1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách vận dụng trong xây dựng nhân cách học viên nhà trường quân đội

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 41,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề cơ bản song cũng là một vấn đề phức tạp nhất của khoa học tâm lý nói riêng và khoa học xã hội và nhân văn nói chung Thực tiễn cho thấy rằng,.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề cơ bản song cũng

là một vấn đề phức tạp nhất của khoa học tâm lý nói riêng và khoa học xã hội vànhân văn nói chung Thực tiễn cho thấy rằng, giải quyết đúng vấn đề nhân cách

sẽ cho phép giải quyết được những vấn đề khác của tâm lý học và của nhiều lĩnhvực đời sống như triết học, xã hội học, kinh tế, chính trị học, luật học, tâm lýhọc, y học, giáo dục…Trong quá trình nghiên cứu về nhân cách, vấn đề đầu tiên

mà chúng ta cần phải nghiên cứu đó chính là sự hình thành và phát triển nhâncách

Nhân cách là đỉnh cao nhất của sự phát triển tâm lý ở con người, của tự ýthức và điểu chỉnh bản thân Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học côngnghệ hiện nay, nhân tố con người trở thành nhân tố trở nên cấp bách thì nhữngvấn đề nhân cách cần được đặt ra một cách cấp thiết Sự hiểu biết về nhân cáchchính là tiền đề để việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người - yếu tốquyết định mọi sự phát triển trong xã hội Việc giải quyết đúng vấn đề nhâncách sẽ cho phép giải quyết được những vấn đề khác của tâm lý học và củanhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội

Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhữngchuẩn mực về nhân cách đang có sự thay đổi Vì vậy, sự hình thành và phát triểnnhân cách cũng ngày một thể hiện rõ nét hơn và có tác động hai mặt Do vậy,vấn đề xây dựng và hoàn thiện nhân cách không còn là vấn đề của riêng từng cánhân, mà còn là sự chung tay, nỗ lực của xã hội Trong đó, nhiệm vụ nghiên cứucác động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân cách là nhiệm vụ quan trọng trongquá trình hình thành và phát triển nhân cách con người

Do vậy, tôi xin chọn “Các động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách vận dụng trong xây dựng nhân cách học viên nhà trường quân đội” để làm

-đề tài tiểu luận môn Tâm lý học nhân cách

Trang 2

NỘI DUNG

1 Một số vấn đề chung về sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Khi nhìn nhận và đánh giá một quốc gia một khu vực nào đó trên thế giới,

về mức độ phát triển cao hay thấp, giàu hay nghèo thì trước hết chúng ta phảixem xét về nền giáo dục của quốc gia khu vực đó, quả thực vấn đề giáo dục làmột vấn đề rất quan trọng, mà bất cứ một quốc gia nào, khu vực nào trên thếgiới, cũng phải đầu tư và quan tâm hàng đầu Bởi giáo dục và đào tạo là tạo ranhững đội ngũ tri thức, công nhân, học sinh, giáo dục để tạo điệu kiện cho conngười ngày càng hoàn thiện nhân cách của mình …

Đó chính là nguồn nhân lực dồi dào, tạo cho con người có cả ý thức, trithức, đạo đức năng lực phẩm chất nhân cách, để bổ sung vào sự nghiệp xâydựng đất nước ngày càng phát triển hơn, cả về kinh tế, văn hoá, xã hội

Trải qua hàng nghìn đời vấn đề giáo dục ở Việt Nam ngày càng được pháttriển và được Đảng Nhà nước ta quan tâm hàng đầu Nhất là giáo dục ở vùngsâu, vùng xa, vùng núi cao và hải đảo những nơi mà nền kinh tế, văn hoá chưaphát triển, để sao cho mặt bằng dân trí giữa các vùng, các tỉnh thành không có sựcách biệt quá xa về trình độ văn hoá, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước

ta đang hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng xã hội, xã hội chủ nghĩa ngày cànggiàu đẹp văn minh lịch sự, thì sự nghiệp giáo dục là một vấn đề quan trọng vàđược quan tâm hàng đầu, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đấtnước, và xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn

Bên cạnh đào tạo đội ngũ tri thức, công nhân lành nghề, thì cần giáo dụccái tâm yêu nghề, năng lực đạo đức Theo ứng xử giữa con người, để con người

từ một cá thể sinh học trở thành một nhân cách sống trong mỗi con người, bởitài và đức phải luôn đi đôi với nhau, không tách rời nhau thì mới có thể đem lạihiệu quả tốt trong công việc và trong giao tiếp ứng xử con người với con người

1.1 Khái niệm:

1.1.1 Khái niệm nhân cách.

Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu trong quá trình phát triển của các khoa học đặc biệt là các khoa học xã hội,đòi hỏi phải nghiên cứu nhân cách, trong xã hội loài người có quan hệ lẫn nhau,

Trang 3

và con người là trung tâm của các mối quan hệ, vì vậy con người phải được thểhiện như là một nhân cách.

Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với xây dựng nhâncách phát triển hài hoà, đó là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp xây dựng conngười đạo đức trí tuệ, trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Nhân cách là một cấu tạo trọn vẹn thuộc loại đặc biệt, nhân cách khôngphải là chỉnh thể được chế định theo kiểu di truyền tức là “người ta sinh rakhông phải là nhân cách người mà người ta phải trở thành một nhân cách”

“Nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử vàcủa sự tiến hoá cá thể con người” nhân cách là một cấu tạo chuyên biệt của conngười mà không thể rút ra từ hoạt động thích ứng của nó, cũng không thể từ hoạtđộng đó mà rút ra ý thức của con người hay nhu cầu

Hiện nay về mặt tâm lý học người ta chú ý đến vấn đề sau đây về nhâncách: bản chất nhân cách, cấu trúc nhân cách, các yếu tố hình thành nhân cách,các cơ chế hình thành nhân cách, các phương pháp nghiên cứu nhân cách, vị trícủa tâm lý học nhân cách trong hệ thống khoa học khác Nhưng ở đây tôi chỉ đềcập đến vấn đề khái niệm nhân cách, hay bản chất nhân cách trước hết điểm quamột số quan điểm về nhân cách như:

Quan điểm cho bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay nói cáchkhác là sinh vật hoá bản chất nhân cách Nhân cách được coi là bản năng tìnhdục (S.Freud) là đặc điểm của hình thể (Krestchmer) …

Bản chất nhân cách là tính con người (trường phái nhân văn đại diện làC.Rogers, A Maslow…Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trịtiềm năng bẩm sinh của con người A Maslow cho rằng xã hội nằm trong bảnnăng con người, những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu kính trọng đều có tínhbản năng… đặc trưng cho giống người, nhân cách là động cơ tự động điều hành(G Allport) những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của conngười, phủ nhận bản chất của nhận bản chất xã hội của nhân cách

Nhân cách đồng nghĩa với khái niệm con người, K.K.Platonov nhân cáchcon người có ý thức, còn con người có tâm lý từ khi có ngôn ngữ lao động, quanđiểm này nói về cái chung, cái đặc trưng nhất của con người, mà không chú ýđến đặc cái đặc thù riêng, cái riêng của nhân cách

Nhân cách được hiểu như cá nhân con người với tư cách là chủ thể củamỗi quan hệ và hoạt động có ý thức (A.Gkovalev, X.Ikon) hiện nay quan điểm

Trang 4

này được đa số các nhà tâm lý học xã hội chấp nhận, coi nhân cách là cá nhân,

cá thể so với tập thể xã hội

Nhân cách cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mụĩ quan hệ sôngcủa cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó K.Obuchowxki địnhnghĩa nhân cách như sau Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lý củacon người có tính chất điểu kiện lịch sủ xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giảithích và dự đoán hành động cơ bản của con người

Từ các quan niệm nhân cách cơ bản trên, cho đến nay vẫn chưa có trườngphái nào giải quyết thoả đáng vấn đề bản chất của nhân cách

Các nhà tâm lý học cho rằng khái niệm nhân cách là phạm trù xã hội và

có bản chất xã hội lịch sử” Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộctính tâm lý, biểu hiện bản sắc và giá trị của con người”

Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhâncách thì chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống Song cáchhiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:

Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và nănglực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động)

Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người

Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêunước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động

Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người.Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong cuốn tâm lý học đạicương (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu lên định nghĩa nhân cách như sau:Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểuhiện bản sắc và giá trị xã hội của con người Nhân cách là sự tổng hoà khôngphải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định conngười như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xã hội, giá trị vàcốt cách làm người của mỗi cá nhân

Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cánhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người Nhân cách là sự tổnghoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểmquy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xãhội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam

Trang 5

Như vậy nhân cách là sự tổng hoà, không phải là những đặc điểm của conngười Mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của

xã hội nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Qua khái niệm về nhân cách trên chúng ta thấy nhân cách có một số đặcđiểm sau

Tính thống nhất: Thống nhất giữa lời nói và việc làm, thống nhất, giữa đạođức và tài, giữa ý thức và hành động, hành vi ứng xử trong cộng đồng, nhóm

Tính ổn định: nhân cách con người là quá trình hình thành từ từ, nhâncách là tổ hợp các thuộc tính ổn định, tiềm tàng của cá nhân, nó khó hình thành

Tính giao lưu: Nhân cách của con người có thể tồn tại và phát triển thôngqua hoạt động và giao lưu với người khác và nhờ đó con người tiếp thu, lĩnh hộicác tri thức, kinh nghiệm, văn hoá, xã hội của loài người mà biến thành nhâncách riêng của mình Đó chính là bốn đặc điểm của nhân cách nó rất quan trọngđối với đời sống con người

1.1.2 Khái niệm con người.

Từ trước đến nay có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu con người chứađựng những nội dung khác nhau dựa trên mục đích và phương diện nghiêncứu,có khái niệm cho rằng:

“Con người là thành viên của một cộng đồng một xã hội, và vừa là thựcthể tự nhiên, và thực thể xã hội”

Ở định nghĩa về con người được thừa nhận rộng rãi “con người là thực thểsinh vật - xã hội và văn hoá” cần nghiên cứu con người theo cả ba mặt

Con người bản năng, coi con người là tồn tại sinh vật, con người từ khihình thành là tồn tại sinh vật Trên thực tế con người có bản năng sinh tồn,nhưng bản năng của con người khác hẳn bản năng con vật

Các nhà nghiên cứu cho rằng sự phát triển xã hội loài người “con ngườibản năng con người kỹ thuật con người chính trị và con người xã hội” đều nóilên tiêu chí tâm lý cực kỳ quan trọng của con người Nói tổng quát hơn, bản chất

Trang 6

con người không phải là cái gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến, mà bảnchất con người là cái gì đó được hình thành nên hay bộc lộ ra trong cuộc sốngcủa nó Trong cuộc sống bằng hoạt động của bản thân, con người mới chịu tácđộng của các quan hệ xã hội và nhờ đó con người hội nhập vào các quan hệ đó,góp phần củng cố, phát triển các quan hệ đó Toàn bộ tồn tại khách quan xungquanh con người tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội (quan hệsản xuất, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ cộng đồng, quan hệ nhóm.v.v.), hoặc dưới hình thức của các quan hệ xã hội mà tác động vào con người.Ngược lại, con người có tác động trở lại vào tồn tại khách quan (môi trường tựnhiên, môi trường sinh sống, gia đình, các quan hệ, thể chế xã hội, v.v.) Conngười bao giờ cũng cùng với những người khác (nhóm, cộng đồng, giai cấp, dântộc, v.v.) lao động, học tập vui chơi, đấu tranh, xây dựng Chính trong quá trìnhhọc tập, lao động đó con người thiết lập nên các mối quan hệ xã hội.

Có một số nhà nghiên cứu lo ngại quá nhấn mạnh tính xã hội trong conngười thì coi nhẹ phần thể xác Hay nói như trong tiếng Việt: nặng về - phần

“Người”, nhẹ về phần "Con" Họ đưa ra quan niệm coi con người là tồn tại sinhvật - xã hội (có người coi đứa trẻ sơ sinh đến lúc 2 tuổi là tồn tại sinh vật, và sau

2 tuổi là tồn tại xã hội) Thật ra, quan niệm này không khác gì lắm so với quanniệm coi con người như là “Cây gậy biết nói” Mới nghe tưởng như đó là mộtquan niệm phù hợp với thực tế khách quan: con người có thể xác và có tâm hồn,

có bản năng và có ý thức, có vật chất và có tinh thần Nhưng thử hỏi con người

có “xác” mà không “hồn” thì đâu còn là con người! ở con người bình thường,cuộc sống bản năng cũng đã được ý thức hoá, ở con người không bình trường,tức là con người bệnh hoạn, con người sa đọa, con người của bộ máy phát xít,diệt chủng là những con người trở lại với thú tính, đâu còn cơ chế “ý thức hoá”

Gần đây, có một số tác giả lại đưa ra quan niệm con người như là “cáimáy có suy nghĩ”, “cái máy biết lựa chọn”, “cái máy biết yêu đương”, các rôbốt.Đúng là trong hoạt đồng thần kinh của con người cũng như trong cuộc sống củacon người có cơ chế tự điều chỉnh, tự thích nghi, sáng tạo hết sức hoàn thiện

mà không có một máy nào sánh kịp, tuy có khoa học phỏng sinh dựa vào cơ thểmột số động vật và người lập mô hình sáng tạo ra máy móc Người ta sáng chế

ra máy tính, vi xử lý, máy đánh cờ, máy làm thơ Có thể một số thao tác haycông việc nào đó trong cuộc sống hàng ngày được chương trình hóa đến khi rấthợp lý thì thành thói quen tốt, làm cho cuộc sống thoải mái, nhẹ nhàng, ít tốn

Trang 7

năng lượng mà hiệu quả lại cao Nhưng con người vẫn là con người, không phải

là cái máy

Khác với quan điểm trên, C Mác đưa ra một quan điểm khoa học về conngười… “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng, cố hữu củamỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổnghoà các mối quan hệ xã hội”

Như vậy, con người là một sản phẩm của lịch sử xã hội mang nhữngphẩm chất thuộc tính có ý nghĩa xã hội được hình thành trong qúa trình tác độngqua lại giữa người với người, trong xã hội con người cũng là chủ thể các hoạtđộng, là lực lượng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội

Có thể nói, con người là nấc thang tiến hoá cao nhất của tự nhiên và làmột thực thể mang bản chất tự nhiên sinh học, mang trong mình sức sống tựnhiên C.Mác cũng đã chỉ ra rằng “con người là thực thể tự nhiên”

1.2 Sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi sinh ra con người chưa có nhân cách

“nhân cách cũng không có sẵn, phải bằng cách bộc lộ dần dần các bản năngnguyên thuỷ, mà một lúc nào đó đã bị kiềm chế chèn ép”, chính trong quá trìnhsống học tập, lao động, giao lưu, giải trí…Con người đã tự hình thành và pháttriển nhân cách của mình theo quy luật lĩnh hội tri thức và các di sản văn hoá vậtchất và tinh thần của các thế hệ trước để lại trong công cụ lao động thông quacác hoạt động

Vậy con người vốn sinh ra chưa có nhân cách mà nhân cách là cấu tạomới do mỗi người tự hình thành nên và phát triển trong quá trình sống, giao tiếp,học tập, lao động, vui chơi…Nhân cách không có sẵn mà bằng cách hoạt động

xã hội con người ngay từ khi còn nhỏ đã dần dần lĩnh hội nội dung chứa đựngtrong các mối quan hệ xã hội có liên quan tới hoạt động của trẻ

Phương pháp giáo dục có hiệu quả là tổ chức cho trẻ hoạt động lĩnh hộicác cái đó để hình thành nhân cách Lênin nói “cùng với dòng sữa mẹ con ngườihấp thụ tâm lý của xã hội mà nó là thành viên” nhân cách của con người hìnhthành và phát triển theo con đường từ bên ngoài vào nội tâm, từ các quan hệ vớithế giới tự nhiên và thế giới đồ vật do các thế hệ trước và bản thân tạo ra qua cácmối quan hệ xã hội mà nó gắn bó từ đó nhân cách của con người đã được hìnhthành và phát triển Sự phát triển nhân cách bao gồm: Sự phát triển về mặt thể

Trang 8

chất, điều này thấy rõ ở sự phát triển về chiều cao, cân nặng, cơ bắp và sự hoànthiện của các giác quan vvv…đó là điều dễ thấy ở mỗi con người.

Sự phát triển về mặt tâm lý, được biểu hiên ở những biến đổi cơ bản,trong các quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, nếp sống.v.v nhất là ở

sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách con người

Sự phát triển về mặt xã hội điều này thể hiện rõ ở việc tích cực, tự giáctham gia vào các mặt khác nhau của đời sống xã hội cũng như có sự thay đổi rõnét về ứng xử với những người xung quanh Chúng ta đang phấn đấu xây dựng

và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong quá trình đổi mới, đó là nhâncách của con người sáng tạo, năng động, có kỷ luật, kỹ năng, tay nghề cao cũngnhư phẩm chất tốt đẹp của nền văn hoá giàu bản sắc dân tộc được đúc kết lại quanhiều thế hệ để có được điều đó, thế hệ trẻ Việt Nam trong đó có học sinh, sinhviên cần trở thành các chủ thể có ý thức đối với các hoạt động như học tập, laođộng, giao lưu, vui chơi giải trí …Cần tự giác thích ứng và chủ động tu dưỡng,rèn luyện bản thân mình ngay từ khi ngồi ở trên ghế nhà trường để trở thànhnhân cách làm chủ nhân của đất nước

Sự hình thành và phát triển nhân cách con người Con người chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố khác nhau trong đó có nhân tố sinh học và xã hội, cácnhân tố này tác động tới con người không phải là song song với nhau có giá nhưnhau Chính vì vậy cần phải xem xét đúng đắn nhìn nhận một cách khách quankhoa học các tác động của di truyền và môi trường tự nhiên, môi trường xã hộitrong các công tác giáo dục

1.3 Các động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách

Muốn biết cái gì là động lực thúc đẩy sự phát triển tâm lí, nhân cách trướchội cần tìm hiểu những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển con người.Nhìn chung, thường gặp những mâu thuẫn sau đây:

- Mâu thuẫn giữa khả năng, trình độ đạt được (thể chất, tâm lí) với nhữngyêu cầu của hoạt động Ví dụ: Trong quá trình con người hoạt động, thường gặpphải những tình huống phát sinh mà những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà conngười có chưa đủ để giải quyết tình huống mới phát sinh đó, lúc đó con ngườithường rơi vào bế tắc, nhiều khi khủng hoảng, suy sụp và dễ dẫn đến từ bỏ mụcđích ban đầu mà mình đặt ra Tuy nhiên, mâu thuẫn đó có thể được giải quyếtkhi nhu cầu giải quyết vấn đề thôi thúc con người tích cực học tập, tiếp thu, lĩnh

Trang 9

hội những kinh nghiệm của những người xung quanh để vận dụng vào giải quyếtvấn đề của bản thân.

- Mâu thuẫn giữa những yêu cầu mới của hoạt động với những kĩ năng, kĩxảo chưa được hình thành Ví dụ, khi mới bước chân vào môi trường quân đội,người chiễn sĩ sẽ tiếp cận, làm quen với các loại vũ khí trang bị được biên chế,lúc này yêu cầu đặt ra là người chiến sĩ phải biết cách sử dụng chũng như thếnào, đồng nghĩa với việc phải có kỹ năng, kỹ xảo tương ứng để có thể sử dụng

vũ khí trang bị có hiệu quả Tất nhiên, lúc đầu người chiến sĩ sẽ cảm thấy lúngtúng bởi vì mới tiếp cận Dưới sự hướng dẫn của người chỉ huy và sự tích cựclĩnh hội, tiếp thu các yếu lĩnh động tác, dần dần mâu thuẫn được giải quyết khicác kĩ năng, kĩ xảo mới, tương ứng với hoạt động được hình thành

- Mâu thuẫn giữa những nề nếp, thói quen, tập quán cũ với những yêu cầumới của hoàn cảnh sống và hoạt động Ví dụ: Khi người thanh niên mới nhậpngũ thường gặp những khó khăn, trở ngại vì thói quen, nền nếp sinh hoạt ở giađình (ngủ muộn, dậy muộn…) không phù hợp với những yêu cầu của hoạt độngquân sự, hoạt động đòi hỏi ở người quân nhân có tính tích cực, tự giác trongchấp hành các nền nếp, chế độ quy định của quân đội và đơn vị (ăn, ngủ đúnggiờ) Mâu thuẫn đó chỉ được giải quyết sau một thời gian người quân nhân cốgắng thích nghi với môi trường quân sự, với các nền nếp, chế độ, quy định Trởthành một người quân nhân có thể coi là một bước ngoặt trong cuộc sống củangười quân nhân không chỉ về mặt sinh hoạt, mà điều chủ yếu là sự phát triển vềmặt thể chất, trí tuệ và các phẩm chất nhân cách của một người quân nhân cáchmạng

- Mâu thuẫn giữa các mặt đối lập nảy sinh trong quá trình phát triển của

cá nhân Ví dụ, trong thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, ởthiếu niên xuất hiện “cảm nghĩ mình không còn là trẻ con”, có “xu hướng làmngười lớn” Song, trên thực tế thiếu niên chưa đủ trưởng thành để tự khẳng định

và được thừa nhận là người lớn Tính trẻ con và tính người lớn cùng tồn tại là 2mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn của lứa tuổi, khiến cho tính cách của thiếu niênđôi khi trở nên thất thường, “bất nhất” Đến cuối giai đoạn lứa tuổi này, sự pháttriển thể chất, đặc biệt là sự phát dục, bước vào thời kì êm ả, cùng với sự trưởngthành của một số chức năng tâm lí cấp cao làm cho “tính người lớn” lấn át “tínhtrẻ con” tạo nên những biến đổi về chất trong sự hình thành và phát triển nhâncách, đưa thiếu niên tiến gần tới tuổi trưởng thành

Trang 10

Việc giải quyết tốt các mâu thuẫn sẽ góp phần giúp cho con người pháttriển và hoàn thiện nhân cách của bản thân trong quá trình hoạt động Để có thểthúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện nhân cách ở mỗi người, có thể kể đến cácyếu tố - động lực thúc đẩy phát triển nhân cách như:

1.3.1 Nhu cầu là động lực phát triển nhân cách

Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cầnnhững đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó lànguồn gốc tính tích cực của cá nhân Nhu cầu vừa là tiền đề, vừa là kết quảcủa hoạt động Nhu cầu vừa có tính chất vật thể (nhu cầu vật chất) vừa cótính chức năng (nhu cầu tinh thần) Thoả mãn nhu cầu thực chất là quá trìnhcon người chiến lĩnh một hình thức hoạt động nhất định trong xã hội Nhucầu thể hiện ở động cơ, cái thúc đẩy con người hoạt động và động cơ trởthành hình thức thể hiện của nhu cầu

Nhu cầu được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhânđối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoảmãn để tồn tại và phát triển

Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau:

Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, chính vì có đối tượng mới có thểphân biệt được các loại nhu cầu Tuy nhiên sự tồn tại của đối tượng ấy trongtâm lí học cá nhân có thể có nhiều mức độ khác nhau Ở mức thấp, đốitượng có thể còn “mơ hồ” chưa được xác định thật cụ thể, mà mới chỉ xácđịnh về loại Ở mức cao hơn, đối tượng của nhu cầu được phản ánh trong ócngười mang nhu cầu một cách cụ thể hơn Cuối cùng, đối tượng của nhu cầu

có thể được nhận thức về mặt đặc trưng và về ý nghĩa của nó đối với đờisống cá nhân Chính nhờ sự tồn tại đối tượng của nhu cầu trong t âm lí cánhân mà cá nhân định hướng được hoạt động của mình trong môi trường

Đặc điểm quan trọng thứ hai là mỗi nhu cầu đều có một nội dung cụthể tuỳ theo nó được thoả mãn trong những điều kiện nào và bằng phươngthức nào Nội dung cụ thể của nhu cầu phụ thuộc vào những điều kiện vànhững phương thức thoả mãn nó

Đặc điểm thứ ba là nhu cầu thường có tính chất chu kì Khi một nhucầu nào đó được thoả mãn, không có nghĩa là nhu cầu đó chấm dứt, nếu conngười vẫn sống và phát triển trong những điều kiện và phương thức sinhhoạt như cũ Những nhu cầu về ăn, mặc, học tập, giao tiếp với người khác

Trang 11

thường xuyên được tái diễn trong cuộc sống Sự tái diễn đó thường có tínhchất chu kì Một khi nhu cầu tái hiện là một lần nó được củng cố, phát triển

và phong phú thêm

1.3.2 Động cơ

Trong tâm lý học, động cơ là một vấn đề được các nhà nghiên cứuquan tâm từ rất lâu và có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Song,tựu chung lại các trường phái tâm lý học đều cho rằng:

Trước hết, động cơ đó là phản ánh tâm lý về đối tượng có khả năngthoả mãn nhu cầu của chủ thể Các nhà tâm lý học khẳng định rằng: nhu cầubao giờ cũng là nhu cầu về một điều gì đó, tức là nhu cầu có tính đối tượng.Song lúc đầu khi ở chủ thể xuất hiện trạng thái cần một cái gì đó thì đốitượng thoả mãn nhu cầu chưa được xác định rõ Chỉ khi nhu cầu gặp đượcđối tượng có khả năng thoả mãn nó, thì nhu cầu mới đạt được tính đốitượng Đối tượng thoả mãn nhu cầu được tri giác tư duy, đạt được khả năngthúc đẩy và định hướng hoạt động của chủ thể sẽ trở thành động cơ Vậy,động cơ đó là tất cả những gì xuất hiện ở cấp độ phản ánh tâm lý thôi thúccon người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu

Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử xã hội Bởiđộng cơ đặc trưng của con người nảy sinh và hình thành trong quá trình pháttriển cá thể chứ không phải là cái gì đó sẵn có từ lúc đứa trẻ sinh ra Tínhlịch sử xã hội của động cơ con người còn thể hiện ở chỗ đối tượng thoả mãnnhu cầu của con người là sản phẩm của quá trình sản xuất xã hội

A.N.Leonchiev khẳng định rằng, nhân cách không sinh ra mà được hìnhthành Trong quá trình phát triển cá thể, thời điểm xuất hiện nhân cách được gắnvới thời điểm xuất hiện những biểu hiện đầu tiên của tự ý thức, của cuộc đầutranh động cơ Đó là khi đứa trẻ được khoảng 3 tuổi Ở lứa tuổi này, trẻ đã tựmình thực hiện được một số hoạt động độc lập, nhờ đó ở chúng dần dần hìnhthành thái độ đối với bản thân như với cái tôi độc lập Đó là biểu hiện đầu tiêncủa tự ý thức Hệ thống động cơ của trẻ lứa tuổi này đã có những biểu hiện đầutiên của các mối quan hệ thứ bậc; mặc dù trong phần lớn các trường hợp, các emvận hành động theo những ham muốn, song những lời khen, chê của người lớn

đã bắt đầu có hiệu lực Đó cũng là những biểu hiện đầu tiên của cuộc đấu tranhđộng cơ

Ngày đăng: 13/10/2022, 09:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w