằm phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra thuế hoặc ấn định thuế đối với hàng hóa nhập khẩu

Trang 36

Hai là, về phương diện nghĩa vụ, cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế

nhập khẩu có các nghĩa vụ sau14

:

- Tổ chức thực hiện quản lý thu thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan Đây là nghĩa vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của

cơ quan quản lý thuế nói chung và cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng Việc pháp luật ghi nhận nghĩa vụ này nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuế có khả năng thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình trong thực tế

- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế tại trụ sở, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế và trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc quy định nghĩa vụ này nhằm

đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế, đồng thời gắn trách nhiệm của cơ quan thuế - với tư cách là một cơ quan phục vụ đối với việc hỗ trợ tối đa cho người nộp thuế trong quản lý thuế hiện đại

- Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế Việc quy định nghĩa vụ này của cơ quan thuế không

chỉ có tác dụng hỗ trợ người nộp thuế, mà còn góp phần hình thành mối quan

hệ thân thiện giữa cơ quan thuế với người nộp thuế trong quá trình quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

- Bảo mật thông tin của người nộp thuế, trừ các thông tin cung cấp cho

cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin được công bố công khai theo quy định của pháp luật Việc ghi nhận nghĩa vụ này của cơ quan thuế xuất phát từ triết

lý về bảo vệ và bảo đảm quyền lợi tư hay bí mật đời tư của người nộp thuế

- Thực hiện việc miễn thuế; giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ; khoanh tiền thuế nợ, không thu thuế; xử

lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; hoàn thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan Việc quy định

nghĩa vụ này cho cơ quan thuế cũng nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích pháp của người nộp thuế, khi người nộp thuế thuộc diện được miễn, giảm, hoàn thuế hoặc gia hạn nộp thuế nhập khẩu theo quy định

14 Điều 18 Luật Quản lý thuế năm 2019

Trang 37

- Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật Việc quy định nghĩa vụ này cho cơ quan

thuế cũng nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích pháp của người nộp thuế, khi người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật

về thuế theo thẩm quyền; giao biên bản, kết luận, quyết định xử lý về thuế sau kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho người nộp thuế và giải thích khi có yêu cầu; bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Việc quy định nghĩa vụ này cho cơ quan

thuế cũng nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích pháp của người nộp thuế

- Giám định để xác định số tiền thuế phải nộp của người nộp thuế theo trưng cầu, yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xây dựng, tổ chức

hệ thống thông tin điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế Giống như đối với các nghĩa vụ khác, việc

nhà nước quy định nghĩa vụ này cho cơ quan thuế cũng không ngoài mục đích nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích pháp của người nộp thuế

Bên cạnh việc quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý thuế trong Luật Quản lý thuế năm 2019, Luật Hải quan năm 2014 cũng đã có quy định về trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tổ chức thu thuế và các khoản thu khác trong quá trình quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu Cụ thể là15

:

- Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện thống nhất việc thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; việc áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan

- Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc kê khai, tính thuế; thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, ấn định thuế, gia hạn, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với người khai hải quan; thu thuế, các khoản thu khác và quản lý việc nộp thuế

Tại Điều 85 của Luật Hải quan năm 2014 cũng quy định, việc xác định mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải căn cứ vào mã số hàng hóa và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu

15 Điều 84 Luật Hải quan năm 2014

Trang 38

lực tại thời điểm tính thuế Thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế Riêng trị giá hải quan được sử dụng để làm cơ sở cho việc tính thuế nhập khẩu và thống kê hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, theo đó trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trong quá trình khai báo hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, tỷ giá hối đoái dùng để tính thuế nhập khẩu là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam với đồng tiền nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế Trường hợp tại thời điểm tính thuế mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công bố tỷ giá hối đoái thì áp dụng tỷ giá hối đoái của lần công bố gần nhất

2.1.2 Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong quan hệ quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2019, người nộp thuế có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

:

- Được hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế Việc pháp luật ghi nhận

quyền năng này nhằm giúp người nộp thuế đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với

cơ quan quản lý thuế hoặc công chức thuế có thẩm quyền, từ đó gián tiếp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế của các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán Giống như quyền

được hỗ trợ, hướng dẫn quy định về thuế nhập khẩu, quyền được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế không chỉ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người nộp thuế, mà còn gián tiếp góp phần vào việc nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan quản lý thuế và công chức ngành thuế

- Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất

16 Điều 16 Luật Quản lý thuế 2019

Trang 39

khẩu, nhập khẩu Việc pháp luật ghi nhận quyền này cho người nộp thuế thực

chất nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế, nhưng cũng có tác dụng tốt trong việc tạo ra áp lực buộc cơ quan quản lý thuế và công chức quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải thực hiện đúng pháp luật, từ đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

- Được giữ bí mật thông tin, trừ các thông tin phải cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc thông tin công khai về thuế theo quy định của pháp luật Đây cũng là một quyền năng của người nộp thuế và việc thực

hiện quyền năng này cũng có tác dụng nâng cao tính chuyên nghiệp cho cơ quan thuế và công chức thuế trong quá trình thực thi công vụ quản lý thuế

- Được nhận quyết định xử lý về thuế, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế, được yêu cầu giải thích nội dung quyết định xử lý về thuế; được bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế; được nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế, quyết định xử lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế Giống như đối với một số quyền khác,

việc pháp luật ghi nhận quyền này cho người nộp thuế thực chất nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế, nhưng cũng có tác dụng tốt trong việc tạo ra áp lực buộc cơ quan quản lý thuế và công chức quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải thực hiện đúng pháp luật, từ đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

- Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản

lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật; yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình Việc pháp luật ghi nhận

quyền này cho người nộp thuế cũng nhằm mục tiêu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế, đồng thời đòi hỏi cơ quan quản lý thuế và công chức quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải thực hiện đúng pháp luật, tránh gây thiệt hại cho người nộp thuế và từ đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

- Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình; không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp

Trang 40

thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế,

cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về tố cáo

Đây là một quyền năng quan trọng nhất thể hiện vai trò tham gia quản lý thuế của người nộp thuế, góp phần đảm bảo chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng

Thứ hai, về phương diện nghĩa vụ, khi tham gia quan hệ quản lý thuế

xuất khẩu, thuế nhập khẩu, người nộp thuế có các nghĩa vụ cơ bản sau17

thực và đầy đủ chính là cách để giúp nhà nước quản lý thuế hiệu quả nhất Vì vậy, có thể đánh giá rằng việc ghi nhận và đòi hỏi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ này chính là nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý thuế

- Nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm; chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế; lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật; cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, bao gồm cả thông tin về giá trị đầu tư; số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản được

mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế; chấp hành quyết

17 Điều 17 Luật Quản lý thuế năm 2019

Ngày đăng: 13/10/2022, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Số liệu bắt giữ và xử lý vi phạm hành chính - Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ thực tiễn tại cục hải quan lào cai
Bảng 3.1. Số liệu bắt giữ và xử lý vi phạm hành chính (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w