Do vậy, để có cái nhìn sâu sắc hơn và toàn diện hơn đáp ứng yêu cầu của thực tiễn bối cảnh xã hội, tác giả đã chọn vấn đề: “Pháp luật về TTVV theo pháp luật Trọng tài thương mại ở Việt N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BO GIAO Dl)C v A DAO TAO TRUONG DAI HOC MO HA NO I
LU~N VAN TH~C SY
PHAP LU~T VE TRQNG TAl Vl) VI:¢C
THEO LU~T TRQNG TAl TRUONG M~l 0 VI:¢T NAM
NGUYEN THJ HU:¢
NGANH: LUAT KINH TE
MA SO: 8380107 NGUC>l HUONG DAN KHOA HQC
TS NGUYEN VAN LU~T
HA N<)l - 2020
Trang 3L(H CAM DOAN
Toi Ia: Nguyln Thi Hu¢ h9c vien l&p 18K - LKT kh6a 2018 -2 0 0 xin cam aoan day
Ia cong trinh i19c l{lp cua rieng toi ma khong sao chep tir bitt k); ngu6n tai li?u nao
afi au(Jc cong b6 Cac tai li¢u, s6 li?u sir dt~ng phan tich trong lu{ln w'in a ~ u c6
ngu6n gJc ro rang, iJU(JC tr£ch ddn ady au, CO XGC nh{ln CUa CO' quan cung cdp sJ
li¢u Cac kit qua nghien CUu trong lu{ln w'in Ia kit qua nghien CUu cua toi a7,(9'C
thvc hi?n m9t each khoa h9C, trung thvc, khach quan Toi xin chju trach nhi?m v~
tinh trung thvc, chinh xac cua cac ngu6n s6 li?u cilng nhu cac thong tin sir dl!-ng
trong cong trinh nghien CUu CUa minh
Tac giii lu{in viin
~
Nguyin Thi Hu?
Trang 4L(JICAMON
Truac hit, em xin tran tr9ng bay to long bid! an din ccic thdy gicio, c6 gicio
trinh lam lu(ln win
Nguyln Van Lu(lt dii t(ln tinh dr)ng vien, huang ddn va giup diJ em hoan thanh lu(ln van
Tac giii lu(in van
Nguyln Thi H Uf
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài vụ việc 7
1.1.1 Khái niệm về Trọng tài vụ việc 7
1.1.2 Đặc điểm của Trọng tài vụ việc 9
1.2 Ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc 10
1.2.1 Ưu điểm 10
1.2.2 Nhược điểm 16
1.3 So sánh hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc với Trọng tài thường trực 17
Trang 61.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Trọng tài vụ việc và pháp luật Trọng tài vụ việc ở Việt Nam 23
1.5 Hệ thống pháp luật về trọng tài vụ việc ở Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển 27
1.5.1 Hệ thống pháp luật về trọng tài vụ việc ở Việt Nam 27 1.5.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Trọng tài vụ việc ở Việt Nam 29
Kết luận Chương I 33 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI VỤ VIỆC 34 2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài vụ việc tại Việt Nam 34
2.1.1 Quy định về điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc 34 2.1.3 Vai trò của Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc 43
2.2 Tình hình giải quyết các tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc ở Việt Nam 48
2.2.1 Tình hình chung về giải quyết tranh chấp thương mại 48 2.2.2 Tình hình giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc 51
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trọng tài vụ việc 56
2.3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của Trọng tài vụ việc 56
Trang 72.3.2 Kiến nghị một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trọng tài vụ việc 57
Kết luận Chương 2 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tòa án nhân dân và trọng tài thương mại là các thiết chế tài phán kinh tế ở Việt Nam hiện nay, đều có chức năng giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh trong nền kinh tế thị trường Trọng tài thương mại có hai hình thức tổ chức và hoạt động phổ biến là Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) và TTVV (Trọng tài ad-hoc)
Ở Việt Nam, trọng tài kinh tế xuất hiện từ thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể sản xuất - kinh doanh Tuy nhiên, Trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời kỳ đó không phải là TTTM theo đúng nghĩa Đến năm 2003, TTTM mới được quy định cụ thể tại PLTTTM năm 2003 và sau này được quy định rõ ràng hơn trong LTTTM năm 2010 Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã góp phần tích cực vào việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời các tranh chấp xảy ra trong hoạt động thương mại, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
TTVV (hay còn gọi là trọng tài ad-hoc) là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp của TTTM được thành lập theo các yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và sẽ tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết Bản chất của TTVV là đề cao tính thiện chí giải quyết vụ tranh chấp của các bên đương
sự Do thủ tục tố tụng của TTVV không bắt buộc phải tiến hành theo quy tắc của một
tổ chức Trọng tài nào mà là do các bên tự thỏa thuận nên quyền tự định đoạt của các bên trong tranh chấp là rất lớn, chỉ cần hai bên có thiện chí thì tranh chấp sẽ được giải quyết nhanh chóng và thuận tiện Có thể nói đây là phương thức giải quyết rất thích hợp trong giải quyết các tranh chấp trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, trên thực tiễn việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng hình thức TTVV còn rất hạn chế
Vì vậy, việc nghiên cứu các nguyên nhân, hạn chế của TTVV và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TTVV là rất cần thiết
Trang 9Do vậy, để có cái nhìn sâu sắc hơn và toàn diện hơn đáp ứng yêu cầu của thực tiễn bối cảnh xã hội, tác giả đã chọn vấn đề: “Pháp luật về TTVV theo pháp luật Trọng tài thương mại ở Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật
về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh bằng trọng tài là đề tài có tính thời
sự cao được các doanh nghiệp rất quan tâm Do vậy, từ trước tới nay có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể chia các công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thành hai nhóm lớn sau:
- Nhóm các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ Luật học: có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc tại Việt Nam của tác giả Trần Thị Thắm (Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013); Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự bằng trọng tài thương mại và thực tiễn áp dụng tại Lào của tác giả Souksakhone Ladvongxay ( Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2019); Cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam của tác giả Hoàng Thị Lệ Mỹ (Luận văn thạc sĩ luật học; Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014); Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam của tác giả Dương Thị Phương Dung (Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2016); Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài thương mại – Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) của tác giả Phạm Thị Thu Trang (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2019); Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - Thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Mạnh Linh (Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015); Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài trong bối cảnh thời đại công nghệ số - Xu hướng phát triển trên thế giới, thách thức và cơ hội tại Việt Nam của tác giả Hà Mạnh Tú (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm
Trang 102018); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam của tác giả Phạm Hải Vân (Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017); Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Đinh Văn Ba (Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2014); Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Hải Yến ( Viện Đại học Mở
Hà Nội, năm 2015); Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam của tác giả Trần Lan Hương (Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở
Hà Nội, năm 2017); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài Việt Nam của tác giả Thạch Thị Quỳnh Loan (Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học
Mở Hà Nội, năm 2015); Pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam - Thực trạng
và giải pháp của tác giả Nguyễn Thị My (Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học
Mở Hà Nội, năm 2015); Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng Trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam của tác giả Trần Thị Ngọc Liên (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011)
- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành Luật: Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này chủ yếu được công bố trên các tạp chí như tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,… Trong đó có thể kể đến các bài
viết tiêu biểu như: "Tính bảo mật" trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, của tác giả Tào Thị Huệ, Tạp chí Nghề Luật, 2019 - Số 1, tr 76-80; Bàn về các nguyên tắc của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại, của tác giả Nguyễn Vũ
Hoàng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2010 - Số chuyên đề về Pháp luật Trọng tài
thương mại, tr 25-34; Bàn về khắc phục sai sót trong tố tụng trọng tài nhằm tránh việc hủy phán quyết trọng tài, của tác giả Hà Thị Thanh Bình, Phạm Hoài Huấn, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 4/2015, tr 44 – 49; Bất cập của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và hướng hoàn thiện, của tác giả Dương Quỳnh Hoa, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, 2019 - Số 1, tr 49-54; Căn cứ hủy phán quyết trọng tài liên quan đến chứng cứ và sự khách quan của trọng tài viên trong tố tụng trọng tài - Bất cập và hướng hoàn thiện, của tác giả Phan Thông Anh, Tạp chí Khoa học pháp lý Số 6/2015,
tr 57 – 64; Chế định thỏa thuận trọng tài dưới góc độ pháp luật so sánh - thực tiễn
Trang 11các nước và Việt Nam, của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng, Tạp chí Nghề Luật, Số 1/2014,
tr 10 – 15; Đặc điểm của điều khoản thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế và kinh nghiệm cho các bên ký kết, của tác giả Nông Quốc Bình, Tạp chí Luật học Số 5/2018,
tr 3 – 11; Đặc trưng cơ bản của trọng tài thương mại ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn
Viết Tý, Tạp chí Luật học, 2019 - Số 04, tr 51-60
Nhìn chung các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu
về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thường trực và TTVV, nhưng chủ yếu là nghiên cứu hình thức giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài thường trực mà chưa đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến TTVV Về phần thực tiễn còn chưa thể hiện thực trạng vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV Do
đó các giải pháp cũng như kiến nghị liên quan đến vấn đề này là vô cùng hạn chế Hiện nay, chưa có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, chuyên sâu và có hệ thống về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV ở Việt Nam Do vậy, nội dung nghiên cứu của luận văn này hoàn toàn không trùng lặp về mặt nội dung với các công trình nghiên cứu đã nêu trên Hơn nữa đề tài mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật đảm bảo sự thuận lợi, hợp lý trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài của các đương sự và trong hoạt động tố tụng của các trung tâm trọng tài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra những điểm tích cực, hạn chế của pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của các thiết chế trong việc thi hành pháp luật TTVV
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là trình bày một cách có hệ thống và chứng minh, phân tích một cách có căn cứ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 12về TTVV để thấy được sự hình thành, phát triển và hoàn thiện dần dần, từng bước các chế định về TTVV ở nước ta
Tác giả cũng trình bày những ưu điểm, thành công của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, nhược điểm, bất cập của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV
Từ đó, tác đưa ra yêu cầu và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV cũng như các giải pháp để thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật về TTVV
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề sau:
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, trong đó tập trung nghiên cứu sâu các quy định của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam về TTVV và quy định về vấn đề này có trong Luật mẫu của Ủy ban Liên hợp quốc về trọng tài thương mại (UNCITRAL)
- Thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
về TTVV trong thời gian gần đây
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về TTVV theo pháp luật trọng tài thương mại Tác giả luận văn đi sâu tìm hiểu, phân tích chế định về TTVV theo LTTTM năm 2010; nghiên cứu thực tiễn việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng TTVV ở nước ta, đề ra yêu cầu và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về TTVV, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TTVV trên thực tế
5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu luận văn
Trang 13Tác giả sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng Nhà nước và pháp luật
Với đề tài này, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: tổng hợp,
so sánh, phân tích các quy định của pháp luật TTTM Việt Nam về TTVV, để từ đó rút ra được những ưu điểm và nhược điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV với Trọng tài thường trực Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo thêm các quy định trong luật Mẫu của Ủy ban Liên hợp quốc về trọng tài thương mại quốc
tế Từ đó có thể thấy được sự tương đồng cũng như khác biệt trong quy định pháp luật Trọng tài thương mại của Việt Nam, từ đó có những kiens nghị điều chỉnh cho thích hợp khi hội nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, làm phong phú, hoàn chỉnh, sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TTVV nói riêng và TTTM nói chung
Bên cạnh đó, luận văn là tài liệu tham khảo, hữu ích trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập các môn học liên quan đến TTVV và giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài tại các sở đào tạo luật tại Việt Nam Các giải pháp đưa ra trong luận văn có tính khả thi, khá toàn diện, khoa học, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam,
có giá trị tham khảo trong hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật về TTVV tại nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Trọng tài vụ việc
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc ở Việt Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài vụ việc
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC
VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài vụ việc
1.1.1 Khái niệm về Trọng tài vụ việc
Hiện nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “Trọng tài vụ việc” TTVV có thể hiểu là hình thức trọng tài được thành lập ra theo yêu cầu của các bên đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và sẽ tự giải thể khi tranh chấp ấy
đã được giải quyết TTVV là hình thức trọng tài không nhất thiết phải được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực Các bên đương sự không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của tổ chức trọng tài thường trực nào Họ có thể
tự quy định quy tắc tố tụng riêng khi giải quyết vụ việc Hay nói cách khác, TTVV là trọng tài tự tiến hành.1
Giáo trình Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa:
“TTVV là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp”2
TTVV (hay còn gọi là trọng tài ad-hoc) là hình thức Trọng tài được biết đến đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của trọng tài, hơn thế nữa nó còn xuất hiện trước cả Tòa án Sở dĩ trọng tài ad hoc còn được gọi là TTVV vì nó được thành lập cho từng vụ tranh chấp cụ thể với các Trọng tài viên được lựa chọn một lần để giải quyết các tranh chấp đó.3
Từ thế kỷ thứ VII TCN người Hy Lạp cổ đại đã xem Trọng tài như một phương thức phổ biến để giải quyết các tranh chấp phát sinh, theo đó hai bên có tranh chấp với nhau và chỉ định người xét xử thì họ có quyền được chỉ định người mà họ ưa thích
1 Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO
- Geneva; ITC, 2001, xvii,266p
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật thương mại, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.446
3 Đặng Thị Bích Liễu (1998), Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường trọng tài, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 15để làm việc này, khi đó hai bên phải tôn trọng ý kiến của người đó và không được thực hiện thưa kiện trước Tòa án nữa Và đó là khởi nguồn của hình thức TTVV Về sau khi thương mại phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa hình thành thì Trọng tài thường trực mới xuất hiện Trọng tài thường trực là hình thức trung gian giữa TTVV và Tòa án, tuy ra đời sau TTVV nhưng Trọng tài thường trực lại ngày càng phát triển và chiếm ưu thế hơn so với TTVV Quá trình phát triển từ hình thức TTVV tới hình thức trọng tài thường trực là một quá trình bổ sung hoàn thiện các hình thức
tổ chức của trọng tài4
Tuy nhiên sau khi Trọng tài thường trực ra đời thì vai trò của TTVV không bị chấm dứt mà vẫn được thừa nhận như một hình thức trọng tài không thể thiếu bên cạnh Trọng tài thường trực và ngày càng được hoàn thiện hơn Sự đa dạng và phức tạp của tranh chấp thương mại đòi hỏi phải có nhiều loại hình Trọng tài thích hợp để các bên xem xét lựa chọn Vì vậy mà hầu hết các nước đều tôn trọng và thừa nhận TTVV như là một hình thức không thể thiếu bên cạnh Trọng tài thường trực để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp với chính mình
TTVV là loại hình Trọng tài được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đáp ứng việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trường nhất là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có khuynh hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ hiện nay Lợi thế của loại hình trọng tài này là thỏa mãn sự lựa chọn một cách linh hoạt của các bên tranh chấp Song cũng có một số nước chưa ghi nhận loại hình Trọng tài này
Ở Trung Quốc, Luật trọng tài chỉ quy định về trọng Tài thường xuyên, không
có TTVV5 Do vậy các tranh chấp chỉ được giải quyết bởi các ủy ban Trọng tài thuộc các Trung tâm trọng tài thường trực mà không được giải quyết bởi các Trọng tài viên/
Trang 16hội đồng Trọng tài do các bên thành lập Quy định này của Trung Quốc cũng giống như Nghị định 116/CP của chúng ta trước đây
Ở Việt Nam, Đến năm 2003 TTVV chính thức được ghi nhận trong pháp luật chuyên ngành, đó là sự thừa nhận trong PLTTTM 2003 với tên gọi là “Trọng tài do các bên thành lập” Và đến LTTTM năm 2010 đã đưa ra thuật ngữ “TTVV” để thay cho tên gọi “Hội đồng trọng tài do các bên thành lập” LTTTM năm 2010 đã có nhiều quy định thực tế và gần gũi hơn để TTVV được triển khai trên thực tiễn
TTVV được hiểu là hoạt động của các trọng tài viên, với tư cách là chủ thể thứ
ba độc lập với các bên đang tranh chấp, xem xét và đưa ra phán quyết về vụ việc đang tranh chấp và buộc các bên phải thi hành TTVV chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và sẽ tự chấm dứt hoạt động khi tranh chấp được giải quyết xong Cũng giống như loại hình trọng tài thường trực, cơ chế giải quyết tranh chấp của TTVV cũng là sự kết hợp giữa hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán
Các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng TTVV thì phải có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên có liên quan đưa tranh chấp đã hoặc có thể sẽ xảy ra để giải quyết tranh chấp bằng phương thức TTVV Thông qua thỏa thuận TTVV, các bên đã gián tiếp thỏa thuận khước từ thẩm quyền xét xử của Tòa án Như vậy, yếu tố được xem là cơ bản nhất trong phương thức trọng tài phải là yếu tố thỏa thuận Cũng giống như Tòa án, việc giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài thường trực hay TTVV điều mang tính chất tài phán
1.1.2 Đặc điểm của Trọng tài vụ việc
Thứ nhất, TTVV chỉ được thành lập khi tranh chấp phát sinh và sẽ chấm dứt
hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp
Nếu như Trọng tài thường trực có trụ sở riêng, hoạt động theo quy tắc có sẵn thì tính chất “lâm thời” của hình thức TTVV thể hiện ở chỗ Trọng tài chỉ được thành lập theo sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp để giải quyết các vụ việc cụ thể Tổ chức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong khoảng thời gian giải quyết vụ tranh chấp
Trang 17giữa các bên Khi đã giải quyết xong vụ tranh chấp, Trọng tài sẽ tự chấm dứt hoạt động
Thứ hai, Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy tổ
chức cố định và không có danh sách trọng tài viên riêng
Trọng tài viên được các bên tranh chấp lựa chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất kỳ trung tâm trọng tài nào Đây cũng chính là ưu điểm lớn của hình thức trọng tài này vì các bên có nhiều
cơ hội để lựa chọn được trọng tài viên thực sự có sự am hiểu về lĩnh vực đang xảy ra tranh chấp Từ đó, tạo điều kiện để các bên có thể giải quyết được vụ tranh chấp một cách nhanh chóng và không tốn nhiều thời gian, chi phí
Thứ ba, Trọng tài vụ việc không có bộ quy tắc tố tụng có sẵn dành riêng cho
mình Tuy nhiên, để tránh lãng phí thời gian, chi phí cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc tố tụng mới, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận để lựa chọn bất kì một quy tắc tố tụng phổ biến nào, mà thông thường là bộ quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế
Như vậy, TTVV là hình thức tổ chức đơn giản, linh hoạt và mềm dẻo về phương thức tổ chức cũng như cách thức hoạt động, thời gian tiến hành tố tụng thường nhanh chóng và ít tốn kém nên thường phù hợp với tranh chấp nhỏ, ít tình tiết phức tạp, các bên có nhu cầu giải quyết nhanh, nhất là các bên có hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng
1.2 Ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc
1.2.1 Ưu điểm
Trọng tài vụ việc với bản chất là một hình thức Trọng tài, vì vậy TTVV mang đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của TTTM so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác như là: thương lượng, hòa giải và tòa án
Trang 18Người ta sử dụng Trọng tài thay vì Tòa án hay thương lượng, hòa giải vì những
ưu điểm và lợi ích vượt trội của nó Trọng tài được thiết lập như là một cơ chế giải quyết tranh chấp có tính “ràng buộc và chung thẩm thông qua một hội đồng trọng tài độc lập” (Điều 6 Pháp lệnh TTTM 2003) Trọng tài tập trung được những điểm mạnh
và khắc phục được những điểm yếu của cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc các phương thức giải quyết tranh chấp khác như: thương lượng hoặc hòa giải
Thương lượng là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò của một chủ thể thứ ba Các đương sự có thể trực tiếp hoặc thông qua đại diện gặp nhau đàm phán về những bất đồng và tranh chấp đã phát sinh Đại diện cho mỗi bên có thể là giám đốc hoặc người đại diện theo ủy quyền Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên tự do ý chí, bình đẳng cùng nhau xem xét vấn đề trên cơ
sở những quy định của pháp luật hiện hành và đảm bảo sự công bằng của các bên Nếu như các bên đạt được sự thỏa thuận thì coi như tranh chấp đã được giải quyết Kết quả đạt được trong quá trình thương lượng có giá trị ràng buộc đối với các bên
Có thể nói đây là một phương thức giải quyết hoàn toàn dựa trên ý chí của các bên tranh chấp, không có sự can thiệp của chủ thể thứ ba, có chăng đó là các chuẩn mực được pháp luật quy định Hầu hết các tranh chấp đều có thể giải quyết thông qua phương thức thương lượng
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một bên thứ ba, có thể
là cá nhân (hòa giải viên) hoặc tổ chức do các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn Bên thứ ba này đóng vai trò trung gian, dàn xếp để hai bên không còn xung đột với nhau nữa Trong hòa giải, hòa giải viên không quyết định vụ tranh chấp mà có vai trò giúp các bên giải quyết vụ tranh chấp thông qua một quá trình thương lượng và thu hẹp những điểm bất đồng Tuy nhiên, hòa giải viên có thể đưa ra khuyến nghị giúp các bên đạt được mục đích nếu như được các bên đồng ý Sau quá trình hòa giải, hòa giải viên sẽ giúp các bên đạt được một thỏa thuận Tuy nhiên, khác với quyết định trọng tài, thỏa thuận của các bên sẽ không mang tính ràng buộc Trong trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thỏa thuận hòa giải, bên kia có thể khởi kiện ra Trọng tài hoặc Tòa án tùy theo thỏa thuận của các bên
Trang 19Thương lượng và hòa giải là hình thức phổ biến thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp Cả hai hình thức giải quyết tranh chấp này được thương nhân rất ưa chuộng vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém và nói chung không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên, cũng như giữ được các bí mật kinh doanh
Hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải
là không đưa ra được một phán quyết dứt điểm để giải quyết tranh chấp, không có cái gọi là “phán quyết cuối cùng” mà nó chỉ đơn thuần là sự dàn xếp giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp Kết quả của hòa giải, thương lượng có thể thành hoặc không thành, mâu thuẫn sau khi hòa giải, thương lượng có thể được giải quyết hay tiếp tục, vì dù
có đạt được thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó không mang tính ràng buộc đối với các bên, cho nên các bên vẫn có thể không thực hiện nội dung đã thỏa thuận Ngoài ra hai phương thức này cũng chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh riêng có tính hệ thống nên chưa đáp ứng được yêu cầu của các bên tranh chấp Thương lượng, hòa giải – do vậy thường chỉ được sử dụng đối với các tranh chấp đơn giản, nhẹ nhàng hoặc khi có tranh chấp mới xảy ra đang ở giai đoạn chưa gay gắt, căng thẳng, hai bên vẫn có thể ngồi lại với nhau để dùng bàn bạc, giải quyết mâu thuẫn Trong điều khoản giải quyết tranh chấp của các hợp đồng thương mại, thương lượng, hòa giải luôn được nhắc đến như một yếu tố không thể thiếu của quá trình giải quyết tranh chấp song Tòa án, Trọng tài vẫn là phương án có tính chất quyết định nếu thương lượng, hòa giải không mang lại kết quả
Giải quyết bằng Trọng tài kết hợp được ưu việt của hai phương thức trên đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế của chúng Trọng tài có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh tạo cơ sở pháp lý cho phương án giải quyết tranh chấp này Trọng tài có quyền ra phán quyết mang tính chất chung thẩm mà các bên tham gia phải tuân thủ Ngoài ra Trọng tài còn có sự hỗ trợ của các cơ quan quyền lực như: Tòa án, Thi hành án trong quá trình Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp và các cơ quan quản lý nhà nước khác như: Chính phủ, Bộ Tư pháp,… để đảm bảo cho Trọng tài hoạt động và mang lại hiệu quả
Trang 20Mặc dù là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên ý chí của các đương sự nhưng không có nghĩa việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM có cùng bản chất, nội dung với phương thức trên mà trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài các Trọng tài viên được các bên lựa chọn có quyền xem xét và ra các quyết định xét xử hoàn toàn độc lập trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu mà các bên đã cung cấp hoặc có được bằng các quá trình như: Trọng tài viên điều tra, giám định, nhân chứng cung cấp và trên cơ sở những quy định của pháp luật Vì vậy, tuy là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên ý chí của các bên đương sự, song quyền lực tài phán của Trọng tài được pháp luật công nhận, các quyết định của Trọng tài các bên có nghĩa vụ phải thi hành
Có nhiều phân tích khác nhau về những ưu điểm và khuyết điểm của mỗi cơ chế giải quyết tranh chấp, nhất là khi so sánh cơ chế tòa án và trọng tài Hơn nữa ưu điểm hay khuyết điểm tức là mặt lợi và bất lợi của các Trọng tài có thể là không giống nhau từ quan điểm của chính các bên tranh chấp khi họ có quyền lợi đối ngược nhau nhất là khi một bên muốn thúc đẩy tố tụng Trọng tài còn một bên lại muốn trì hoãn hay gây khó khăn cho việc giải quyết trọng tài Do đó, ưu điểm và khuyết điểm của Trọng tài chỉ mang tính tương đối Tuy nhiên trong bối cảnh kinh doanh bình thường
và các bên tranh chấp đều có thiện chí với nhau để giải quyết bất đồng thì Trọng tài
có khá nhiều ưu điểm so với Tòa án Cụ thể:
Thứ nhất, bảo đảm giữ bí mật và uy tín kinh doanh của các bên tranh chấp cũng như duy trì được quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa các bên
Tâm lý chung của các nhà kinh doanh là các tranh chấp phát sinh cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng, kín đáo, không ồn ào, đảm bảo giữ uy tín của các doanh nghiệp và sau khi tranh chấp được giải quyết thì mối quan hệ hữu hảo giữa các bên vẫn được bảo toàn Chỉ có Trọng tài mới có thể thỏa mãn được yêu cầu đặc trưng này của các nhà kinh doanh Tố tụng Trọng tài và phán quyết Trọng tài là phạm
vi tư và chỉ các bên tranh chấp được tiếp cận Các phiên họp xét xử của Trọng tài có thể tiến hành không công khai, Trọng tài viên có trách nhiệm phải giữ bí mật các vấn
đề có liên quan đến các bên, quyết định của Trọng tài chỉ công bố rộng rãi khi được
Trang 21các bên đồng ý Các Trọng tài viên không có quyền tiết lộ các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc cho bên thứ ba nếu chưa được các bên chấp nhận
Thứ hai, đảm bảo tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp kinh tế cho thấy các tranh chấp này thường liên quan đến những tài sản có giá trị lớn và bên có nghĩa vụ thường cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ để chiếm dụng số vốn của đối tác Bởi vậy, một trong những yêu cầu hàng đầu khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là nhanh chóng, dứt điểm tránh kéo dài
Thời gian cũng là yếu tố tạo ra cơ hội kinh doanh nếu quá chú trọng vào việc giải quyết tranh chấp các bên có thể bỏ lỡ những cơ hội mà giá trị còn có thể lớn hơn giá trị vụ việc đang tranh chấp Hơn nữa, việc giải quyết vụ việc không nhanh chóng, dứt điểm sẽ gây ra tâm lý căng thẳng kéo dài cho các nhà kinh doanh làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Thủ tục tố tụng của Tòa án khó có thể đáp ứng được yêu cầu này Trọng tài với nguyên tắc xét xử một lần đương nhiên có khả năng đáp ứng nhu cầu, mong muốn này của các nhà kinh doanh
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành linh hoạt tạo tâm lý thoải mái và quyền chủ động hơn cho các bên
Quá trình giải quyết tranh chấp được bản thân Tòa án và các chủ thể tham gia
tố tụng đều phải triệt để tuân thủ nguyên tắc này, trong khi tố tụng Tòa án thể hiện sự cứng nhắc, nguyên tắc thì Trọng tài lại được tiến hành với những quy tắc tố tụng mềm dẻo, linh hoạt Các bên tranh chấp có thể lựa chọn giải quyết tại Hội đồng Trọng tài
do các bên thành lập
Trong trường hợp các bên lựa chọn TTVV để giải quyết tranh chấp thương mại Trong thủ tục xét xử ở Tòa án thì các bên không có quyền lựa chọn cho mình thẩm phán xét xử mà sẽ do Tòa án chỉ định Ngược lại TTVV quyền lựa chọn Trọng tài viên do các bên quyết định do đó các bên có điều kiện để lựa chọn cho mình những người có trình độ, năng lực chuyên môn giỏi và phù hợp để giải quyết tranh chấp
Trang 22Trong trường hợp không còn tin tưởng Trọng tài viên đã lựa chọn các bên cũng
có quyền thay đổi bằng một Trọng tài viên khác Các bên tranh chấp cũng có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, ngôn ngữ áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp Điều này tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh chủ động sắp xếp thời gian để vừa có thể tham gia giải quyết tranh chấp vừa có thể điều hành được hoạt động kinh doanh của mình một cách tốt nhất Đó cũng chính là một trong những ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Thứ tư, Trọng tài đặc biệt thích hợp đối với các tranh chấp có bản chất phức tạp, kỹ thuật
Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hiện nay chủ yếu có thẩm quyền trong lĩnh vực thương mại, mà các tranh chấp trong lĩnh vực này có không ít vụ việc rất phức tạp đòi hỏi người đứng ra giải quyết phải có sự am hiểu sâu sắc về nó và có thể là cả kinh nghiệm thực tế, chứ không chỉ đơn thuần là sự hiểu biết về trên lý thuyết Trên thực tiễn các Trọng tài viên thường có ưu thế hơn các thẩm phán Tòa án
ở khía cạnh này vì họ được lựa chọn chỉ để giải quyết các tranh chấp trong thương mại Không những thế các bên tranh chấp còn được tự do lựa chọn Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên sâu như chứng khoán, xuất nhập khẩu, sở hữu trí tuệ… các lĩnh vực phù hợp với nội dung vụ tranh chấp
Ưu thế này không thể có được khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, vì quy tắc tố tụng của Tòa án là Chánh án sẽ chỉ định thẩm phán thụ lý vụ tranh chấp mà các bên tranh chấp không được quyền ý kiến hoặc thay đổi – Trừ khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật
Thứ năm, trong bối cảnh quốc tế hóa các vụ việc có yếu tố nước ngoài thì việc thi hành các quyết định Trọng tài dễ dàng hơn thi hành án
Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết Trọng tài đã có khoảng hơn 150 thành viên tham gia đã quy định rằng các nước thành viên của công ước này có nghĩa vụ công nhận và cho thi hành các phán quyết của Trọng
Trang 23tài của nước kia cũng là thành viên Do vậy, đây cũng là một trong những ưu thế lớn của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài so với các hình thức khác
1.2.2 Nhược điểm
Tuy nhiên so với Tòa án, Trọng tài cũng có những nhược điểm nhất định, điều này giải thích cho hiện tượng tại sao đã có sự tồn tại của Trọng tài mà các bên vẫn lựa chọn Tòa án thay vì Trọng tài để giải quyết Các nhược điểm đó là:
Thứ nhất, Trọng tài không phải là cơ quan quyền lực nhà nước cho nên khi
xét xử trong trường hợp cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo chứng cứ của vụ việc, Trọng tài không thể ra quyết định mang tính chất bắt buộc về điều đó mà phải yêu cầu Tòa án (trên cơ sở yêu cầu của một trong các bên hoặc của
cả hai bên, hoặc do các bên tự yêu cầu Tòa án) Luật TTTM 2010 của Việt Nam đã cho phép các Trọng tài viên được quyền áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ việc, song thẩm quyền đó cũng chỉ trong phạm vi đối với hai bên tranh chấp chứ không phải với một bên thứ ba liên quan Do vậy cần có
sự hỗ trợ của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu đối tượng
bị áp dụng là cá nhân, tổ chức khác
Thứ hai, khả năng sai sót về mặt nội dung trong quyết định Trọng tài không
thể khắc phục được vì quyết định Trọng tài là chung thẩm: khác với bản án của tòa
án, ngoài hai cấp xét xử, còn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Quyết định của Trọng tài là chung thẩm có giá trị thi hành ngay
mà không một cơ quan nào có quyền can thiệp Tòa án không hủy quyết định Trọng tài vì đúng sai về mặt nội dung của của vụ tranh chấp, thậm chí “Tòa án không xem xét lại nội dung vụ tranh chấp” mà chỉ “kiểm tra xem quyết định Trọng tài có thuộc một trong các trường hợp bị hủy hay không” Điều này tạo ra tính nhanh chóng của Trọng tài – là một trong những ưu thế hơn hẳn Tòa án Tuy nhiên mặt trái của nó là không thể khắc phục được nhưng sai sót, nhầm lẫn… trong nội dung quyết định trọng tài Nhiều khi những sai sót, nhầm lẫn này là rất đáng kể gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia giải quyết tranh chấp Do vậy Hội đồng Trọng tài phải hết
Trang 24sức thận trọng, nghiêm túc, có trách nhiệm và công bằng, khách quan khi ra phán quyết trọng tài
Thứ ba, việc thực thi những phán quyết cuối cùng của Trọng tài phải trông
cậy vào sự hỗ trợ của tòa án Điều này có nghĩa là quyết định trọng tài không có hiệu lực đương nhiên mà phải thông qua việc xem xét của Tòa án – dù sự xem xét đó chỉ mang tính hình thức Tuy nhiên cũng có một số quốc gia không cần sự hỗ trợ đó, Việt Nam là một trong những nước như vậy Quyết định của TTTM Việt Nam đương nhiên có hiệu lực thi hành – trừ khi có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án mới xem xét lại quyết định Trọng tài về mặt hình thức, thủ tục
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày nay, sự ra đời của TTTM – một tổ chức
xã hội – nghề nghiệp do các Trọng tài viên sáng lập trên cơ sở giấy phép của Bộ Tư pháp nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh – là điều phù hợp và tất yếu Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vẫn được coi là ưu thế khi mà đất nước tham gia vào hội nhập thế giới Ngoài các ưu điểm kể trên, TTTM còn là tổ chức không đại diện cho quyền lực Nhà nước nên rất phù hợp
để giải quyết những tranh chấp mà các bên có quốc tịch khác nhau (Tòa án về nguyên tắc là xét xử độc lập nhưng dễ bị chi phối bởi quyền lợi dân tộc, do đó thường các bên tranh chấp có quốc tịch khác nhau sẽ không chọn tòa án của nhau) Vì vậy họ thường lựa chọn Trọng tài, nhất là Trọng tài của nước thứ ba giải quyết tranh chấp để đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết tranh chấp.6
1.3 So sánh hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc với Trọng tài thường trực
Theo phân tích ở trên, TTVV và Trọng tài thường trực là hai hình thức cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đó là phương pháp khác biệt của quá trình tố tụng trọng tài Mỗi hình thức có những lợi thế và hạn chế khác nhau, lựa chọn hình thức nào là quyền của các bên tranh chấp
6 Phạm Thị Hoa Lệ Diễm (2010), Trọng tài vụ việc theo pháp luật Trọng tài Thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Tr.20-28
Trang 25So với Trọng tài quy chế, TTVV có ưu điểm cơ bản nhất đó là quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp là rất lớn Các bên tranh chấp có thể tự định đoạt cách thiết lập Hội đồng Trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng với tính chất từng vụ tranh chấp, thể hiện ở chỗ: các bên tranh chấp tự tổ chức Hội đồng trọng tài, tự thỏa thuận
về quy trình tố tụng… Về cơ bản các bên đương sự không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụng chừng nào đảm bảo được nguyên tắc xét xử khách quan trong trường hợp của họ Đặc điểm này là quan trọng cho phép chúng ta có thể phân biệt được TTVV với Trọng tài quy chế Đối với việc giải quyết tại Trọng tài quy chế các bên đương sự phải tuân theo một quy tắc tố tụng nhất định do trung tâm đó đề ra, một
số Trung tâm Trọng tài còn bắt các bên đương sự lựa chọn Trọng tài viên trong danh sách của trung tâm Trọng tài đó PLTTTM 2003 quy định các bên tranh chấp phải lựa chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài” LTTTM 2010 tuy không bắt buộc các bên tranh chấp trong Trọng tài quy chế phải chọn Trọng tài viên của trung tâm, song trên thực tế các Trung tâm Trọng tài thường có quy định các bên tranh chấp đã chọn Trung tâm Trọng tài để giải quyết tranh chấp thì sẽ phải lựa chọn các Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài đó để giải quyết vụ việc
Quyền lựa chọn Hội đồng trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài của TTVV sẽ tạo cho các bên tranh chấp sự chủ động trong việc giải quyết tranh chấp của mình Căn cứ vào tình hình và tính chất của vụ việc cụ thể mà hai bên có thể lựa chọn Trọng tài viên/ Hội đồng trọng tài thích hợp để giải quyết Bởi tranh chấp thương mại rất đa dạng, phong phú, có nhiều lĩnh vực chuyên biệt mà không phải Trọng tài viên nào cũng thông thạo Nếu các bên tranh chấp được quyền tự do lựa chọn Trọng tài viên thì họ sẽ yên tâm hơn khi giao phó việc giải quyết vướng mắc trong kinh doanh của mình cho người mình tin cậy lựa chọn Trong lĩnh vực tố tụng, dù là tố tụng trọng tài cũng có những thủ tục, quy trình mang tính chất bắt buộc mà các bên tranh chấp phải tuân thủ - dù không muốn hoặc cho rằng không cần thiết phải có khi giải quyết vụ việc của mình Đôi khi những thủ tục ấy làm lãng phí thời gian, tiền bạc của cả hai bên mà không mang lại hiệu quả giải quyết Do vậy, việc hai bên được tự do lựa chọn quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp thích hợp với tính chất vụ việc, sẽ khắc phục được những hạn chế trên, rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp Ngoài ra các
Trang 26bên tranh chấp trong TTVV còn được tự định đoạt rất nhiều các vấn đề khác nữa trong giải quyết tranh chấp như: ngôn ngữ, địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp…
vì bản chất của TTVV là Trọng tài do các bên tự tiến hành Bởi vậy, có thể tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp là thế mạnh lớn nhất của TTVV so với Trọng tài quy chế Trọng tài quy chế, mặc dù các bên các bên cũng được thỏa thuận rất nhiều nhưng không phải là tuyệt đối như TTVV, mà họ vẫn phải chịu những ràng buộc chung mang tính nguyên tắc của các Trung tâm trọng tài Theo “Pháp luật và thực tiễn Trọng
tài thương mại quốc tế” thì “Sự khác biệt giữa Trọng tài vụ việc và Trọng tài quy chế vẫn như sự khác biệt giữa một chiếc áo do thợ may riêng và may đại trà”7
Một ưu điểm nữa của TTVV so với Trọng tài quy chế, đó là việc tiến hành TTVV có chi phí thấp hơn và thời gian giải quyết nhanh Trong Trọng tài thường trực, các bên sẽ nhận được sự hỗ trợ nhất định từ tổ chức Trọng tài này liên trong việc
tổ chức và giám sát tố tụng trọng tài Đây được xem là ưu thế hơn TTVV của Trọng tài quy chế, vì có sự giám sát hoạt động của Hội đồng Trọng tài từ phía trung tâm trọng tài Song để nhận được sự giúp đỡ đó, các bên phải trả một số chi phí nhất định gọi là chi phí hành chính, các chi phí này có thể nằm trong phí Trọng tài hoặc được tách riêng Với việc lựa chọn hình thức TTVV, các bên sẽ không phải trả thêm những khoản chi phí hành chính cho các trung tâm trọng tài, thông thường các khoản chi phí này không hề nhỏ Ví dụ, theo Quy tắc tố tụng của Tòa án Trọng tài quốc tế ICC có hiệu lực từ 1/3/2017, khi nộp đơn kiện, Nguyên đơn đồng thời phải nộp một khoản phí đăng ký là 5.000 USD và khoản phí này sẽ không được trả lại trong bất cứ điều kiện nào Mức phí hành chính tối đa mà ICC yêu cầu các bên phải nộp có thể lên tới 150.000 USD.8 Theo Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung tâm Trọng Tài Quốc tế Việt Nam, Điều 34 thì phí Trọng tài gồm:
“1 Chi phí để trả thù lao cho các Trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp;
2 Chi phí hành chính của Trung tâm liên quan đến việc giải quyết vụ tranh chấp;
Trang 273 Chi phí đi lại, ở và các chi phí có liên quan khác của các Trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp được quy định tại Văn bản hướng dẫn của Trung tâm có hiệu lực tại thời điểm lập dự tính chi phí; chi phí cho các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng Trọng tài;
4 Chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí tham vấn ý kiến chuyên gia”
Cũng theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm này thì khi nộp đơn khởi kiện trừ khi các bên có thỏa thuận khác, Nguyên đơn phải nộp đủ các chi phí được quy định tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên của Quy tắc này theo Biểu phí trọng tài của Trung tâm có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn khởi kiện Trong trường hợp Nguyên đơn không nộp đủ các loại chi phí này trong thời hạn do Trung tâm ấn định thì được xem là rút đơn khởi kiện nhưng sẽ không ảnh hưởng đến quyền được nộp lại đơn khởi kiện Các chi phí nêu tại mục 3 sẽ được nộp sau khi Hội đồng Trọng tài được thành lập, các chi phí ở mục 4 sẽ phải nộp trong trường hợp trưng cầu giám định, định giá tài sản trong
vụ tranh chấp, tham vấn ý kiến của chuyên gia Ngoài ra, các bên còn phải nộp các chi phí phát sinh thêm và các chi phí liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc (Điều 35)
Trong khi đó, đối với TTVV, các bên không phải chịu chi phí hành chính cho Trung tâm Trọng tài và có thể thỏa thuận với các Trọng tài viên về mức thù lao Trọng tài và các chi phí khác mà không chỉ đơn thuần căn cứ vào giá trị của vụ tranh chấp
Do vậy chi phí để giải quyết vụ tranh chấp sẽ rẻ hơn, tiết kiệm hơn cho các bên tranh chấp so với giải quyết bằng trọng tài quy chế, mà trong kinh doanh thương mại các yếu tố: rẻ, nhanh chóng, tiện lợi mà vẫn mang lại hiệu quả luôn được đặt lên hàng đầu để cân nhắc, xem xét
Tuy nhiên, TTVV cũng là một quá trình tốn thời gian để tạo ra những quy định, đặc biệt dành riêng cho TTVV Thời gian và tiền bạc có thể tiết kiệm được thông qua việc chấp nhận hoặc áp dụng các quy định về thủ tục mà đã được tạo ra dành riêng cho vụ việc, ví dụ các quy định của UNCITRAL
Một ưu điểm cơ bản nữa của TTVV là tính linh động cao Đặc điểm này của TTVV rất phù hợp với các tranh chấp mà một bên là chủ thể quốc gia (hoặc có liên
Trang 28quan đến quốc gia) Ví dụ các tranh chấp liên quan đến Công ước chuyển nhượng quyền sử dụng dầu khí như: Sapphire, Texaco, BP và Liamco, vụ Amioil giữa chính phủ Kuwait và công ty dầu khí Independent của Mỹ… Độ linh động của TTVV là một lợi thế quan trọng đối với một tranh chấp có liên quan đến các vấn đề pháp lý có tầm quan trọng lớn hay trong các vụ thiệt hại lớn – và đặc biệt trong những vụ việc
có liên quan tới chủ thể là một quốc gia hay một tổ chức quốc gia có liên quan.9 Thông qua TTVV, có thể tạo ra được những thủ tục tố tụng có lợi hơn cho các bên tranh chấp mà vẫn đạt được những yêu cầu đặt ra trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến chủ thể đặc biệt là quốc gia
Tuy nhiên, so với Trọng tài quy chế TTVV cũng có những hạn chế như: quá trình giải quyết phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên, vì vậy nếu một bên không thiện chí hợp tác thì tranh chấp khó mà giải quyết được; TTVV không có tổ chức để giám sát sự hoạt động của các trọng tài viên và sự hỗ trợ các bên trong trường hợp đặc biệt
Hạn chế lớn nhất (và có thể là bất lợi nghiêm trọng) của TTVV đó là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Thủ tục giải quyết của TTVV hoàn toàn
do các bên tranh chấp tự thỏa thuận cho riêng họ và các Trọng tài viên phải tuân theo Điều này đòi hỏi sự hợp tác của các bên tranh chấp thực hiện một cách đầy đủ, hiệu quả và kỹ càng vì các bên phải thỏa thuận chi tiết về việc tiến hành quá trình tố tụng
Do vậy nếu một bên không có thiện chí, quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng, mà thông thường khi tranh chấp xảy ra bên có nghĩa
vụ thường có thái độ thiếu thiện chí hoặc lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Việc trì hoãn thủ tục trọng tài dường như quá dễ dàng thông qua việc từ chối chỉ định Trọng tài viên hay qua sự kiểm chứng tính công minh của một trong các bên
tỏ ra khó khăn hay ngoan cố kể từ lúc bắt đầu vụ kiện thì không có cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền nào có thể giải quyết được trường hợp này Chỉ khi Hội đồng Trọng
9 Alanredefern, Martin Hunter, Nigel Blackab, Constantine Partansides (2004), Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Sweet & Maxwell, Luân Đôn
Trang 29tài được thành lập và các quy định phù hợp được ban hành thì các TTVV mới có thể thực hiện được trôi chảy như Trọng tài quy chế
Trong TTVV, sẽ không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các Trọng tài viên Vì vậy, kết quả giải quyết vụ việc phần lớn phụ thuộc vào quá trình tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các Trọng tài viên Cả Trọng tài viên và các bên tranh chấp sẽ không có cơ hội nhận được
sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt nào từ một tổ chức Trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện ngoài dự kiến và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được vụ tranh chấp Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên tranh chấp có thể nhận được là từ Tòa án Do vậy, chỉ khi tồn tại một Hội đồng Trọng tài và một số quy tắc
tố tụng cụ thể được xác lập thì quá trình giải quyết vụ việc mới có thể tiến hành được một cách suôn sẻ như Trọng tài thường trực trong trường hợp một bên từ chối không tham gia vào quá trình tố tụng
Như vậy, mỗi một hình thức Trọng tài có thể mạnh và hạn chế riêng, ưu điểm của Trọng tài quy chế lại là nhược điểm của TTVV và ngược lại Lựa chọn hình thức giải quyết nào là tùy thuộc vào tính chất, nội dung vụ tranh chấp cũng như thói quen, thiện chí, thái độ của các bên tranh chấp sao cho các bên đạt được hiệu quả giải quyết tranh chấp cao nhất
Qua việc so sánh, phân tích ưu, nhược điểm của TTVV so với Trọng quy chế
có thể nhận thấy rằng TTVV tuy có bản chất phù hợp với các tranh chấp nhỏ, lẻ, trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ song lại yêu cầu người sử dụng nó phải có sự am hiểu pháp luật, có sự từng trải dày dạn trên thương trường, có kinh nghiệm về tranh tụng
và ý thức cao về vấn đề giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Điều này ngược lại với thực tế của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay: các tranh chấp nhỏ, lẻ, các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thường rất ít am hiểu pháp luật, kinh nghiệm trên thương trường cũng như kinh nghiệm tranh tụng còn non kém, khi có tranh chấp xảy ra thường không chủ động, tích cực trong việc giải quyết tranh chấp mà thường giao phó, ý lại cho một cơ quan tài phán có thẩm quyền Có lẽ vì vậy mà TTVV về
lý thuyết là thích hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay nhưng trên
Trang 30thực tế lại chưa phù hợp nên chưa mang lại hiệu quả như dự tính Cụ thể là TTVV rất
ít được giới doanh nhân quan tâm và cũng có rất ít vụ việc được đưa ra giải quyết tại Trọng tài theo hình thức TTVV từ khi có LTTTM đến nay
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Trọng tài vụ việc và pháp luật Trọng tài vụ việc ở Việt Nam
Thứ nhất, ảnh hưởng của chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế
Yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng quyết định tới sự ra đời của TTTM và pháp luật trọng tài thương mại nói chung trong đó có TTVV là chế độ chính trị Điều này thể hiện rõ nét ở chỗ: Trước đây, bản chất của trọng tài ở các nước xã hội chủ nghĩa và bản chất trọng tài ở các nước tư bản chủ nghĩa hoàn toàn khác nhau Ở các nước XHCN, trọng tài là cơ quan tài phán nhà nước Trong khi đó, ở các nước tư bản chủ nghĩa, trọng tài là tổ chức tài phán tư Như vậy, về thực chất, ở các nước XHCN trước đây không có trọng tài theo đúng nghĩa của nó
Việt Nam với mô hình một nước XHCN, trọng tài và pháp luật về trọng tài ở nước ta ra đời khá sớm Nhưng trọng tài với đúng nghĩa của nó (là tổ chức phi Chính Phủ) thì chỉ đến khi Nhà Nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới có điều kiện để phát triển Hình thức TTVV cũng đã xuất hiện rất sớm nhưng pháp luật về TTVV mới chỉ được ghi nhận từ khi có PLTTTM năm 2003 Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, các tổ chức kinh tế chủ yếu thuộc sở hữu nhà nước nên họ không có quyền tự do hợp đồng, không có quyền tự do định đoạt các công việc của mình Hợp đồng kinh tế được ký kết là để thực hiện các mệnh lệnh, nhiệm vụ kinh tế của Nhà Nước chứ không xuất phát từ nguyện vọng của nhà kinh doanh Do đó, tranh chấp cũng ít khi xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì cũng chỉ giải quyết
ở những cơ quan theo sự chỉ định của Nhà nước đó là Trọng tài Kinh tế Nhà nước hoặc Tòa án Điều này cũng giải thích vì sao thời kỳ này không có các tổ chức trọng tài phi chính phủ Theo đó thì hình thức TTVV cũng chưa được ghi nhận trong pháp luật trọng tài ở nước ta Khi nhà nước ta thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế thì nhiều loại hình doanh nghiệp đã ra đời Các doanh nghiệp này hoạt động
vì mục tiêu kinh doanh, thu lợi nhuận và cạnh tranh gay gắt với nhau trên thị trường
Trang 31Vì thế, các tranh chấp cũng thường xuyên xảy ra và nhu cầu giải quyết tranh chấp một cách dứt điểm, hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo giữ được mối quan hệ lâu dài được coi trọng hơn bao giờ hết Điều này đã tạo điều kiện cho sự ra đời của TTTM ở Việt Nam với tư cách là cơ quan tài phán tư và yêu cầu hoàn thiện về TTTM, trong đó có TTVV ở nước ta, trở thành một yêu cầu bức thiết hiện nay Do đó, có thể khẳng định rằng, chế độ chính trị, chế độ kinh tế có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của pháp luật trọng tài thương mại nói chung và TTVV nói riêng Trình độ phát triển kinh tế cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của TTTM Ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế thì TTTM và pháp luật trọng tài thương mại cũng có sự phát triển khác nhau Kinh tế càng phát triển thì hoạt động thương mại càng đa dạng, từ đó các tranh chấp xảy ra càng nhiều
và phức tạp Điều này đòi hỏi phải có đội ngũ trọng tài viên giàu kinh nghiệm, am hiểu pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp Chính điều này là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của TTTM và pháp luật về trọng tài thương mại ở mỗi quốc gia Đó cũng là lý do tại sao cùng với nền kinh tế thị trường nhưng pháp luật trọng tài thương mại ở những nước có trình độ phát triển khác nhau thì khác nhau Ngay trong một quốc gia, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế thì sự phát triển của TTTM cũng khác nhau.10
Ở Việt Nam Trọng tài chính phủ và pháp luật trọng tài thương mại chỉ ra đời khi Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Còn TTVV ra đời muộn hơn nhiều và chưa được các doanh nghiệp quan tâm lựa chọn Hiện nay, số lượng các vụ việc được giải quyết bằng TTTM ở nước ta ngày càng nhiều Chất lượng trọng tài và ngày càng cao và theo sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, các vụ việc chủ yếu được giải quyết qua các Trung tâm trọng tài (doanh nghiệp lựa chọn trọng tài quy chế để giải quyết tranh chấp), số lượng các vụ việc năm sau thường cao hơn năm trước Điển hình như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam năm 2017 đã tiếp nhận và giải quyết 151 vụ,
10 Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2011), Luật Trọng tài thương mại năm 2010 - Bước phát triển mới của pháp luật trọng tài Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 25-26
Trang 32năm 2018 là 180 vụ11 Việc các doanh nghiệp Việt Nam đang có xu thế sử dụng TTTM để giải quyết tranh chấp ngày càng nhiều đã chứng minh trình độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến hiệu quả chất lượng của hoạt động trọng tài Đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động của TTVV thì sự phát triển biểu hiện ở chỗ: trước đây pháp luật điều chỉnh các hoạt động của TTTM là các nghị định và chưa có quy định
về hình thức TTVV Năm 2003, các nghị định được thay thế bằng PLTTTM đã lần đầu tiên ghi nhận hình thức giải quyết tranh chấp bằng TTVV bên cạnh trọng tài quy chế Hiện nay, TTTM được thống nhất điều chỉnh bằng Luật trọng tài Thương mại năm 2010 với nhiều nội dung được mở rộng phù hợp với pháp luật quốc tế
Thứ hai, do ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam
là phải hình thành một hệ thống pháp luật về TTTM tương đồng với pháp luật trọng tài thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại giữa các quốc gia Đồng thời, việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trên nhiều lĩnh vực ngày càng phát triển đã tạo ra thực tiễn kinh doanh sôi động nên các tranh chấp thương mại phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp hơn Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo động lực trong hoạt động giải quyết tranh chấp của TTTM ở nước ta ngày càng phát triển Đây cũng là xu thế tất yếu đối với các nước khi tham gia hội nhập Yêu cầu đặt ra đối với pháp luật trọng tài của các nước là pháp luật về TTTM phải ngày càng hoàn thiện hơn, thống nhất với Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Chính vì vậy, từ năm 1986 đến nay, Luật trọng tài đã được ban hành ở nhiều nước, trong đó đó hết các nước đều vận dụng các quy định của Luật mẫu UNCITRAL Điển hình như ở Thái Lan có luật trọng tài năm 1987; ở Malaysia có Luật trọng tài năm 1952 được sửa đổi năm 1972 và 1980; ở Singapore có Luật trọng tài năm 1970 được sửa đổi năm 1980; ở Philippines có Luật
về trọng tài năm 1953; ở Trung Quốc có Luật trọng tài năm 1995; ở Cộng hòa Liên bang Nga có Luật trọng tài thương mại quốc tế năm 1993,
Hình thức TTVV đã được quy định từ rất sớm trong các luật trọng tài ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam trước đây, hình thức TTVV chưa được ghi nhận trong
11 Báo cáo thường niên năm 2018 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
Trang 33các văn bản pháp luật về trọng tài Nhưng cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, hình thức trọng tài này đã được ghi nhận lần đầu tiên trong PLTTTM năm 2003 LTTTM năm 2010 có nhiều quy định để TTVV hoàn thiện hơn Quy định này đã làm cho pháp luật trọng tài Việt Nam khá tương đồng với pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới Đây là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam yên tâm hơn trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp
Như vậy, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì sự ra đời và phát triển của pháp luật TTTM nói chung và TTVV nói riêng ở nước ta ngày càng phù hợp hơn với pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới Đây cũng là một yêu cầu tất yếu khách quan khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
Thứ ba, nhận thức của các chủ thể kinh doanh về Trọng tài vụ việc
Các chủ thể kinh doanh chính là những người trực tiếp lựa chọn, sử dụng TTVV trong việc giải quyết các tranh chấp của mình Nếu các chủ thể kinh doanh không biết đến, không tin tưởng lựa chọn trọng tài thì hoạt động trọng tài không thể phát triển được Ở Việt Nam, nhất là những năm gần đây, TTTM đã có bước phát triển nhất định, nhưng so với các nước trên thế giới thì TTTM Việt Nam vẫn chưa có một chỗ đứng xứng đáng, TTVV lại càng chưa được chú ý tới Điều này một phần là do các chủ thể kinh doanh chưa có nhận thức đúng đắn về phương thức giải quyết tranh chấp này Có doanh nghiệp chưa từng biết đến pháp luật về TTTM và cơ chế giải quyết tranh chấp bằng TTTM nói chung cũng như TTVV nói riêng Có doanh nghiệp biết đến TTVV nhưng còn sơ sài Đặc biệt, có doanh nghiệp biết rõ về TTTM nhưng lại không tin tưởng vào phương thức giải quyết tranh chấp này Ở nước ta, các thương nhân cũng như các doanh nghiệp chưa chú ý đến hình thức TTVV trong giải quyết tranh chấp Chỉ khi doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn hình thức trọng tài này thì doanh nghiệp Việt Nam với phải thực hiện theo để giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài
Để TTTM, trong đó có TTVV, thực sự ở chỗ đứng thích hợp cũng như hoạt động được hiệu quả thì nhận thức của các chủ thể kinh doanh phải thực sự thay đổi LTTTM năm 2010 có một nhiệm vụ quan trọng là làm thay đổi nhận thức của các thương nhân về TTTM Chủ trương khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng trọng tài, trong đó có TTVV, trong giải quyết các tranh chấp giữa các bên trước hết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp nhân muốn
Trang 34giải quyết vụ việc của mình một cách nhanh chóng, thuận lợi và có hiệu quả Các chủ thể kinh doanh sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV không chỉ mang lại lợi ích cho các thương nhân mà còn mang lại lợi ích cho xã hội
và giảm tải cho Tòa án
Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến TTVV là chất lượng của đội ngũ Trọng tài viên TTVV hoạt động có hiệu quả hay không, có hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh hay không không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ Trọng tài viên, vì Trọng tài viên là người trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp Nếu Trọng tài viên có năng lực, có uy tín, có đạo đức nghề nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao khi giải quyết tranh chấp, từ đó thúc đẩy sự phát triển của TTVV Ở nước ta, năng lực của các Trọng tài viên chưa cao, chưa đồng đều, chỉ có Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam là có đội ngũ Trọng tài viên đông đảo, có chất lượng cao Khi lựa chọn TTVV, các bên có thể lựa chọn Trọng tài viên trong hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các trung tâm Vì vậy, các Trọng tài viên phải không ngừng nâng cao năng lực, khả năng xét xử để thu hút các doanh nghiệp lựa chọn TTVV để giải quyết tranh chấp
Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động tới sự phát triển của TTVV và pháp luật về TTVV ở Việt Nam TTVV và pháp luật về TTVV cũng là những yếu tố
có sự tác động qua lại, hỗ trợ cho sự phát triển của nhau
1.5 Hệ thống pháp luật về trọng tài vụ việc ở Việt Nam - Quá trình hình thành
và phát triển
1.5.1 Hệ thống pháp luật về trọng tài vụ việc ở Việt Nam
Hệ thống pháp luật về TTVV ở Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Luật Trọng tài Thương mại 2010; Luật Doanh nghiệp 2020; Luật Thương mại 2005; Luật Chứng khoán 2019; Bộ luật Hàng hải 2015; Luật Bảo vệ môi trường 2020; Luật Chuyển giao công nghệ 2017; Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Sửa đổi bổ sung 2019); Luật Xây dựng 2014 (Sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Thi hành án Dân sự 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014); Các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành về TTVV Các Thông tư, chỉ thị của các Bộ hướng dẫn thi hành các luật, nghị định có liên quan đến TTVV Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán về việc hướng dẫn thi hành Luật TTTM
Trang 35Lựa chọn hình thức trọng tài thường trực hoặc TTVV để giải quyết các tranh chấp phát sinh LTTTM 2010, ngoài những quy định chung về giải quyết tranh chấp, còn có một số quy định riêng cho từng hình thức: trọng tài thường trực và TTVV Các văn bản pháp luật này quy định về các nhóm vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, quy định về điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng TTVV Trọng
tài muốn xem xét các tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không thì phải căn cứ vào những điều kiện mà pháp luật quy định Một tranh chấp sẽ thuộc
thẩm quyền giải quyết của TTVV khi có đủ hai điều kiện: Một là, tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền của Trọng tài; Hai là, giữa các bên tranh chấp đó phải có thỏa thuận
trọng tài Điều 2, LTTTM 2010 quy định cụ thể những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài LTTTM cũng có những quy định cụ thể về hình thức của thỏa thuận trọng tài (Điều 16), thỏa thuận trọng tài không thực hiện được (Điều 6), thỏa thuận trọng tài vô hiệu (Điều 18) Ngoài các điều kiện giải quyết tranh chấp bằng TTVV được quy định trong LTTTM thì các luật khác cũng có những quy định cho phép Trọng tài giải quyết một số vấn đề khác
Thứ hai, quy định về việc thành lập Hội đồng TTVV và sự hỗ trợ của Tòa án
khi thành lập Hội đồng TTVV Khác với việc thành lập Hội đồng trọng tài tại những trung tâm trọng tài thì việc thành lập Hội đồng TTVV có các quy định riêng được quy định cụ thể trong LTTTM (Điều 30, Điều 39, Điều 41) Sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thành lập Hội đồng TTVV là rất quan trọng Giải quyết tranh chấp bằng TTVV luôn tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên Nhưng nếu các bên không thể đưa ra những thỏa thuận thích hợp về việc thành lập Hội đồng trọng tài thì tố tụng trọng tài sẽ không thể thực hiện được Để khắc phục tình trạng này, LTTTM quy định các công việc cụ thể mà Tòa án có thể hỗ trợ để thành lập Hội đồng trọng tài, bao gồm: sự hỗ trợ của Tòa án trong việc chỉ định trọng tài viên và Chủ tịch Hội đồng trọng tài (Điều 41) và sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thay đổi Trọng tài viên (Điều 42)
Thứ ba, quy định về việc đăng ký phán quyết TTVV và thi hành phán quyết
TTVV Phán quyết của trọng tài là chung thẩm nên ở Việt Nam phán quyết của trọng
Trang 36tài được thi hành như bản án, quyết định của Tòa án (Điều 67), LTTTM 2010 quy định cụ thể về việc thi hành phán quyết trọng tài đã tạo niềm tin cho các doanh nghiệp khi lựa chọn trọng tài để giải quyết các tranh chấp
1.5.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Trọng tài vụ việc ở Việt Nam
Ở nước ta, chế định TTTM đã xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX, những năm đầu thế kỷ XX, PLTTTM và LTTTM đã đánh dấu một bước nhảy vọt của pháp luật Việt Nam trong hành trình cải cách và hội nhập với chuẩn mực chung của TTTM thế giới Tác giả sẽ đi sâu phân tích tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật TTTM tại Việt Nam trong sự tương quan với pháp luật của quốc tế thông qua giai đoạn như sau:
● Giai đoạn từ 1960 đến trước khi có pháp lệnh TTTM năm 2003
Lịch sử phát triển của TTTM ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1960 cùng với
sự hình thành của cơ chế hợp đồng kinh tế Ngay sau khi Nghị định số 04/NĐ-TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành Điều lệ tạm thời về chế
độ hợp đồng kinh tế thì vào ngày 14/01/1960, Thủ tướng ban hành Nghị định số 20/NĐ-TTg về tổ chức ngành Trọng tài kinh tế Theo Nghị định này thì Trọng tài kinh tế được tổ chức tại Trung ương, Khu (Khu Việt Bắc, Khu tự trị Tây Bắc), Bộ
Có thể nói Trọng tài kinh tế nhà nước thời điểm đấy mang bản chất lưỡng tính (pha trộn giữa Tòa án và Trọng tài) nên nó không phải hình thức TTTM theo đúng nghĩa
Để thuận tiện cho giao lưu quốc tế, Chính phủ đã thành lập Hội đồng Trọng tài ngoại thương (1963)12 và HĐTT hàng hải (1964)13 Đây là những Hội đồng Trọng tài
có tính chất nhà nước, chủ yếu để giải quyết những tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài (mà vì tính chất chủ quyền quốc gia không thể đưa ra giải quyết tại TAND)
Do hoàn cảnh thời chiến, cũng như quan hệ kinh tế của Việt Nam lúc bấy giờ chủ yếu giới hạn trong phạm vi các nước Xã hội chủ nghĩa, nên hoạt động trọng tài nhìn chung không được chú trọng
12 Theo Nghị định 59-CP ngày 39/04/1963
13 Về sau hai Hội đồng trọng tài này là cơ sở để thành lập Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC
Trang 37Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta đã có sự thay đổi Ngày 05/09/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định 116/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm trọng tài, từ đó Trọng tài – một tổ chức phi Chính phủ và là một
tổ chức xã hội nghề nghiệp đã được hình thành với đúng bản chất đích thực của nó Trọng tài theo Nghị định số 116/NĐ-CP có thẩm quyền giải quyết tương tự như Tòa kinh tế Thực tiễn, cả nước trong thời gian này có 05 Trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định số 116/NĐ-CP tập trung tại các tỉnh như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang và Cần Thơ
Thực tiễn pháp lý của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận TTVV như là một hình thức không thể thiếu bên cạnh Trọng tài thường trực Xuất phát từ nhiều ưu điểm, hình thức TTVV được nhiều nhà kinh doanh ưa chuộng Mặc dù đã
có một số văn bản pháp luật thừa nhận quyền được lựa chọn hình thức giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài do các bên thành lập như ở Điều 4, Điều 5 Bộ luật Hàng hải, Điều 122 Nghị định số 124/2000/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,… nhưng chưa có quy định cụ thể nào về việc áp dụng hình thức trọng tài này trên thực tế Đây có thể xem là một hạn chế rất lớn trong lĩnh vực pháp luật trọng tài ở nước ta trong giai đoạn này
● Giai đoạn từ khi có pháp lệnh TTTM năm 2003 đến nay
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật thời kỳ trước, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành PLTTTM bao gồm 8 chương
và 37 Điều, thể hiện rõ nỗ lực to lớn của Việt Nam hòa cùng xu hướng hội nhập Sự
ra đời của PLTTTM (2003) đã đánh dấu một bước tiến mới quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện quy định của pháp luật về trọng tài tại Việt Nam, kịp thời đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp TTVV lần đầu tiên được quy định trong pháp lệnh TTTM một cách cụ thể,
rõ ràng về cách thức tiến hành, quy trình tiến hành tố tụng cũng như giá trị của phán quyết và cơ chế để bảo đảm thi hành quyết định của TTVV Trước khi ban hành pháp lệnh TTTM, hình thức TTVV ở Việt Nam mới chỉ được ghi nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp mà chưa có bất cứ quy định nào về cơ chế giải quyết tranh chấp
Trang 38bằng TTVV Bởi vậy, pháp luật về TTVV tại Việt Nam trong suốt thời gian dài như vậy, chỉ đến khi ban hành ra PLTTTM thì TTVV ở Việt Nam mới được khắc họa thực sự rõ nét
Nhìn chung, sự thành công của PLTTTM đã giải quyết được những vấn đề sau:
đã thống nhất tổ chức và hoạt động của trọng tài vào một cơ sở pháp lý chung là PLTTTM và được gọi là Trung tâm TTTM; thẩm quyền của Trung tâm trọng tài được quy định cụ thể và mở rộng hơn trước, tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh (Điều 2); thỏa thuận trọng tài được quy định rõ ràng, cụ thể hơn (chương II); quy chế Trọng tài viên được nới rộng (Điều 12); TTVV được ghi nhận (Điều 19); quy định cụ thể sự hỗ trợ, giám sát từ cơ quan tư pháp (Tòa án, cơ quan Thi hành án) đối với hoạt động của Trọng tài: lựa chọn Trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời, thi hành phán quyết trọng tài…
PLTTTM đã có nhiều yếu tố phù hợp hơn với Pháp luật các nước và thông lệ quốc tế điều chỉnh về trọng tài Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm kể trên thì PLTTTM cũng đã bộc lộ không ít hạn chế và bất cập Các hạn chế này thể hiện ở nhiều quy định như: phạm vi thẩm quyền của trọng tài, thỏa thuận trọng tài, vấn đề thời hiệu khởi kiện, Trọng tài viên, … khiến cho hoạt động trọng tài nước ta bị giới hạn rất nhiều và chưa thể thực hiện đầy đủ chức năng của một cơ quan tài phán độc lập, chính vì vậy mà hoạt động của các Trung tâm trọng tài ở Việt Nam vẫn chưa thực
sự đạt được hiệu quả và có được vị trí mong muốn Do đó, ngày 17/06/2010, LTTTM
đã được Quốc hội khoán XII kỳ họp thứ 7 thông qua và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2011 với mục tiêu khắc phục những bất cập đang tồn tại và tiếp cận những chuẩn mực quốc tế về TTTM, phù hợp hơn với những cam kết quốc tế của Việt Nam LTTTM (2010) quy định rõ các hình thức trọng tài, sử dụng thuật ngữ “trọng tài quy chế” và “TTVV” để chỉ hai hình thức trọng tài được thừa nhận ở Việt Nam thau cho hai khái niệm cũ là “trung tâm trọng tài” và “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập” Tên gọi mới này thể hiện rõ và đúng bản chất của hai hình thức TTTM
mà Việt Nam và nhiều nước trên thế giới thừa nhận LTTTM (2010) được kỳ vọng là
Trang 39một hành lang pháp lý hoàn thiện nhất và là động lực quan trọng cho sự phát triển của TTTM nói chung và TTVV nói riêng trong giai đoạn hiện nay.14
14 Trần Thị Thắm (2013), Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc tại Việt Nam, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.19, 20
Trang 40Kết luận Chương I
Trong phạm vi Chương I, luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất
về TTVV và pháp luật về TTVV Trong đó đã làm rõ được khái niệm, đặc điểm của TTVV và trình bày được những ưu điểm, nhược điểm khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTVV Qua đó, cũng thấy được trong giải quyết tranh chấp thương mại, TTVV được ưu tiên lựa chọn bởi những ưu thế như tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức, bảo mật thông tin Với những ưu thế đó, TTVV đang giữ vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp thương mại
Trải qua một thời gian xây dựng và hoàn thiện, hệ thống pháp luật về TTVV của Việt nam đã tương đối hoàn thiện, với trọng tâm là LTTTM năm 2010 Chương
I của luận văn này cũng đã trình bày sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật về TTVV tại Việt Nam cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế về lập pháp liên quan đến TTTM
Những kết luận của Chương I là cơ sở quan trọng để nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định này trên thực tế