Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Chủ biên: PGS.TS Vũ Thị Hồng Yến
Hà Nội, tháng 12/2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
PGS.TS Vũ Thị Hồng Yến ThS Phạm Minh Huyền
Hà Nội, tháng 12/2021
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Quyền sở hữu công nghiệp là một loại tài sản trí tuệ mặc dù mang tính vô hình nhưng là loại tài sản luôn gắn liền với các hoạt động thương mại và dịch vụ, mang lại những nguồn lợi to lớn cho chủ thể quyền cũng như cho toàn xã hội Bảo hộ thành quả sáng tạo trí tuệ không chỉ là nhiệm vụ của mỗi quốc gia mà còn là nhiệm vụ mang tính quốc tế Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp Nghiên cứu pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại không những tạo hành lang pháp lý an toàn và hiệu quả cho việc khai thác các giá trị thương mại của quyền sở hữu công nghiệp mà còn tạo các giải pháp pháp lý để khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo và hoạt động dịch vụ, thương mại trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp
Pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại là môn học chuyên sâu về các khía cạnh pháp lý của quyền sở hữu công nghiệp, về giá trị kinh tế khi các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được đưa vào khai thác thương mại, được giảng dạy tại Trường Đại học Mở Hà Nội và một số cơ sở đào tạo luật khác của Việt Nam Nhằm phục vụ nhu cầu giảng dạy, học tập cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật cũng như các độc giả quan tâm nghiên cứu, giáo trình Pháp luật về quyền
sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại của Trường Đại học Mở Hà Nội được biên soạn bởi các tác giả là những giảng viên có kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy cũng như trong hoạt động thực tiễn Hy vọng giáo trình Pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giảng viên, sinh viên và độc giả quan tâm
Trân trọng giới thiệu giáo trình Pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại tới bạn đọc!
CHỦ BIÊN
Trang 5KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP
6
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp 6 1.1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp 7 1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
14
1.3.1 Hành vi sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp 14 1.3.2 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp 16 1.3.3 Hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp 16 1.3.4 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương
2.1 HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ SHCN TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
19
2.1.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền sở hữu công nghiệp trong
hoạt động thương mại
19
2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của pháp luật về SHCN trong
hoạt động thương mại của Việt Nam
20
2.2 XÁC LẬP, CHỦ THỂ, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG CỦA
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
23
2.2.1 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp 23 2.2.2 Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp 27
Trang 62.2.3 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp 28 2.2.4 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp 45
Chương 3
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI
3.1 PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
59
3.1.1 Khái quát về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương
mại
59
3.1.2 Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương
mại
61
3.2 PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH
TRANH LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
69
3.2.1 Khái quát pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động
thương mại
69
3.2.2 Quy định pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
4.1 PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC THƯƠNG MẠI QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP
4.2 PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SHCN TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Trang 7MẠI KHÁC CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
4.3.1 Pháp luật về nhượng quyền thương mại 88 4.3.2 Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp 91 4.3.3 Pháp luật về thế chấp bằng quyền sở hữu công nghiệp 93
Chương 5
PHÁP LUẬT VỀ ẢO VỆ QU ỀN SHCN TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
5.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SHCN TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự BLHS: Bộ luật Hình sự Nxb: Nhà xuất bản SHCN: Sở hữu công nghiệp SHTT: Sở hữu trí tuệ
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 91.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Trong thời đại ngày nay, phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh đều gắn với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng và theo
đó, việc nhận diện các quyền sở hữu công nghiệp, giải quyết xung đột, tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp đã được điều chỉnh bởi pháp luật không chỉ của mỗi quốc gia mà còn là vấn đề pháp luật có tính toàn cầu Bởi các giao dịch thương mại, kinh tế hiên nay không còn được xác định theo ranh giới lãnh thổ của từng quốc gia mà là vấn
đề toàn cầu trong bối cảnh của sự phát triển bùng nổ về công nghệ và trí tuệ nhân tạo hiện nay Việc ghi nhận quyền sở hữu công nghiệp nhằm bảo vệ quyền của những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có ứng dụng các tài sản trí tuệ cũng là một phương thức thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển và góp phần tăng trưởng cho nền kinh tế nước nhà
Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu theo hai nghĩa:
- Hiểu theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là pháp luật về SHCN hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo ra và được pháp luật ghi nhận là các đối tượng sở hữu công nghiệp Có thể phân chia các quy phạm pháp luật
về quyền sở hữu công nghiệp theo các nhóm sau:
Thứ nhất: Nhóm các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn một kết quả
sáng tạo là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp;
Thứ hai: Nhóm các quy định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác lập
đối tượng sở hữu công nghiệp;
Thứ ba: Nhóm các quy định liên quan đến nội dung quyền của các chủ thể đối với
các đối tượng SHCN (bao gồm quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, tác giả, các chủ thể khác đối với các đối tượng SHCN đã được xác lập);
Thứ tư: Các quy phạm liên quan đến việc dịch chuyển các đối tượng sở hữu công
nghiệp;
Thứ năm: Các quy phạm liên quan đến việc bảo vệ quyền của các chủ thể đối với
các đối tượng sở hữu công nghiệp
Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp không chỉ là các quy định trong lĩnh vực luật tư mà thuộc rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, thuộc nhiều ngành luật khác nhau tạo thành thể thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các đối
Trang 10tượng SHCN như luật hình sự, luật hành chính Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp không những được các quy phạm pháp luật của quốc gia điều chỉnh mà chúng còn được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế song phương và đa phương
- Hiểu theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật SHTT thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh
do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh tuy không được coi là một trong các đối tượng cụ thể của quyền sở hữu công nghiệp nhưng nó là sự nảy sinh tất yếu trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, do vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được coi là nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp
Với ý nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc sáng tạo, sử dụng, chuyển dịch các đối tượng sở hữu công nghiệp Các quyền này bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh tranh không lành mạnh đối với các quyền của những người sáng tạo ra hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng đó
Quyền sở hữu công nghiệp còn được hiểu dưới góc độ là quan hệ pháp luật với đầy
đủ các yếu tố cấu thành của một quan hệ như chủ thể, khách thể, nội dung Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được hình thành trên cơ sở sự tác động của các quy phạm pháp luật về SHCN đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ Như vậy, chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác giả hay chủ sở hữu các đối tượng SHCN hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ
1.1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
a Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh
Một trong những tiêu chí để phân chia kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ thành quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp chính là căn cứ vào tính hữu ích hay khả năng ứng dụng của chúng Nếu các đối tượng của quyền tác giả chủ yếu được áp dụng trong các hoạt động giải trí tinh thần thì các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp lại được ứng dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại Tại Điều 1
Công ước Paris về bảo hộ SHCN đã quy định: “SHCN phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia và bột” Chính vì lẽ đó mà một trong những điều
Trang 11kiện để được bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là chúng phải có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cho đời sống con người Còn đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh phải chứa đựng các chỉ dẫn thương mại để kết nối giữa nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ đối với người tiêu dùng Chủ thể nào nắm giữ được các đối tượng này sẽ có những lợi thế cạnh tranh hơn hẳn những chủ thể khác Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc quan tâm, đầu tư và trở thành chủ sở hữu các đối tượng SHCN là công việc thực
nghiên cứu, phát minh tiếp theo
c Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ có thời hạn
Khác với loại tài sản hữu hình (vật, tiền, các giấy tờ có giá ), các đối tượng SHCN thường được bảo hộ trong khoảng thời gian xác định (tuy có một số loại đối tượng không xác định thời hạn như bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng, chỉ dẫn địa lý) Các đối tượng được bảo hộ theo thời hạn là các đối tượng xác định được tác giả sáng tạo ra đối tượng đó; những đối tượng SHCN không xác định tác giả sáng tạo được bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn với những điều kiện nhất định
Có thể phân loại các đối tượng SHCN thành các đối tượng có xác lập quyền tác giả hay không xác lập quyền tác giả
Đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp có ghi nhận quyền của tác giả sáng tạo ra đối tượng đó thì việc quy định thời hạn bảo hộ là cần thiết Con người luôn tìm tòi, sáng tạo ra những cái mới để phục vụ lợi ích của mình, kết quả sáng tạo của người
1 Tên thương mại được bảo hộ qua thực tiễn sử dụng chúng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của chủ thể đăng ký tên doanh nghiệp Bí mật kinh doanh được bảo hộ khi các thông tin thương mại còn trong tình trạng bí mật trước khi có hành vi xâm phạm
Trang 12này, của thế hệ này có thể sẽ là tiền đề cho sáng tạo của người khác, của thế hệ sau Do
sự sáng tạo của con người là vô hạn vì vậy những điều phù hợp với điều kiện hiện tại, đối với người này có thể không còn phù hợp với tương lai Nếu cứ tiếp tục bảo vệ kết quả sáng tạo đó với thời gian không hạn định sẽ trở thành rào cản cho tiến bộ xã hội, hơn nữa kìm hãm sự phát triển của xã hội Việc quy định thời hạn bảo hộ đối với một
số đối tượng SHCN là điều cần thiết Thời hạn bảo hộ đối tượng SHCN là thời hạn có hiệu lực của văn bằng bảo hộ Có thể chia thời hạn bảo hộ thành ba loại:
Thứ nhất, thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn Loại thời hạn này
được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; với thiết kế bố trí mạch tích hợp là 10 năm kể từ năm kể từ ngày đăng kí hoặc ngày người có quyền nộp đơn khai thác, cho phép người khác khai thác thương mại tại bất kì nơi nào trên thế giới hoặc 15 năm tính từ ngày tạo ra thiết kế bố trí;
Thứ hai, thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia hạn Loại thời hạn này
được áp dụng đối với với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ,
có thể gia hạn 2 lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm; đối với nhãn hiệu là 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần mỗi lần 10 năm
Đối với các đối tượng nêu trên, việc bảo hộ trong thời hạn xác định chỉ có hiệu lực khi chủ sở hữu văn bằng bảo hộ nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng
Thứ ba, thời hạn bảo hộ không xác định Loại thời hạn này được áp dụng đối với
tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng cho đến khi nào còn đáp ứng được điều kiện bảo hộ
1.2 Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
1.2.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế tri thức và cạnh tranh toàn cầu, pháp luật
về quyền sở hữu công nghiệp đang có những thay đổi nhanh chóng cả tầm quốc gia cũng như quốc tế Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khía cạnh thương mại của các đối tượng SHCN chưa được khai thác triệt để thì trong thương mại hiện đại, các đối tượng này ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không chỉ đối với các chủ thể kinh doanh trên thị trường mà còn đối với người tiêu dùng và toàn xã hội Chính vì vậy, vấn đề
quyền sở hữu công nghiệp cần phải được nghiên cứu ở trạng thái “động”, gắn liền với sự
vận động và phát triển của các hoạt động thương mại Bên cạnh đó, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đã ký kết nhiều Điều ước quốc tế song phương và đa phương về hợp tác kinh tế, thúc đẩy giao lưu thương mại, tính tương thích, hiệu quả và khả năng thực thi pháp luật về SHCN của Việt Nam hiện đang là mối quan tâm lớn của các nước đối tác Do vậy, việc nghiên cứu pháp luật về SHCN trong hoạt động thương mại là cần thiết, góp phần phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng cường các giao dịch liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp, thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như ngăn ngừa các hành vi xâm phạm và thu hút đầu
tư nước ngoài
Về khái niệm, quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động kinh doanh, thương mại liên quan đến việc khai thác, sử dụng và thực thi quyền sở hữu công nghiệp cũng như các vấn đề về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu
Trang 13công nghiệp Các quy phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp sẽ được tiếp cận dưới góc độ thương mại và pháp luật cạnh tranh để từ đó nhận diện được bản chất và vai trò của tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp đối với hoạt động kinh doanh của thương nhân
1.2.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, các đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc mang lại lợi thế cạnh tranh, làm gia tăng lợi ích cho các chủ sở hữu cũng như hỗ trợ việc xây dựng
uy tín, danh tiếng cho các chủ thể kinh doanh Do vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã ghi nhận quyền sở hữu công nghiệp mang bản chất thương mại
Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, thương mại được hiểu là tất cả những hoạt động kinh doanh sinh lời, bao hàm cả thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, quyền SHTT và đầu tư Khái niệm này đã khá phổ biến trên thế giới, được hầu hết các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế thừa nhận, điển hình là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Theo quan điểm của WTO, quyền SHTT, bao gồm cả quyền sở hữu công nghiệp, được coi là một bộ phận của thương mại quốc tế, cụ thể là WTO có riêng một Hiệp định về quyền SHTT liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS) Việc tiếp cận quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại để từ đó đánh giá được bản chất thương mại, xác định được vai trò của quyền sở hữu công nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, thương mại của các chủ thể là tiền đề, cơ sở để hoàn thiện cơ chế điều chỉnh của pháp luật hiện hành về quyền sở hữu công nghiệp cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Về cơ bản, đặc tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp được thể hiện ở một số khía cạnh như sau:
a Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành hàng hóa, dịch vụ
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là một trong những bộ phận cấu thành giá trị của hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là trong các ngành công nghệ đòi hỏi sự đầu tư về công sức, trí tuệ và yêu cầu hàm lượng chất xám cao Hàng hóa, dịch vụ chứa đựng trong nó các đối tượng SHCN sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn, dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thị trường Chính bởi vậy, hoạt động sản xuất, kinh doanh ở phần lớn các quốc gia đang ngày càng tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, thường xuyên cải tiến chất lượng và kiểu dáng của sản phẩm cũng như tiến hành các chiến dịch xây dựng uy tín, tăng cường khả năng nhận biết của nhãn hiệu Do đó, các hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả sản phẩm truyền thống (như dược phẩm, sản phẩm may mặc, dụng cụ lao động) và sản phẩm hiện đại (như robot, thiết bị viễn thông, điện tử) đều gắn liền với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Các chủ thể kinh doanh luôn mong muốn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp khi họ sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ ra thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho họ bù đắp chi phí nghiên cứu, phát triển và tạo lập tài sản trí tuệ
Trong bối cảnh cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, hàng hóa, dịch vụ cùng loại
có thể được nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh đưa ra thị trường Các hàng hóa, dịch
vụ muốn được người tiêu dùng đón nhận phải tạo ra được những điểm khác biệt trong nhận thức của khách hàng, đáp ứng được các yêu cầu của họ và khiến họ tin tưởng, chấp nhận sản phẩm, dịch vụ Đặc biệt, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, người tiêu dùng thậm chí chỉ sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, kiểu
Trang 14dáng đẹp, chỉ dẫn địa lý rõ ràng, có gắn nhãn hiệu, do chủ thể có tên thương mại uy tín cung cấp và họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao hơn rất nhiều so với hàng hóa, dịch vụ thông thường cùng loại Vì vậy, hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh chỉ có thể trụ vững và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường nếu hàng hóa, dịch vụ của họ chứa đựng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp với tính chất là nhân tố đặc trưng cấu thành nên hàng hóa, dịch vụ
b Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Khi một chủ thể có độc quyền đối với một sáng chế, họ sẽ đầu tư vào để biến sáng chế đó thành một sản phẩm hoặc một quy trình có khả năng đưa vào sản xuất công nghiệp Kiểu dáng công nghiệp được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực may mặc, chế tạo xe máy, ô tô, hàng điện tử… là yếu tố thẩm mỹ thu hút, hấp dẫn khách hàng khi lựa chọn các sản phẩm Sản phẩm có kiểu dáng, mẫu mã đẹp sẽ góp phần tăng cường khả năng tiêu thụ sản phẩm, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nhãn hiệu trở thành công cụ hữu hiệu để chiếm lĩnh thị trường, là sợi dây liên kết giữa người tiêu dùng với các nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ Không chỉ là dấu hiệu để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, nhãn hiệu hiện nay còn là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, làm gia tăng lợi ích cho các chủ sở hữu cũng như hỗ trợ việc xây dựng uy tín, danh tiếng cho các doanh nghiệp Chỉ dẫn địa lý cũng là yếu tố tạo ra niềm tin ở người tiêu dùng, đồng thời giúp cho các nhà sản xuất phát huy tối đa thế mạnh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế Ví dụ, người châu Âu có một thói quen văn hóa về sử dụng sản phẩm có chỉ dẫn địa lý Một sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý khác với sản phẩm thông thường sẽ được người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn Chỉ dẫn địa lý được đặc biệt quan tâm trong các ngành công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp, nhất là ngành sản xuất rượu vang và đồ uống có cồn như rượu vang Bordeaux, rượu Champagne… mang lại nguồn thu lớn cho các nhà sản xuất và quốc gia
c Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp ngày càng có giá trị cao và trở thành đối tượng trong các giao dịch thương mại
Thực tiễn hoạt động kinh doanh cho thấy các đối tượng SHCN có giá trị thương mại ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Giá trị của tài sản vô hình đó thậm chí còn được xác định lớn hơn rất nhiều so với giá trị của các tài sản hữu hình của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp về công nghệ thông tin, cung ứng các hàng hóa, dịch vụ cao cấp Chẳng hạn theo số liệu định giá năm 2021 của Interbrand2 – một Công ty tư vấn nhãn hiệu toàn cầu, các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới được xác định giá trị rất cao, cụ thể là:
STT Nhãn hiệu Sản phẩm, dịch vụ Giá trị
(triệu USD)
điện toán đám mây
249249
2
https://interbrand.com/best-brands/
Trang 15317 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định tài sản đó có thể thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không giao tài sản cho bên nhận thế chấp Ngoài ra, Khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định giá trị quyền SHTT, bao gồm quyền sở hữu công nghiệp có thể là tài sản được sử dụng để góp vốn trong doanh nghiệp Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sở hữu công nghiệp mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn Hơn nữa, trong những năm gần đây, các giao dịch liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp diễn ra tương đối sôi động, cụ thể là từ năm 2015 đến năm 2020, Cục SHTT Việt Nam đã cấp 6026 Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng SHCN với 14360 đối tượng được chuyển nhượng; 1221 Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN với 3914 đối tượng SHCN được chuyển giao3 Thông qua hoạt động chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã không ngừng mở rộng, phát triển
và thu lợi nhuận hàng nghìn tỷ đồng Sự thành công của Gà rán KFC, McDonald’s, Cafe Trung Nguyên, Phở 24… thông qua các hợp đồng franchising (nhượng quyền thương mại – đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng thương mại bao gồm cả đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp) là những ví dụ điển hình Không chỉ trực tiếp mang lại lợi nhuận mà các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp còn đóng vai trò mở rộng phạm vi nhận biết, uy tín và bổ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đó chính là giá trị vô hình của các đối tượng SHCN phản ánh vào hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, làm cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể được duy trì và không ngừng phát triển
d Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại
Các chủ thể nắm giữ đối tượng SHCN sẽ nắm giữ những ưu thế, có khả năng phát triển sản xuất, kinh doanh, từ đó giành được niềm tin của người tiêu dùng, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thật vậy, bằng sáng chế rất
có giá trị với doanh nghiệp, nhất là những sáng chế vượt trội về công nghệ và kỹ thuật,
3
Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ 2020 do Bộ Khoa học và Công nghệ - Cục Sở
https://www.ipvietnam.gov.vn/documents/20182/1102438/IP+Annual+Report+2020.pdf/39e2a220-9bd1-4c7f-a865-4464192ef739
Trang 16tạo nên bước đột phá trong việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống
sẽ giúp nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường trong nước cũng như quốc tế Ngoài ra, kiểu dáng bên ngoài của sản phẩm cũng là một trong những yếu tố tạo ra sự hấp dẫn đối với khách hàng, tác động tới quyết định lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng Bên cạnh đó, nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu nổi tiếng mang lại cho chủ sở hữu một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn bởi người tiêu dùng chỉ cần nhìn thấy nhãn hiệu là quyết định lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đó bởi nhãn hiệu đã là sự thể hiện chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, là sự đảm bảo của nhà sản xuất về chất lượng sản phẩm đối với người tiêu dùng Do đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có cơ hội lớn hơn trong việc phân phối và phát triển sản phẩm của mình, từ đó dự báo và kiểm soát thị trường Hay bí mật kinh doanh được sử dụng để giành lợi thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh không biết hoặc không sử dụng bí mật đó Ở một số quốc gia phát triển, nhiều tập đoàn
đã đạt được sự thống trị trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định nhờ sở hữu bí mật kinh doanh Như vậy, quyền sở hữu công nghiệp là công cụ cho phép chủ sở hữu tạo nên và duy trì một lợi thế cạnh tranh, dựa trên việc sử dụng và ngăn cản chủ thể khác
sử dụng quyền sở hữu công nghiệp của mình
e Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, với tính độc quyền có thể bị lạm dụng để cản trở thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế
Quyền sở hữu công nghiệp tạo ra một lợi thế độc quyền cho chủ sở hữu và trong những trường hợp nhất định, chủ thể quyền có thể lạm dụng vị trí ưu thế để cản trở
thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Theo luật gia David T Keeling:“Nếu chủ
sở hữu quyền sở hữu công nghiệp dựa vào những quyền này để tiếp tục kiểm soát hàng hóa mà họ đã đưa ra thị trường, những chủ thể này có một công cụ đặc biệt để chia cắt thị trường, phân biệt giá, kiềm chế cạnh tranh với cùng một nhãn hiệu và thường gắn liền với hành động chống cạnh tranh”4 Trong thực tiễn, các chủ thể quyền có nhiều cách lạm dụng việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp để cản trở thương mại, ví
dụ như vấn đề quyền chống nhập khẩu song song Nhập khẩu song song được hiểu là việc tổ chức, cá nhân nhập khẩu sản phẩm do chính chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng SHCN đã đưa ra thị trường trong nước hoặc nước ngoài một cách hợp pháp, mặc dù không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp Ví dụ như Công ty Coca-Cola tại Hoa Kỳ là chủ sở hữu nhãn hiệu Coca-Cola đăng ký cho sản phẩm nước giải khát Chủ sở hữu đã cấp quyền cho một nhà phân phối thực hiện việc cung cấp sản phẩm mang nhãn hiệu Coca-Cola tại Việt Nam Tuy nhiên, có một công ty X tiến hành nhập khẩu nước giải khát mang nhãn hiệu Coca-Cola từ Nhật Bản vào Việt Nam Như vậy, tại Việt Nam đã có sự xuất hiện của hàng hóa cùng nhãn hiệu mà chúng lại được cung cấp một cách rất hợp pháp thông qua hợp đồng Hơn nữa, nước giải khát từ Nhật Bản có thể có lợi thế cạnh tranh
về chất lượng hoặc giá cả so với sản phẩm do Việt Nam cung cấp Mặt khác, sản phẩm
từ Nhật Bản còn tận dụng được hiệu quả của việc quảng cáo cho sản phẩm của Cola Việt Nam Do đó, sự xuất hiện những xung đột về lợi ích của các bên liên quan làm cho vấn đề nhập khẩu song song được đặt ra Chấp nhận nhập khẩu song song có nghĩa là khuyến khích tự do cạnh tranh nên việc cho phép hay không cho phép nhập
Coca-4
Keeling, David T., IPRs in EU Law, Vol I – Free Movement and Competition Law, Oxford University Press, 2003, tr.75
Trang 17khẩu song song sẽ dẫn đến khả năng bắt buộc phải lựa chọn giữa bảo vệ nguyên tắc tự
do cạnh tranh hay bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Pháp luật một số nước quy định cấm nhập khẩu song song trong những trường hợp nhất định để bảo vệ thế độc quyền của chủ sở hữu đối tượng SHCN nhưng theo quan điểm của một số quốc gia, việc cấm nhập khẩu song song chính là sự lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp để cản trở thương mại
Bên cạnh đó, một số quốc gia phát triển đã đẩy mạnh việc đăng ký bảo hộ các đối
tượng SHCN ở trong nước cũng như nước ngoài chỉ nhằm mục đích “phòng ngừa”,
điều này có thể làm hạn chế khả năng sáng tạo, ứng dụng công nghệ của đối thủ cạnh tranh, do đó vi phạm nguyên tắc tự do cạnh tranh Không chỉ vậy, trong những trường hợp nhất định, các quy định quá chặt chẽ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có thể khiến các quốc gia đang phát triển phải trả quá nhiều chi phí cho việc chuyển giao công nghệ
Tóm lại, dù khai thác ở các khía cạnh khác nhau thì tính thương mại của quyền sở
hữu công nghiệp như đã phân tích ở trên có những tác động rất tích cực đến hoạt động thương mại của các chủ thể kinh doanh Do đó, các thương nhân cần khai thác triệt để đặc tính này của quyền sở hữu công nghiệp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình nhằm định hướng khách hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng cũng như thiết lập môi trường kinh doanh lành mạnh
1.3 Nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại gắn liền với các hàng hoá và dịch vụ; theo đó không thể tách rời được các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp từ khâu sản xuất, phân phối hàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ đi kèm Các hoạt động cơ bản sau đây là sự kết hợp của quyền
sở hữu công nghiệp với khía cạnh thương mại của hàng hoá và dịch vụ
1.3.1 Hành vi sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp trong sản xuất, lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ
Điều 124 Luật SHTT có quy định về các hành vi sử dụng đối tượng SHCN bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Cụ thể là:
- Sử dụng sáng chế là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm c khoản này
- Sử dụng kiểu dáng công nghiệp là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Sản xuất sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
Trang 18+ Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm a khoản này;
+ Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm a khoản này
- Sử dụng thiết kế bố trí là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Sao chép thiết kế bố trí; sản xuất mạch tích hợp bán dẫn theo thiết kế bố trí được bảo hộ;
+ Bán, cho thuê, quảng cáo, chào hàng hoặc tàng trữ các bản sao thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí được bảo hộ;
+ Nhập khẩu bản sao thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế
bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí được bảo
hộ
- Sử dụng bí mật kinh doanh là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hóa;
+ Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do
áp dụng bí mật kinh doanh
- Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
+ Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
+ Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ
- Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo
- Sử dụng chỉ dẫn địa lý là việc thực hiện các hành vi sau đây:
+ Gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
+ Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ;
+ Nhập khẩu hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Ngoài các hành vi nói trên, việc sử dụng đối tượng SHCN còn thể hiện ở hành vi góp vốn vào doanh nghiệp bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp và thế chấp quyền
sở hữu công nghiệp Cụ thể, Khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định giá trị quyền SHTT, bao gồm quyền sở hữu công nghiệp có thể là tài sản được sử dụng để góp vốn trong doanh nghiệp Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sở hữu công nghiệp mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu công nghiệp với tư cách là một bộ phận của quyền SHTT được coi là một tài sản và Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định tài sản đó
Trang 19có thể thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không giao tài sản cho bên nhận thế chấp
Căn cứ vào các quy định của pháp luật về sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp, nhiều chủ sở hữu đã tích cực sử dụng, khai thác các đối tượng được bảo hộ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế ở trong và ngoài nước
1.3.2 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Chương X Luật SHTT, từ Điều 138 đến Điều 150 có quy định hai hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
và chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp Theo đó, pháp luật có quy định về khái niệm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, hình thức, nội dung và hiệu lực của hợp đồng cũng như các điều kiện hạn chế việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, pháp luật cũng có quy định về khái niệm chuyển quyền
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hình thức, nội dung, hiệu lực và các dạng hợp đồng cũng như các điều kiện hạn chế việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định về việc bắt buộc chuyển giao quyền
sử dụng đối với sáng chế và trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trong Luật SHTT và các văn bản dưới luật như Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 122/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2010; Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30 tháng
07 năm 2010 và Thông tư 18/2011/TT-BKHCN ngày 22 tháng 07 năm 2011; sửa đổi,
bổ sung tại Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02 năm 2013, sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 16/2016/TT-BKHCN ngày 30/06/2016)
Các quy định này đã tạo điều kiện cho các giao dịch diễn ra ngày càng phổ biến, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, nhượng quyền thương mại, đầu tư nước ngoài, hợp tác phát triển khoa học công nghệ
1.3.3 Hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
Các đối tượng SHCN là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, do vậy, trong kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh có thể xâm hại các đối tượng SHCN bằng việc thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu lợi bất chính Bên cạnh đó, quyền sở hữu công nghiệp với tính độc quyền có thể bị lạm dụng
để cản trở thương mại Vì thế, để hạn chế các loại hành vi này, pháp luật ghi nhận cho các chủ thể kinh doanh quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp với tư cách là một trong những vấn đề cơ bản của pháp luật về SHCN trong hoạt động thương mại
Trên thế giới, chống cạnh tranh không lành mạnh đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu công nghiệp kể từ Hội nghị sửa đổi Công ước Paris
về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1900 Trong nền kinh tế thị trường tại các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, tự do cạnh tranh là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những hành vi cạnh tranh lành mạnh, tích cực của các chủ thể kinh doanh nhằm cung cấp cho
Trang 20người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt với giá cả phù hợp thì cũng có nhiều chủ thể kinh doanh có hành vi gian dối, không trung thực, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh của chủ thể khác, đi ngược lại các nguyên tắc, truyền thống kinh doanh, không chỉ gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh chân chính mà còn xâm phạm đến lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội Thực tiễn đã cho thấy cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở trao độc quyền cho chủ sở hữu chưa đầy đủ và chưa bảo vệ triệt để quyền lợi của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính, nhiều hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến uy tín, danh tiếng của chủ thể kinh doanh nhưng lại không được giải quyết bằng các quy định về SHCN Trong khi đó, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng tinh vi, đa dạng mà luật SHCN không thể dự liệu và liệt kê cụ thể Vì vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được quy định là bộ phận của quyền sở hữu công nghiệp tại Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT và các dạng hành vi đã được quy định tại Điều 130 Luật SHTT và hướng dẫn cụ thể tại các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư
1.3.4 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cũng diễn biến phức tạp, đa dạng với những thủ đoạn ngày càng tinh vi Điều này không chỉ làm suy giảm lợi ích, uy tín của các doanh nghiệp chân chính muốn phát triển bằng con đường cạnh tranh lành mạnh mà còn tác động đến quyền lợi của người tiêu dùng khi mua phải những hàng hóa vi phạm quyền sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp còn hạn chế các hoạt động sáng tạo, đổi mới khoa học công nghệ, làm giảm sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư nước ngoài cũng như tạo ra nhiều rào cản cho sự phát triển của thương mại quốc tế Chính vì vậy, pháp luật có quy định các biện pháp thực thi để chủ thể quyền có thể áp dụng khi phát hiện hành
vi xâm phạm Thực thi quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại có thể được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thông qua các thủ tục
và chế tài luật định, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và xóa bỏ những rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp Pháp luật Việt Nam hiện hành thừa nhận nhiều biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: tự bảo vệ, biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp hình sự và biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp Tùy vào tính chất, quy
mô, mức độ của hành vi xâm phạm cũng như mục đích, mong muốn của người bị xâm hại, các chủ thể quyền và cơ quan nhà nước lựa chọn áp dụng biện pháp thực thi cho phù hợp, hiệu quả, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, lợi ích chính đáng của người tiêu dùng cũng như toàn xã hội Pháp luật hiện hành đã có những quy định khá toàn diện và chi tiết về việc xác định hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp, các biện pháp thực thi quyền cũng như trình tự, thủ tục và các
cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý các hành vi xâm phạm tại Luật SHTT và các văn bản dưới luật như: Nghị định của Chính phủ số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lí nhà nước về SHTT, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010; Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định của
Trang 21Chính phủ số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/2/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT; Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT tại toà án nhân dân; Thông tư số 44/2011/TT-BTC ngày 01/4/2011 hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT trong lĩnh vực hải quan; Thông tư của
Bộ khoa học và công nghệ số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/06/2015 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
i) Sách tham khảo
a TS Lê Đình Nghị & TS Vũ Thị Hải Yến (2016), Giáo trình Luật SHTT, Hà Nội: Nxb Giáo
dục Việt Nam
b PGS.TS Trần Văn Nam & ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2018), Giáo trình Pháp luật SHTT,
Hà Nội: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
c Nguyễn Thanh Tâm (2006), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại (sách
chuyên khảo), Hà Nội: Nxb Tư pháp
d Kamil Idris (2005), SHTT, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, WIPO
ii) Bài báo tham khảo
a Đoàn Trung Kiên (2020), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại và pháp luật
về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Tạp chí Luật học, số 7, 47-57
iii) Tài liệu khác:
a Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ 2020 do Bộ Khoa học và Công nghệ - Cục Sở hữu trí tuệ công bố
Tiếng Anh:
a Keeling, David T (2003), IPRs in EU Law, Vol I – Free Movement and Competition Law,
Oxford University Press, 75
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP, ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN
1 Phân tích khía cạnh thương mại của quyền sở hữu công nghiệp?
2 Chứng minh các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại?
3 Phân tích nội dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại?
Trang 222.1 Hệ thống văn bản pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
thương mại
Từ cuối thế kỷ XIX, trên cơ sở nhìn nhận được ý nghĩa của việc bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, các quốc gia phát triển đã nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ký kết ngày 20/02/1883 là kết quả của những nỗ lực đó Công ước đã được sửa đổi một số lần và lần tổng sửa đổi cuối cùng là vào ngày 28/09/1979 Tính đến năm 2019, thành viên Công ước gồm 177 nước, trong đó có Việt Nam Các nước thành viên đã thỏa thuận hợp tác bảo hộ các đối tượng SHCN bao gồm: sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (Điều 1(2) Công ước Paris) Công ước còn ghi nhận nguyên tắc đối xử quốc gia và hệ thống quyền ưu tiên
Bên cạnh Công ước Paris, có thể kể đến một số điều ước quốc tế khác tạo thuận lợi cho việc đăng ký xác lập quyền đối với các đối tượng SHCN như Thỏa ước Madrid năm 1891 và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid thông qua năm 1989; Hiệp ước hợp tác sáng chế ký tại Washington ngày 19/6/1970 và sửa đổi ngày 02/10/1979
và ngày 03/02/1984; Thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp năm
1925
Khi quyền sở hữu công nghiệp trở thành một trong những trụ cột của thương mại thế giới, các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được xây dựng là một phần trong các điều ước quốc tế về thương mại Hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) ra đời trong vòng đàm phán Uruguay được xây dựng với ý nghĩa là một phần của những thỏa thuận thương mại đa phương Hiệp định này đã thừa nhận và mở rộng những chuẩn mực trong Công ước Paris Hiệp định TRIPS đưa ra các chuẩn mực bảo hộ cho nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thông tin kín và kiểm soát thực tế chống cạnh tranh Đặc biệt, Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đầu tiên quy định hệ thống hình phạt đối với thành viên không đảm bảo sự tối thiểu quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp
Trong những năm gần đây, các FTA thế hệ mới, tiêu biểu là Hiệp định Đối tác
Trang 23Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định FTA Việt Nam và EU (EVFTA) ghi nhận các cam kết về SHCN ở mức độ cao và toàn diện hơn, điều chỉnh phạm vi đa dạng hơn, bao trùm nhiều lĩnh vực liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại hơn
2.1.2 Khái quát sự phát triển của pháp luật về SHCN trong hoạt động thương mại của Việt Nam
Xuất phát từ những đặc thù trong hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm văn hóa truyền thống của dân tộc, vấn đề về khai thác quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại là một nội dung khá mới mẻ và đang từng bước hoàn thiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam Căn cứ vào quá trình phát triển của pháp luật về SHTT và pháp luật cạnh tranh, lịch sử phát triển của pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
có chia thành các giai đoạn sau:
* Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989:
Trong giai đoạn đầu, về cơ bản, pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp chưa được quan tâm điều chỉnh, chủ yếu pháp luật bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, nhìn nhận các đối tượng ở trạng thái tĩnh như quy định về căn cứ xác lập quyền, nội dung quyền sở hữu công nghiệp Các văn bản pháp luật chủ yếu là nghị định của Chính phủ, chưa có luật hay pháp lệnh Điển hình là Nghị định số 31-HĐCP ngày 23/01/1981 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp
lý hóa sản xuất và sáng chế được bảo hộ theo cơ chế cấp bằng tác giả sáng chế hoặc cấp bằng sáng chế độc quyền Điều lệ này đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 84-HĐBT ngày 20/03/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Bản Điều lệ này đã quy định tương đối chi tiết khái niệm, nội dung của sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế, xác định quyền và nghĩa vụ của tác giả cũng như điều kiện và trình tự bảo hộ các đối tượng đó
Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), đất nước bắt đầu thời
kỳ đổi mới với sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong công cuộc đổi mới này, các quyền dân sự của cá nhân được Nhà nước quan tâm bảo hộ, vì thế các Nghị định về dân sự, quyền sở hữu công nghiệp được ban hành, trong đó có Nghị định 85/HĐBT ngày 13/05/1988 ban hành Điều
lệ về kiểu dáng công nghiệp, Nghị định số 200/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều lệ
về giải pháp hữu ích, Nghị định số 201/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết kỹ thuật… Như vậy, hệ thống pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở các văn bản dưới luật, ban hành rời rạc, chưa có hệ thống và mang nặng yếu tố quản lý hành chính nhà nước
* Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2005:
Từ năm 1989, khi nền kinh tế thị trường đã bắt đầu hình thành, quyền sở hữu công nghiệp không đơn thuần mang tính nhân thân mà nó còn là một bộ phận của lực lượng sản xuất Để bảo hộ quyền lợi của các chủ thể sáng tạo và chủ thể kinh doanh, Nhà nước dần dần pháp điển hóa pháp luật SHCN và chuyển gia công nghệ bằng hệ thống pháp lệnh Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 10/12/1988 Tiếp sau đó, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
được ban hành ngày 28/01/1989 Trong Pháp lệnh này, thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp” lần đầu tiên đã được sử dụng chính thức trong văn bản pháp luật, ghi nhận sự bảo
Trang 24hộ của Nhà nước đối với năm đối tượng SHCN là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hóa Pháp lệnh đã đưa ra khái niệm về các đối tượng sở hữu công nghiệp, phân biệt tư cách chủ văn bằng bảo hộ và tác giả, khẳng định quyền độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, quyền của người
sử dụng trước cũng như ghi nhận chế độ bảo hộ SHCN bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu Các quy định này đã tạo tiền đề cho việc khuyến khích hoạt động sáng tạo của cá nhân, thúc đẩy việc đầu tư sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và là cơ sở để tập hợp, hệ thống hóa và pháp điển hóa các quy định về SHCN
Một bước phát triển vượt bậc về trình độ và kỹ thuật lập pháp thuộc lĩnh vực dân
sự nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng được thể hiện qua việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 Trong đó, tại Chương 2 và Chương 3 Phần thứ VI có quy định về quyền sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ Bộ luật đã có các quy định về khái niệm, điều kiện bảo hộ, nội dung quyền, thời hạn bảo hộ, các nội dung liên quan đến xác lập quyền và xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, Bộ luật
đã có quy định về đối tượng, phạm vi và các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao công nghệ Về cơ bản, các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 phù hợp với Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Điều đặc biệt quan trọng là khi ban hành Bộ luật dân sự năm 1995, Nhà nước đã thể hiện sự nhận thức sâu sắc vai trò của khoa học – công nghệ trong phát triển nền kinh tế tri thức, trong thiết lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau khi Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành, để thực thi các quy định của luật, Chính phủ ban hành các Nghị định gồm Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về quyền sở hữu công nghiệp; Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 16/03/1999 về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998 về chuyển giao công nghệ; Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN ngày 03/10/2000; Nghị định 42/2003/NĐ-CP ngày 02/05/2003 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
* Giai đoạn từ năm 2005 đến nay:
Do tồn tại nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn các quy định của Bộ luật Dân sự về quyền sở hữu công nghiệp, hệ thống pháp luật khá cồng kềnh và phức tạp, chồng chéo, dẫn đến sự không tương thích, thống nhất giữa các văn bản và quy định pháp luật Trong mối quan hệ với các thỏa thuận song phương và đa phương, các quy định pháp luật về SHCN trong giai đoạn này chưa hoàn toàn tương thích với các tiêu chuẩn bắt buộc của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) và các thỏa thuận song phương giữa Việt Nam với các quốc gia khác Bên cạnh đó, có một số vấn đề chưa được pháp luật SHCN điều chỉnh, hoặc có những vấn đề được điều chỉnh nhưng lại chưa tương thích với yêu cầu của quốc tế Chính bởi vậy, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 và ban hành Luật SHTT năm 2005, đánh dấu bước tiến quan trong trong tiến trình đổi mới hệ thống pháp luật SHCN tại Việt Nam và thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như nhìn nhận được khía cạnh thương mại của các đối tượng sở hữu công nghiệp Xác định rõ những đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp và vai trò của hệ thống pháp luật SHCN trong toàn
bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ bao gồm những quy định ở
Trang 25mức độ nguyên tắc về quyền sở hữu công nghiệp và dành các quy định cụ thể, chi tiết cho Luật SHTT với ý nghĩa là văn bản pháp luật chuyên ngành
Luật SHTT được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 19 tháng 11 năm 2005
và có hiệu lực vào ngày 01/07/2006 Sự ra đời của Luật SHTT thể hiện bước tiến nhảy vọt của pháp luật SHCN và tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật này Sau khi Luật SHTT
có hiệu lực, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Luật này, trong đó phải kể đến Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật SHTT
về SHCN; Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 26/09/2006 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN
Bên cạnh Luật SHTT, trong giai đoạn này, Quốc hội đã ban hành Luật Cạnh tranh ngày 03/12/2004, có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2005 trong đó có quy định về một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh
Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật SHTT và các văn bản có liên quan khác đã tạo cơ
sở pháp lý thúc đẩy các giao dịch liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo và các chủ thể khác Các quy định này về cơ bản đã tương thích với pháp luật quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi của các quy định pháp luật, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phán để Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng, Luật SHTT vẫn bộc lộ một số hạn chế như một số quy định về thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, một số điều khoản
có lỗi về kỹ thuật nên để khắc phục những hạn chế này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2005 đã được kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 19/06/2009 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 Trên cơ sở Luật sửa đổi, bổ sung này, hệ thống pháp luật điều chỉnh khía cạnh thương mại của quyền sở hữu công nghiệp được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản hướng dẫn mới để đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ việc phát sinh trong thực tiễn Có thể kể đến một số văn bản như Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật SHTT về hữu công nghiệp; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lí nhà nước về SHTT; Nghị định của Chính phủ số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP; Thông tư của Bộ khoa học và công nghệ số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/06/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/08/2015 quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Thông tư số 44/2011/TT-BTC ngày 01/4/2011 hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan Nhìn chung, hệ thống pháp luật về SHCN trong hoạt động thương mại của Việt Nam hiện nay về cơ bản đã tương thích với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là
Trang 26thành viên, có khả năng áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, tạo cơ sở thúc đẩy hoạt động kinh doanh, thương mại hợp pháp giữa các chủ thể cũng như thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ
Và gần đây nhất, để đảm bảo thực thi các cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ngày 14/06/2019, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật SHTT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2019 Theo đó, một số quy định liên quan đến điều kiện bảo hộ sáng chế, chỉ dẫn địa lý, hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và quy định liên quan đến thực thi quyền sở hữu công nghiệp đã có những thay đổi nhằm bảo đảm tính tương thích và phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết của Việt Nam
2.2 Xác lập, chủ thể, đối tượng, nội dung của quyền sở hữu công nghiệp
2.2.1 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập bằng hai cách thức: đăng ký bảo hộ tại
cơ quan có thẩm quyền (sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý) và được bảo hộ tự động thông qua thực tiễn
sử dụng (tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng)
2.2.1.1.Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở đăng kí và được cấp văn bằng bảo hộ
a Quyền đăng ký
Trước hết, cần xác định những chủ thể có quyền sở hữu các đối tượng SHCN thì chính là những chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký cấp văn bằng bảo hộ Cụ thể:
- Quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
(i) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức
và chi phí của mình;
(ii) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thoả thuận đó không liên quan đến việc sử dụng cơ sở vật chất-kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
(iii) Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất-kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước thì quyền đăng ký các đối tượng này thuộc về Nhà nước
(iv) Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý
- Quyền đăng ký nhãn hiệu
(i) Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp;
(ii) Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng
ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó;
(iii) Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập
Trang 27thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là
tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
(iv) Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
Một nhãn hiệu có thể được nhiều chủ thể khác nhau cùng có quyền đăng ký, khi
đó các chủ thể này trở thành đồng sở hữu chủ đối với nhãn hiệu Nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau:
Một là, việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;
Hai là, việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ
Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà XHCN Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại
lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng
- Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý: Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam
thuộc về Nhà nước Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa
lý đó
b Cách thức nộp đơn và nguyên tắc nộp đơn
Việc nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ phải đảm bảo các cách thức sau:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam;
- Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam
Việc nộp đơn cấp văn bằng cho các đối tượng SHCN cần tuân thủ hai nguyên tắc sau:
(i) Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
- Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký cùng một sáng chế hoặc đăng ký các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể
Trang 28với nhau hoặc đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau hoặc tương tự với nhau thì văn bằng bảo
hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ
- Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo sự thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
(ii) Nguyên tắc ưu tiên
- Người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu có quyền
yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau:
+ Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà XHCN Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam;
+ Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước cư trú hoặc có cơ
sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác;
+ Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
+ Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên
- Trong một đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu, người nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng với nội dung trong đơn
- Đơn đăng ký SHCN được hưởng quyền ưu tiên có ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên
c Trình tự, thủ tục đăng ký quyền sở hữu công nghiệp
Thứ nhất, chủ thể đăng ký phải có hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu sau:
- Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định – Tờ khai này được đăng tải trên website của Cục Sở hữu trí tuệ (http://www.noip.gov.vn);
- Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng SHCN đăng ký bảo hộ;
- Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
- Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác;
- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
- Chứng từ nộp phí, lệ phí
Thứ hai, x lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
* Thẩm định về mặt hình thức của đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nhằm mục đích đánh giá tính hợp lệ của đơn Đơn đăng ký SHCN được thẩm định hình thức trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nộp đơn Đơn đăng ký SHCN bị coi là không hợp
Trang 29lệ trong các trường hợp sau:
- Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình thức;
- Đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được bảo hộ;
- Người nộp đơn không có quyền đăng ký, kể cả trường hợp quyền đăng ký cùng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong số đó không đồng ý thực hiện việc nộp đơn;
- Đơn được nộp trái với quy định về cách thức nộp đơn theo quy định của luật SHTT;
- Người nộp đơn không nộp phí và lệ phí
Tùy từng trường hợp, cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ có thể ra thông báo dự định từ chối chấp nhận đơn hợp lệ (nêu lý do, yêu cầu sửa chữa sai sót, ấn định thời hạn sửa chữa…) hoặc thông báo từ chối chấp nhận đơn hợp lệ
* Công bố đơn đăng ký SHCN: Sau khi đơn được thẩm định về hình thức (hợp lệ) sẽ được công bố trên Công báo SHCN Thời hạn công bố đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được xác định theo Điều 110 LSHTT
* Thẩm định nội dung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp để xem xét đối tượng sở hữu công nghiệp xin cấp văn bằng bảo hộ có đáp ứng quy định của pháp luật về tiêu chuẩn (điều kiện) bảo hộ hay không Thời hạn thẩm định nội dung như sau:
- Đối với sáng chế không quá mười tám tháng, kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung nếu yêu cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn;
- Đối với nhãn hiệu không quá chín tháng, kể từ ngày công bố đơn;
- Đối với kiểu dáng công nghiệp không quá bảy tháng, kể từ ngày công bố đơn;
- Đối với chỉ dẫn địa lý không quá sáu tháng, kể từ ngày công bố đơn
Thời hạn thẩm định lại đơn đăng ký SHCN bằng hai phần ba thời hạn thẩm định lần đầu, đối với những vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không vượt quá thời hạn thẩm định lần đầu
2.2.1.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở thực tiễn sử dụng
a Đối với tên thương mại
Theo quy định của Luật SHTT, tên thương mại được xác lập đối với chủ thể thông qua thực tiễn sử dụng Quy định của Luật SHTT về xác lập quyền sở hữu đối
với tên thương mại phù hợp với Công ước Paris: “Tên thương mại được bảo hộ ở tất
cả các nước thành viên của Liên minh mà không bị bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng
ký, bất kể tên thương mại đó có hay không là một phần của nhãn hiệu hàng hoá”
(Điều 8 Công ước Pais về bảo hộ sở hữu công nghiệp)
Mặc dù Luật SHTT quy định tên thương mại được xác lập tự động, tuy nhiên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp thì trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh, việc đăng ký kinh doanh dưới tên thương mại là điều kiện bắt buộc
b Đối với bí mật kinh doanh
Bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện nhất định: (i) Phải là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ; (ii) Chưa được bộc lộ công khai; (iii) Có khả năng sử dụng trong kinh doanh Do đó, pháp luật sẽ bảo hộ bí mật kinh doanh khi đáp ứng các điều kiện này Nếu có tranh chấp liên quan đến bí mật
Trang 30kinh doanh, chủ sở hữu bí mật kinh doanh phải đưa ra các bằng chứng chứng minh quyền của mình đối với bí mật kinh doanh theo các tiêu chí được xác định trong Luật SHTT
c Đối với nhãn hiệu nổi tiếng
Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT quy định “đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở s dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký”
Vào thời điểm xét các điều kiện của một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng hay không thì tiêu chí để xác định không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký Điều đó có thể có hai khả năng: (i) nhãn hiệu này trước khi được xét là nhãn hiệu nổi tiếng thì không được đăng
ký cấp văn bằng bảo hộ tại bất cứ nơi đâu; (ii) nhãn hiệu này trước đó đã được đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tức là khởi nguồn là một nhãn hiệu thường, sau đó mới đáp ứng được các tiêu chí của một nhãn hiệu nổi tiếng Khi đã hết thời hạn bảo
hộ đầu tiên đối với nhãn hiệu thường (là 10 năm) mà chủ sở hữu nhãn hiệu không xin gia hạn và nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng thì nhãn hiệu đó mất hiệu lực nhưng nếu trong thời hạn 10 năm đó, nhãn hiệu thường đã đáp ứng được các tiêu chí của một nhãn hiệu nổi tiếng thì nó sẽ mặc nhiên có hiệu lực
2.2.2 Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp
2.2.2.1 Tác giả của các đối tượng sở hữu công nghiệp
Trong các đối tượng SHCN mà pháp luật bảo hộ, những đối tượng sau đây được pháp luật bảo hộ quyền tác giả (đồng tác giả): Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí Các đối tượng không bảo hộ quyền tác giả gồm: Nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh
Tác giả là người đã sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới dạng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp Người sáng tạo ra các đối tượng này chỉ có thể là cá nhân Bằng lao động có tính sáng tạo, cá nhân tạo ra sản phẩm được pháp luật thừa nhận là đối tượng SHCN được bảo hộ Khi pháp luật quy định “bằng lao động sáng tạo” nhằm phân biệt hình thức lao động đặc biệt của tác giả với hình thức lao động khác không phải là hoạt động sáng tạo, đó là: Người giúp sức cho tác giả, hỗ trợ kĩ thuật, người thực hiện những công việc theo sự chỉ đạo của tác giả, theo hợp đồng với tác giả…
Khái niệm sáng tạo để chỉ một lao động đặc biệt, phức tạp của những người muốn khám phá thế giới bên ngoài nhằm đạt những mục đích nhất định Do vậy, họ phải là những người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực đó Trình độ chuyên môn ở đây không nên chỉ hiểu là họ có bằng cấp, hoạt động chuyên nghiệp trong một lĩnh vực mà phải hiểu người đó có hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn đó đồng thời có ý định tạo ra đối tượng không phụ thuộc vào bằng cấp mà họ có (Có rất nhiều các đối tượng SHCN không phải do những nhà khoa học chuyên trong lĩnh vực đó tạo ra mà là những người lao động bình thường có am hiểu và có kiến thức về lĩnh vực đó) Đồng tác giả là những người cùng sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố mạch tích hợp
2.2.2.2 Chủ sở hữu đối tượng SHCN
Theo quy định tại Điều 121 Luật SHTT, chủ sở hữu đối tượng SHCN là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc được chuyển giao văn bằng bảo hộ Như vậy, chủ sở hữu là người được cấp văn bằng bảo hộ
Trang 31tương ứng với từng loại đối tượng Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng SHCN tương ứng Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng kí quốc tế được
cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Bí mật kinh doanh
mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lí của Việt Nam là Nhà nước Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm
đó ra thị trường Nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lí chỉ dẫn địa lí hoặc trao quyền quản lí chỉ dẫn địa lí cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí
Những chủ thể được chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng quyền SHCN như người được hưởng thừa kế quyền SHCN trong thời hạn quyền SHCN còn thời hạn bảo hộ; người nhận chuyển nhượng quyền SHCN, người nhận tặng cho quyền SHCN; nhà nước tiếp nhận quyền SHCN vô chủ Riêng quyền đối với chỉ dẫn địa lý thuộc sở hữu nhà nước nên không được chuyển giao quyền sở hữu cho bất kì chủ thể nào khác
2.2.3 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
2.2.3.1 Nhóm đối tượng có tính sáng tạo
a Sáng chế
Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề được xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (khoản 12 Điều 4 Luật SHTT) Giải pháp kĩ thuật được hiểu là cơ cấu, phương pháp hay chất mới hay sử dụng cơ cấu, phương pháp cũ theo chức năng mới
Như vậy, sáng chế được tồn tại chủ yếu thông qua hai dạng của giải pháp kĩ thuật
là sản phẩm và quy trình, thông qua đó chúng đã tạo điều kiện cho xã hội loài người trải qua những bước phát triển tột bậc, ngày càng văn minh và hiện đại hơn
Về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế: Theo Điều 27 Hiệp định TRIPs (Hiệp định
về các khía cạnh thương mại có liên quan đến quyền SHTT) thì: Bằng sáng chế có thể được cấp cho bất kì sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó là mới, có trình độ sáng tạo và có khả
năng áp dụng công nghiệp Khoản 1 Điều 58 Luật SHTT quy định: “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây: Có tính mới; có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp” Căn
cứ vào các quy định trên thì một sáng chế muốn được bảo hộ phải đáp ứng được các tiêu chí cơ bản sau:
- Tính mới: Sáng chế được công nhận là mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây (Điều 60 Luật SHTT):
+ Sáng chế nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế không trùng với giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn;
Trang 32+ Trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp kĩ thuật nêu trong đơn chưa bị bộc lộ công khai ở trong nước hoặc ở nước ngoài dưới hình thức sử dụng hoặc mô tả trong bất kì nguồn thông tin nào dưới đây tới mức mà căn cứ vào đó người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được giải pháp đó:
Các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế ở nước ngoài, tính từ ngày công bố bao gồm: các nguồn thông tin với bất kì vật mang tin nào (ấn phẩm, phim ảnh, băng từ, đĩa
từ, đĩa quang phát thanh, truyền thanh, truyền hình) - tính từ ngày công bố tin, vật mang tin bắt đầu được lưu hành;
Các nguồn thông tin đại chúng: Các báo cáo khoa học, các bài giảng nếu được ghi lại bằng bất kì phương tiện nào - tính từ ngày báo cáo hoặc giảng bài; các triển lãm
- tính từ ngày hiện vật bắt đầu được trưng bày
Tuy nhiên, bên cạnh đó luật pháp còn quy định về các trường hợp nhằm loại trừ khả năng làm mất tính mới của sáng chế nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 Luật SHTT hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ Quy định trên cũng
áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký SHCN hoặc văn bằng bảo hộ SHCN do cơ quan quản lý nhà nước về SHCN công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.
+ Một thông tin chưa bị coi là bộc lộ công khai nếu chỉ có một số lượng người xác định có liên quan được biết đến thông tin đó Những người có liên quan có thể được hiểu là những người cùng tham gia vào quá trình để tạo ra giải pháp kĩ thuật đó hoặc là những người đã cung cấp tư liệu hay đã có những giúp đỡ nhất định để chủ văn bằng tạo ra sáng chế đó Số lượng những người nắm được thông tin về sáng chế này nằm trong sự kiểm soát của chủ sáng chế hay nói cách khác chủ sáng chế biết rõ về những người này và cũng biết rõ họ đã nắm được các thông tin gì liên quan đến sáng chế và mức độ đến đâu
- Có trình độ sáng tạo: Theo chú thích số 5 của Điều 27 Hiệp định TRIPs thì “trình
độ sáng tạo” có thể được mỗi nước thành viên coi là đồng nghĩa với thuật ngữ “không hiển nhiên”
Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kĩ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng kí sáng chế trong trường hợp đơn đăng kí sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kĩ thuật tương ứng (Điều 61 Luật SHTT)
Như vậy, sáng chế phải được tạo ra từ quá trình đầu tư sáng tạo nhất định, phải là thành quả của ý tưởng sáng tạo nổi trội, có thể nhận biết rõ ràng Giữa tình trạng kĩ thuật đã được biết trước đó và sáng chế yêu cầu bảo hộ phải tạo ra bước tiến sáng tạo
rõ rệt và đó được coi là bản chất của sáng chế Hay theo cách giải thích của Hiệp định
TRIPs về trình độ sáng tạo của sáng chế đó là tính “không hiển nhiên” Dựa trên mặt
bằng sáng tạo đã có, giải pháp kĩ thuật đó không thể được tạo ra một cách quá dễ dàng
Trang 33đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng, hơn thế chúng còn tạo ra bước tiến sáng tạo vượt trội hơn hẳn so với các giải pháp kĩ thuật trước đây
thì được coi là đáp ứng được tiêu chí “không hiển nhiên”
Việc đánh giá tính sáng tạo của đối tượng yêu cầu bảo hộ so với các giải pháp đã biết được thực hiện theo các trình tự như: Vấn đề đặt ra, giải pháp cho vấn đề này, kết quả thu được nhờ thực hiện giải pháp nêu trong đơn Nếu một chuyên gia trung bình
mà có thể đặt vấn đề, giải quyết vấn đề theo cách thức đã nêu, cũng như có thể đảm bảo hiệu quả thu được nhờ giải pháp đó thì sáng chế không đáp ứng được tiêu chuẩn tính sáng tạo
- Có khả năng áp dụng công nghiệp: Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu:
a) Các thông tin về bản chất của giải pháp cùng với chỉ dẫn về điều kiện kĩ thuật cần thiết được trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức cho phép người có trình
độ hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng có thể tạo ra, sản xuất ra hoặc
có thể sử dụng, khai thác hoặc tiến hành được giải pháp đó;
b) Việc tạo ra, sản xuất ra, sử dụng, khai thác hoặc tiến hành giải pháp đó có thể được lặp đi lặp lại với kết quả giống nhau và giống với kết quả được nêu trong đơn Đây là đặc điểm khác biệt giữa sáng chế với phát minh khoa học Phát minh khoa học được quy định trong Hiệp định Giơnevơ (1978) là sự phát hiện ra những hiện tượng, những tính chất hoặc quy luật của thế giới vật chất mà trước đó chưa được phát hiện
và có khả năng xác minh được Các phát minh khoa học chủ yếu thể hiện dưới góc độ
lí thuyết chưa thể hiện khả năng áp dụng chúng vào thực tiễn trong các lĩnh vực kinh
tế - xã hội và do đó không được bảo hộ theo pháp luật về SHCN Trong Hiệp định TRIPs cũng giải thích đặc điểm thứ ba của sáng chế là “khả năng áp dụng công nghiệp” có thể giải thích đồng nghĩa với thuật ngữ “hữu ích”
Tóm lại, theo quy định của pháp luật thì bất kì giải pháp kĩ thuật nào đáp ứng được
ba điều kiện: Tính mới, trình độ sáng tạo và tính hữu ích thì đều có thể cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế Tuy nhiên, sáng chế nếu không đáp ứng được tiêu chí về trình độ sáng tạo nhưng không phải là hiểu biết thông thường, có tính mới và khả năng
áp dụng công nghiệp thì cũng sẽ được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 Điều 58 Luật SHTT)
Về phạm vi bảo hộ sáng chế: Được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lí quốc
tế cũng như trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Phạm vi bảo hộ sáng chế thể hiện khả năng về cơ sở hạ tầng (những điều kiện về mặt trình độ kĩ thuật, thiết bị, phương tiện kiểm tra ) thể hiện quan điểm về lĩnh vực cần khuyến khích hay hạn chế phát triển cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi nước, thể hiện mức độ hoà nhập với các quy định hệ thống pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia Tại Việt Nam, theo quy định của Luật SHTT thì các đối tượng sau đây không được Nhà nước bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế (Điều 59 Luật SHTT):
- Các đối tượng không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp của sáng chế (ý đồ, nguyên lí khoa học; phương pháp toán học; giải pháp chỉ đề cập hình dáng bên ngoài của sản phẩm chỉ mang đặc tính thẩm mĩ mà không mang đặc tính kĩ thuật);
- Các đối tượng được bảo hộ theo quy định của quyền tác giả (sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện
Trang 34trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính; cách thức thể hiện thông tin);
- Các đối tượng cần phải được mở rộng phạm vi áp dụng vì mục đích nhân đạo hay nhu cầu cấp bách để phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước (phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa trị bệnh cho người và động vật áp dụng trên cơ thể người và động vật);
- Các đối tượng có thể được bảo hộ ở lĩnh vực khác (giống thực vật, giống động vật; quy trình mang bản chất sinh học (trừ quy trình vi sinh) để sản xuất thực vật, động vật)
Đối chiếu với các quy định của Hiệp định TRIPs thì cũng có một vài điểm tương ứng trong việc quy định về các đối tượng không được cấp văn bằng bảo hộ sáng chế như: Các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật; thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, các quy trình sản xuất thực vật và động vật chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải
là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh
b Kiểu dáng công nghiệp
Khoản 13 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố này” Sản phẩm được hiểu là đồ vật, dụng cụ, phương tiện được sản
xuất bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng, được lưu thông độc lập
Điều 25 Hiệp định TRIPs quy định về các điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp như sau: Các thành viên phải bảo hộ các kiểu dáng công nghiệp mới hoặc nguyên gốc được tạo ra một cách độc lập Các thành viên có thể quy định rằng kiểu dáng công nghiệp không được coi là mới hoặc nguyên gốc nếu không khác biệt cơ bản với những kiểu dáng đã biết hoặc với sự kết hợp các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng
đã biết Các thành viên có thể quy định rằng việc bảo hộ đó không áp dụng cho những kiểu dáng mà hình dáng chủ yếu do các đặc tính kĩ thuật và chức năng quyết định Mỗi thành viên phải đảm bảo rằng các tiêu chuẩn bảo hộ đối với các kiểu dáng hàng dệt, đặc biệt là yêu cầu về lệ phí, xét nghiệm hoặc công bố, không làm giảm một cách bất hợp lí cơ hội tìm kiếm và đạt được sự bảo hộ đó Các thành viên được tự do chọn áp dụng luật kiểu dáng công nghiệp hoặc luật bản quyền để thực hiện nghĩa vụ này Ở Việt Nam, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo các quy định pháp luật SHCN, còn
về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo luật bản quyền hiện chưa có quy định cụ thể
Về điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp: Để được đăng kí bảo hộ, kiểu
dáng công nghiệp phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây (Điều 63 Luật SHTT):
- Tính mới: Tính mới của kiểu dáng công nghiệp phải đạt được 3 tiêu chí (Điều 65 Luật SHTT):
Thứ nhất, kiểu dáng công nghiệp được công nhận là có tính mới nếu tính đến ngày
nộp đơn, kiểu dáng công nghiệp đó có sự khác biệt cơ bản rõ rệt với những kiểu dáng
đã bị bộc lộ công khai Hay nói cách khác, kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ không được đồng nhất hoặc tương tự gần giống đến mức gây nhầm lẫn với những kiểu dáng đã tồn tại trước đó
Thứ hai, kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt cơ bản với nhau nếu
chỉ khác biệt bởi các đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết và ghi nhớ được, các
Trang 35đặc điểm đó không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp với nhau
Thứ ba, kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ chưa bị bộc lộ công khai ở bất cứ
đâu, dưới bất kì hình thức nào tính đến ngày nộp đơn Kiểu dáng công nghiệp có thể bị bộc lộ thông qua các cách thức như: Sử dụng kiểu dáng công nghiệp, mô tả bằng văn bản như phát hành các ấn phẩm; trưng bày trong các cuộc triển lãm hay qua các bài giảng hoặc có thể được bộc lộ thông qua bất kì hình thức nào khác trước ngày nộp đơn xin yêu cầu bảo hộ mà một chuyên gia trung bình trong lĩnh vực đó có thể nắm bắt được bản chất của kiểu dáng công nghiệp đó Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa
bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó
Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được đặt ra không những trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định trường hợp nhằm loại trừ việc làm mất tính mới của kiểu dáng công nghiệp (khoản 4 Điều 65 Luật SHTT)
- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp được thể hiện thông qua
2 yếu tố cơ bản (Điều 66 Luật SHTT):
+ Kiểu dáng công nghiệp phải là thành quả sáng tạo của tác giả, nó không được tạo
ra một cách dễ dàng đối với có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng Kiểu dáng công nghiệp được mô tả trong đơn yêu cầu phải tạo ra bước tiến rõ rệt về mặt kĩ thuật so với kiểu dáng của các sản phẩm cùng loại trước đó Như vậy, tiêu chí về tính thẩm mĩ của kiểu dáng công nghiệp phải hội tụ cả yêu cầu về tính thẩm mĩ và yêu cầu
về tính kĩ thuật của sản phẩm
+ Có khả năng áp dụng công nghiệp: Kiểu dáng công nghiệp được công nhận là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó Đặc điểm này nhấn mạnh tính khả thi của kiểu dáng công nghiệp, chứng tỏ kiểu dáng công nghiệp theo sự mô tả trong đơn đăng kí phải được triển khai thực hiện trong điều kiện thực tế và có thể cho ra các thành phẩm cụ thể như kết quả đã nêu ra trong đơn yêu cầu
Tóm lại, kiểu dáng công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ nếu về mặt nội dung thoả mãn được cả ba tiêu chí cơ bản như đã nêu ở trên
Về phạm vi bảo hộ: Điều 64 Luật SHTT cũng quy định cụ thể những đối tượng không có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp, bao gồm:
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng Như vậy, đối với các loại sản phẩm mà khi đưa vào sử dụng thì không còn giữ được hay bị mất đi hình dáng bên ngoài như lúc ban đầu thì cũng sẽ không đáp ứng được yêu cầu bảo hộ Chủ yếu các sản phẩm mang đặc tính của vật không tiêu hao thì mới có thể được yêu cầu bảo hộ hình dáng bên ngoài của sản phẩm
- Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp Theo quy định của Luật SHTT thì chỉ những bản vẽ, thiết kế sơ đồ của các công trình xây dựng mới được bảo hộ dưới góc độ của luật quyền tác giả còn hình dáng bên ngoài của chúng thì không được bảo hộ
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kĩ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có hoặc chỉ mang đặc tính kĩ thuật; hình dáng bên ngoài của sản phẩm chỉ thuần
Trang 36tuý có giá trị thẩm mĩ Như vậy, nếu hình dáng bên ngoài của sản phẩm chỉ thiếu một trong hai yếu tố là tính thẩm mĩ hay tính kĩ thuật thì đều không được bảo hộ Theo yêu cầu về tính độc đáo thẩm mĩ như đã phân tích ở trên thì kiểu dáng công nghiệp phải đồng thời gây được ấn tượng thẩm mĩ nhưng cũng phải thể hiện được nó là kết quả của
sự sáng tạo trong lĩnh vực kĩ thuật
c Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Trong điều kiện sống hiện đại ngày nay, các trang thiết bị ngày càng tinh xảo và phát huy tối đa tác dụng để phục vụ cho nhu cầu của con người thì không thể không nhắc đến vai trò vô cùng quan trọng của mạch điện tử Chẳng hạn, những chiếc máy điện thoại di động ngày càng nhiều chức năng nhưng cũng ngày càng thu nhỏ về kích
cỡ, những chiếc máy tính xách tay gọn nhẹ nhưng phát huy tối đa được tác dụng tiên tiến, hiện đại nhất Đó là một phần do thành tựu đã đạt được trong ngành công nghiệp bán dẫn là phạm trù của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Trong ngành công nghiệp bán dẫn luôn đòi hỏi phải có những thiết kế mới để tối thiểu hoá kích thước hiện tại của các mạch tích hợp nhưng đồng thời nâng cao và mở rộng hơn nữa chức năng vốn dĩ của chúng Một mạch tích hợp với số lượng phần tử cao trên một diện tích nhỏ sẽ tiết kiệm được nguyên liệu cần thiết cho việc sản xuất, tiện lợi cho quá trình sử dụng cũng như tiết kiệm được không gian
Các quy định của pháp luật về thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp và tương thích với các văn bản pháp lí quốc tế như Hiệp định TRIPs, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì và Hiệp ước
về SHTT trong lĩnh vực mạch tích hợp năm 1989 (gọi tắt là IPIC) Khoản 15 Điều 4
Luật SHTT quy định: “Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế
bố trí) là cấu trúc không gian của các phần t mạch và mối liên kết các phần t đó trong mạch tích hợp bán dẫn”
Như vậy, thiết kế bố trí mạch tích hợp là sự bố trí trong không gian ba chiều vị trí, kích thước của các phần tử của mạch điện tử và mối liên hệ giữa các phần tử đó Thiết
kế bố trí mạch tích hợp được cấu tạo theo nguyên tắc bố trí các phần tử của mạch điện
tử thành nhiều líp khác nhau trong mạch tích hợp bán dẫn Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn và nhằm thực hiện chức năng điện tử Có thể chỉ ra đây các tiêu chí của mạch tích hợp bán dẫn:
Thứ nhất, phải tồn tại dưới dạng một sản phẩm đã hoàn thành hoặc các bộ phận để
tạo nên một sản phẩm hoàn thành (bán thành phẩm) hay nói cách khác nó phải có giá
Điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí: Quyền đối với thiết kế bố trí phát sinh trên
cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí thiết kế bố trí cấp Một thiết kế bố trí chỉ được cấp giấy chứng nhận đăng kí khi đáp ứng được các điều kiện bảo hộ nhất định Theo quy định của Điều 68 Luật SHTT, thiết kế bố trí được cấp giấy chứng nhận đăng kí nếu có “tính nguyên gốc” và “tính mới thương mại”
Trang 37- Tính nguyên gốc: Tính nguyên gốc của thiết kế bố trí được công nhận nếu thoả mãn được hai yếu tố sau đây”:
Thứ nhất: Thiết kế bố trí đó là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả thiết kế
bố trí Tác giả thiết kế bố trí đã có sự đầu tư trí tuệ nhất định để tạo ra một bước tiến mới trong công nghệ thiết kế mạch bán dẫn Hay nói cách khác, thiết kế bố trí đó không phải là sự sao chép, copy của bất kì thiết kế nào đó đã có từ trước mà chính là thành quả của sự nỗ lực trí tuệ của tác giả Vào thời điểm sáng tạo, nó không phải là sản phẩm thông thường của người sáng tạo ra thiết kế bố trí và của người chế tạo ra mạch tích hợp
Thứ hai: Tại thời điểm được tạo ra, thiết kế bố trí đó chưa được biết đến rộng rãi
trong giới những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn Đây chính là yêu cầu về tính mới của thiết kế bố trí Thiết kế bố trí yêu cầu bảo hộ phải chưa bị bộc lộ công khai dưới các hình thức chủ yếu như lời nói, văn bản hay đã được đưa vào sử dụng trong thực tế hoặc bị tiết lộ dưới bất cứ hình thức nào khác Một điểm cần lưu ý là phạm vi bộc lộ ở đây chỉ bị giới hạn trong giới những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn Điều này xuất phát từ đặc điểm của mạch tích hợp bán dẫn là vấn đề hoàn toàn mang tính kĩ thuật chuyên môn, nếu những người không qua đào tạo thì không thể hiểu và nắm bắt được chúng cũng như đưa chúng vào khai thác sử dụng
Mặt khác, những thiết kế bố trí là sự kết hợp của các phần tử và các mối liên kết thông thường chỉ được coi là nguyên gốc nếu toàn bộ sự kết hợp đó có tính nguyên gốc theo các điều kiện như đã phân tích ở trên
- Tính mới thương mại: Tính mới thương mại của thiết kế bố trí được hiểu là thiết
kế bố trí đó chưa từng được đưa vào khai thác trong thực tế với mục đích thương mại tại bất kì nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng kí (Điều 71 Luật SHTT) Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại là các mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế bố trí hay hàng hoá có chứa mạch tích hợp bán dẫn đó đã được phân phối công khai trên thị trường nhằm mục đích thương mại Như vậy, tính mới của thiết
kế bố trí chỉ đặt ra trong lĩnh vực thương mại và được xét trên phạm vi toàn thế giới Tuy nhiên, có một ngoại lệ không được coi là làm mất tính mới thương mại của thiết
kế bố trí mặc dù thiết kế bố trí này đã được đưa vào khai thác thương mại trên thực tế
Ngoại lệ này phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Thứ nhất, việc khai thác thương mại
thiết kế bố trí này được tiến hành bởi những người có quyền nộp đơn đăng kí cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật hoặc bởi những người được người đó cho
phép; thứ hai, thời điểm lần đầu tiên khai thác thương mại thiết kế bố trí tại bất kì đâu
trên thế giới đến thời điểm nộp đơn đăng kí bảo hộ không được quá 2 năm
Về phạm vi bảo hộ: Pháp luật quy định các đối tượng sau không được bảo hộ dưới danh nghĩa của thiết kế bố trí và sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng kí: Nguyên
lí, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn; thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn
Thực chất, các đối tượng nêu trên được xem như là “hậu tố phái sinh” của một thiết
kế bố trí đã được tạo ra một cách hoàn chỉnh và đưa vào khai thác Trong khi đó, thiết
kế bố trí được cấp giấy đăng kí ở đây chỉ là cấu trúc không gian của các phần tử mạch (sự sắp xếp, bố trí các phần tử mạch và mối liên kết giữa chúng trong không gian 3 chiều) do đó mà các đối tượng trên sẽ không được ghi nhận dưới danh nghĩa của một
Trang 38thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Nhìn chung, các quy định về điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí là phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lí quốc tế, qua đó thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với các nước trên thế giới trong lĩnh vực xây dựng và phát triển pháp luật về SHTT
2.2.3.2 Nhóm đối tượng có tính chỉ dẫn thương mại
tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc; 2 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”
Nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ phải đồng thời đáp ứng hai tiêu chí sau:
- Tiêu chí bảo hộ thứ nhất: nhãn hiệu phải hội tụ đủ hai yếu tố:
Thứ nhất, là các dấu hiệu có thể nhìn thấy, có thể “tri giác” được;
Thứ hai, các dấu hiệu cụ thể được xem xét là nhãn hiệu được tồn tại dưới dạng chữ cái, từ, ngữ, hình ảnh, hình vẽ, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Theo quy định của pháp luật đặc điểm thứ nhất của nhãn hiệu là các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, có nghĩa là con người chỉ có thể nhận thức được, nắm bắt được về chúng qua khả năng thị giác của con người Người tiêu dùng qua quan sát, nhìn ngắm để phát hiện ra loại hàng hoá, dịch vụ có gắn với
nhãn hiệu đó để lựa chọn Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPs cũng quy định: “… Các thành viên có thể quy định như là điều kiện để được đăng kí rằng các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” Theo pháp luật của một số nước trên thế giới, việc bảo hộ
đối với nhãn hiệu được áp dụng đối với cả các loại nhãn hiệu là những dấu hiệu âm thanh như âm nhạc, tiết nhạc mà con người có thể nhận biết được qua “thính giác” hoặc nhãn hiệu là các dấu hiệu mùi hương mà con người có thể nhận biết thông qua
“khứu giác” hay nhãn hiệu hàng hoá chỉ đơn thuần được thể hiện thông qua một màu sắc nhất định
Nhãn hiệu có thể được thể hiện thông qua các dấu hiệu chữ cái, từ, ngữ; hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc kết hợp của các yếu tố chữ cái, từ, ngữ và các dấu hiệu hình, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc
Yếu tố màu sắc là không thể thiếu được đối với nhãn hiệu hàng hóa bởi ưu điểm gây ấn tượng đối với thị giác con người, qua đó nó giúp cho nhãn hiệu thực hiện được chức năng phân biệt của mình
Luật SHTT quy định các dấu hiệu bị loại trừ khi xem xét để cấp văn bằng bảo hộ tại Điều 73, các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu: Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kì, quốc huy của các nước; biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt
Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép, ví dụ: Tên viết
tắt của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) hay Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sẽ không được dùng để làm nhãn hiệu; tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ,
Trang 39anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam và của nước ngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng kí các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận,
ví dụ như dấu hiệu chứng nhận ISO 9000 cho các sản phẩm hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế hay dấu hiệu CE chứng nhận cho chất lượng của các sản phẩm hàng hoá khi xuất khẩu sang thị trường các nước EU; dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ
Nhằm đảm bảo thực hiện các cam kết của Việt Nam tại Hiệp định đối tác toàn diện
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam (EVFTA) các quy định về nhãn hiệu của Việt Nam cũng cần ghi nhận và bảo hộ đối với nhãn hiệu âm thanh Trên thế giới, những nhãn hiệu âm thanh nổi tiếng được bảo hộ tại Hoa Kỳ hiện nay như tiếng gầm của sư tử mở đầu cho phim của hãng MGM, tiếng sấm rền của hãng môtô Harley – Davidson, giọng người đang hát từ âm trầm ngân lên âm cao từ “YAHOO” của Yahoo! Inc, tiếng chuông điện thoại mặc định của hãng NOKIA
- Tiêu chí bảo hộ thứ hai: “Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ…” (khoản 1 Điều 74 Luật SHTT)
“Yếu tố” được hiểu là một bộ phận của dấu hiệu mà không thể hiểu là toàn bộ hay bản thân dấu hiệu đó Quy định của điều luật chỉ đòi hỏi một hoặc một số các yếu tố thuộc dấu hiệu phải tạo nên được sự “dễ nhận biết” và “dễ ghi nhớ” của nhãn hiệu Nhãn hiệu dễ nhận biết là nhãn hiệu bao gồm các yếu tố đủ để tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả năng lưu giữ trong trí nhớ hay tiềm thức của con người Bất kì ai khi tiếp xúc với chúng đều dễ dàng tri giác và dễ ghi nhớ nhận biết về chúng khi đặt bên cạnh các loại nhãn hiệu khác Có thể có nhiều yếu tố độc đáo không giống những cái đã có nhưng lại quá nhiều chi tiết phức tạp hoặc quá nhiều hình vẽ rắc rối khiến cho người tiếp cận khó nắm bắt và không thể ghi nhớ được nội dung hoặc cấu trúc của
(ii) Các chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng Ngôn ngữ thông dụng được hiểu là bất kì ngôn ngữ nào được sử dụng và được nhiều người biết đến tại Việt Nam Hiện nay, một dấu hiệu sẽ có khả năng được đăng kí tại Cục SHTT nếu dấu hiệu này thuộc ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc
Ngoại lệ được áp dụng cho các trường hợp trên: Đó là trường hợp các dấu hiệu này
đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu Để chứng minh được ngoại lệ này đòi hỏi người nộp đơn đăng kí nhãn hiệu phải đưa ra được các chứng cứ đầy đủ và thuyết phục
+ Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá,
Trang 40dịch vụ thuộc bất kì ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến Những dấu hiệu, biểu tượng quy ước như 5 hình tròn lồng vào nhau là biểu tượng của các thế vận hội thể thao, hình chữ thập biểu tượng cho ngành y tế, hình cán cân công lí biểu tượng cho ngành tư pháp sẽ không được đăng kí bảo hộ là nhãn hiệu Những hình vẽ hay ảnh chụp của chính sản phẩm hàng hoá hay tên gọi thông thường của sản phẩm như “Bánh đậu xanh”, “Car” (tiếng Anh là ô tô) cũng không được sử dụng làm nhãn hiệu
+ Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ Thực chất đây chỉ là các dấu hiệu có chức năng thông tin về các vấn đề cần thiết liên quan đến quá trình sử dụng sản phẩm mà hoàn toàn không có chức năng phân biệt bởi nhiều khi hàng hoá cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau cũng có thể có cùng công dụng, tính chất, thành phần Tuy nhiên, có một ngoại lệ là nếu các dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng kí nhãn hiệu thì cũng sẽ được chấp nhận làm nhãn hiệu
+ Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lí, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh + Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của sản phẩm, dịch vụ trừ trường hợp dấu hiệu đó
đã được sử dụng và được thừa nhận rộng rãi hoặc được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận
+ Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng kí cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng kí có ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng kí được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng kí nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của các loại hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự; hay nhãn hiệu của các loại hàng hoá, dịch vụ không trùng hoặc không tương tự nhưng có khả năng làm tổn hại đến khả năng phân biệt hay uy tín của các loại nhãn hiệu đó
Việc xác định một nhãn hiệu có “trùng” với một nhãn hiệu khác hay không chúng
ta chỉ cần xem xét là chúng có phải là bản photocopy y nguyên của nhau hay không, điều đó không khó khăn Nhưng để xác định tính “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” giữa các loại nhãn hiệu với nhau đôi khi là một công việc khá phức tạp Có thể có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gây nhầm lẫn giữa hai nhãn hiệu nhưng cũng có khi không yếu tố nào được coi là có tính quyết định hơn yếu tố nào Việc đưa ra tiêu chuẩn hay đáp số chung cho mọi trường hợp để xác định tính tương tự có khả năng gây nhầm lẫn là công việc không thể do đặc điểm riêng biệt của mỗi trường hợp là khác nhau Tuy nhiên, có thể tham khảo một số tiêu chí sau đây để xác định tính tương
tự gây nhầm lẫn giữa hai hay nhiều nhãn hiệu (các tiêu chí này không phải xếp theo thứ tự quan trọng): Sự tương tự về cấu trúc (như thêm các thành phần thứ yếu không
có khả năng phân biệt vào một nhãn hiệu đã tồn tại từ trước hoặc ngược lại loại bỏ hay thay đổi thành phần thứ yếu của của nhãn hiệu khác để làm thành nhãn hiệu của mình);
ý nghĩa và hình thức thể hiện của các loại nhãn hiệu; sự tương tự về bản chất, phương thức lưu thông (kênh thương mại) trên thị trường của các loại nhãn hiệu; mức độ nổi tiếng của một trong các nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn; tổng thể các yếu tố khác
có liên quan đến các loại nhãn hiệu này (xem xét về sự thoả thuận giữa người nộp đơn