MỞ ĐẦU Nhân loại có lý do để khẳng định, L X Vưgotxki đối với tâm lý học cũng như Mozart đối với âm nhạc Cả hai trường hợp đều là ánh sao băng chói lọi và ngắn ngủi, một sự vắng bóng dài và một sự hồi.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhân loại có lý do để khẳng định, L.X.Vưgotxki đối với tâm lý học cũngnhư Mozart đối với âm nhạc Cả hai trường hợp đều là ánh sao băng chói lọi vàngắn ngủi, một sự vắng bóng dài và một sự hồi sinh rực rỡ Chỉ với 38 tuổi đời,gần 1/4 trong số đó dành cho tâm lý học, L.X.Vưgotxki đã tạo bước ngoặt, mở
ra trang mới cho sự phát triển của tâm lý học nói chung, tâm lý học hoạt độngnói riêng Cuộc đời khoa học của ông thật hạnh phúc và bất thường trong thế kỷ
XX, một thế kỷ đặc trưng bởi sự phát triển như vũ bão của khoa học, khi mànhiều tư tưởng trở nên lỗi thời ngay ngày hôm sau chúng vừa được ra đời Trongtâm lý học cũng vậy, rất hiếm trường hợp một công trình nghiên cứu vẫn giữđược tính cấp thiết của mình sau hàng trăm năm, kể từ ngày công bố, như cáccông trình của L.X.Vưgotxki Ngày nay, trên thế giới, LX.Vưgotxki không đượcthể hiện như là một nhân vật của lịch sử, mà như là nhà nghiên cứu đang sống
và hoạt động
Trong cuộc đời nghiên cứu của mình, Vưgốtxki - người đặt nền móng chotâm lý học hoạt động là nền tâm lý học lấy khái niệm hoạt động trong học thuyếtmácxít làm khái niệm công cụ then chốt nhất để đưa nền tâm lý học thoát khỏitình trạng khủng hoảng, bế tắc do đường lối duy tâm, nội quan, thần bí hoá tâm
lý người và đường lối duy vật máy móc, sinh vật hoá tâm lý người tạo nên hồicuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Vưgốtxki và Piagiê được coi là hai cột trụ lớnnhất của tâm lý học hiện đại
Vưgốtxki đã phân tích một cách khoa học sự đóng góp tích cực của cácdòng phái tâm lý học hồi đó, như tâm lý học hành vi chủ nghĩa, tâm lý học phântâm, tâm lý học ghestan, phản xạ học, phản ứng học là đều có cùng một ý đồ hếtsức đáng trân trọng: bằng mọi cách phải đưa tâm lý học phát triển theo phươngpháp khách quan Nhưng các nền tâm lý học vừa nêu đều có một hạn chế chung làchưa tính đến một cách đầy đủ tính xã hội, tính lịch sử của tâm lý con người.Vưgốtxki đề xuất phải xây dựng nền tâm lý học thực sự con người mà ông gọi làtâm lý học lịch sử Nền tâm lý học này lấy hoạt động lao động của con người làm
mô hình để nghiên cứu và phát triển tâm lý người; coi tâm lý con người như mộthoạt động, nghĩa là nó cũng có đối tượng, có công cụ, có chủ thể lao động và sảnphẩm
Trang 2Với những đóng góp của mình, Vưgốtxki đã để lại cho nền Tâm lý họcthế giới hệ thống lý luận khách quan, khoa học khi nghiên cứu về hoạt độngtrong nghiên cứu và phát triển tâm lý con người.
Từ ý nghĩa đó, bản thân lựa chọn chủ đề: “Quan điểm của Vưgotxki vềhoạt động” làm chủ đề Tiểu luận môn Tâm lý học hoạt động
Trang 3NỘI DUNG
1 Quan điểm của Vưgốtxki về hoạt động
1.1 Vài nét về tiểu sử Vưgốtxki
Lev Xemenovits Vưgotxki sinh ngày 5-11-1896 trong một gia đình côngchức, ở thị trấn Oocsa, nước cộng hoà Bieloruxia (Bạch Nga), sau chuyển về thịtrấn Gomen sinh sống
Khi còn nhỏ, L.X.Vưgotxki học ở nhà Hết lớp 6 mới vào trường tư thục.Ngay từ thời học phổ thông, Cậu bé Vưgotxki đã tỏ ra là người có tài khởixướng và tổ chức các buổi hội thảo về văn học, lịch sử và triết học Mối quantâm sâu sắc của ông là các khoa học xã hội - nhân văn
Năm 1913 L.X Vưgotxki vào học khoa luật trường Đại học Tổng hợpMatxcơva và khoa lịch sử - triết học trường Đại học Xanhevxky Trong thờigian học đại học, ông là một sinh viên hiếm có Nhờ khả năng đặc biệt và thái
độ học tập nghiêm túc, L.X Vưgotxki cùng một lúc đạt hiệu quả cao trên nhiềulĩnh vực học tập và nghiên cứu: luật, triết học, lịch sử, văn học, nghệ thuật, ngônngữ học, nhân chủng học, tâm lý học và sinh lý thần kinh Trong lĩnh vực triếthọc, L.X Vưgotxki đặc biệt quan tâm tới quan điểm của Spinoza Ông ấp ủ viếtmột công trình tâm lý học khai thác tư tưởng của nhà triết học duy vật này Tiếcrằng điều đó chưa kịp thành hiện thực Những kiến thức sâu sắc về triết học củaL.X.Vưgotxki, đã tạo thành nền tảng vững chắc cho cả sự nghiệp khoa học saunày của ông
Năm 1917, sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở về dạy học ở quê hươngGomen Lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy của ông là Văn học, Lịch sử và Tâm
lý học Tuy vậy, phần lớn thời gian ông dành cho việc nghiên cứu Văn học nghệ thuật và Tâm lý học Mối quan tâm chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật làphê bình văn học, còn trong tâm lý học là tâm lý học sư phạm Điều lý thú làngay cả trong các công trình nghiên cứu về nghệ thuật của ông cũng mang bảnchất tâm lý học Mối quan tâm của ông trong lĩnh vực này là người đọc tri giáctác phẩm nghệ thuật như thế nào? Điều gì trong tác phẩm gây ra cảm xúc nàyhay khác ở độc giả? v.v… Đỉnh cao trong thời kỳ sáng tạo này tà tác phẩm lớn
-“Tâm lý học nghệ thuật”, được ra đời năm 1925
Trang 4Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở nước Nga đã xuất hiện một sốphòng thực nghiệm tâm lý Năm 1912, theo sáng kiến của G.I Chenpannov,lần đầu tiên đã thành lập ở Nga Viện tâm lý học, trực thuộc Đại học tổng hợpMatxcova, hoạt động theo tâm lý học nội quan G.I.Chenpannov và cộng sự đãlặp lại các thực nghiệm của Wundt Năm 1921, K.N.Coocnhilov đọc bài báo
"Tâm lý học và chủ nghĩa Mác" tại Đại hội toàn Nga lần thứ nhất về Tâm lýthần kinh (1-1923), đánh dấu sự ra đời của khuynh hướng Mác xít trong tâm lýhọc Nga Năm 1923, I V.Pavlov xuất bản tác phẩm “Hai mươi năm kinhnghiệm nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp cao của động vật” Cùng với cáchoạt động của Viện sinh lý thần kinh do V.M.Becherev đứng đầu, tác phẩmcủa I V.Pavlov khẳng định ưu thế của xu hướng phản xạ học trong nghiên cứutâm lý Nga thời đó Trên thực tế đã xuất hiện chủ trương kết hợp giữa Phântâm học, phản xạ học với chủ nghĩa Mác, coi đó là lối thoát ra khỏi cơn khủnghoảng cho tâm lý học Nga Giống như tâm lý học thế giới nói chung, Tâm lýhọc Nga đang trong thời kỳ bế tắc, nhất là về phương pháp luận Tại thời điểmnhạy cảm này, L.X Vưgotxki chính thức xuất hiện với tư cách là nhà tâm lýhọc
Năm 1924, L.X Vưgotxki đọc báo cáo “Phương pháp nghiên cứu phản xạhọc và tâm lý học” tại đại hội Tâm lý học thần kinh toàn liên bang Bài báo đãgây ấn tượng mạnh trong giới khoa học và ông đã được K.N Coonhilov mời vềlàm việc tại Viện tâm lý học ở Matxcơva, bắt đầu 10 năm cống hiến lớn lao chotâm lý học
Đến với tâm lý học, L.X.Vưgotxki lập tức rơi vào tình trạng đặc biệt sovới các nhà tâm lý học khác Một mặt, ông hiểu rõ sự cần thiết phải xây dựngnền tâm lý học mới, khách quan Mặt khác, từ các công trình nghiên cứu củamình về cảm xúc trong nghệ thuật, L.X Vưgotxki nhận thấy khiếm khuyết chủyếu của các trường phái tâm lý học khách quan đang thịnh hành như: tâm lý họchành vi, phản xạ học, phản ứng học v.v… là không thể chấp nhận được Khuyếtđiểm chính của trường phái này là đơn giản hoá các hiện tượng tâm lý, theo xuhướng sinh lý hoá các hiện tượng đó và bất lực trong việc mô tả một cách phù
hộ các biểu hiện cấp cao của tâm lý - ý thức người L.X Vưgotxki thấy cần phảilàm rõ các triệu chứng của căn bệnh mà các trường phái tâm lý học khách quan
Trang 5hiện thời đang mắc phải, rồi sau đó tìm cách chữa trị Các tác phẩm “Phươngpháp phản xạ học và tâm lý học” (1924), “Ý thức như là một vấn đề của tâm lýhọc hành vi” (1925) và "Ý nghĩa lịch sử của khủng hoảng tâm lý học" (1926-1927) ra đời nhằm giải quyết nhiệm vụ trên.
Từ năm 1924, L.X Vưgotxki được Bộ giáo dục Nga giao trách nhiệmnghiên cứu tâm lý trẻ em khuyết tật Năm 1925, ông sáng lập phòng thí nghiệmtâm lý trẻ em có khuyết tật và đến năm 1929 chuyển thành Viện nghiên cứu thựcnghiệm tật học Các tiếp xúc khoa học với bệnh viện thần kinh và những nghiêncứu tâm lý trẻ em khuyết tật có ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng tâm lý học củaVưgotxki, đặc biệt trong việc phân định các chức năng tâm lý, sự hình thành vàhuỷ hoại chúng
Từ năm 1925, ông bị mắc bệnh lao và sức khoẻ ngày càng suy giảm chođến những ngày cuối cùng của cuộc đời Cũng từ năm này, ông bắt tay nào việcxây dựng một nền tâm lý học mới Tác phẩm “Ý thức như là một vấn đề của tâm
lý học hành vi” không chỉ là sự giải phẫu căn bệnh của tâm lý học hành vi (phản
xạ học, phản ứng học ở Nga), mà còn là cương lĩnh của một nền tâm lý học mới:tâm lý học Mác xít, lấy phạm trù hoạt động là đối tượng nghiên cứu
Những tư tưởng cách mạng của L.X.Vưgotxki nhanh chóng cuốn hút cácnhà tâm lý học trẻ tài năng đến với ông Lúc đầu là A.R.Luria, A.NLeonchev.Tiếp đến là L.I.Bogiovich, A.V.Daporozed, P.E.Levin, N.G Morozov, L.X.Xlavin, L V.Dancov, Iu V Coletov, LX Xakharov, I M.Xocolev v v…Những năm sau đó nhiều nhà tâm lý học từ Leningrad như D.B.Enconin, J.I.Siph v.v… cũng đến làm việc với ông Trên thực tế, thời gian này đã hình thànhtrường phái tâm lý học Vưgotxki có vai trò to lớn đối với sự phát triển của tâm
lý học Xô Viết những năm sau này Về lý luận, đã xây dựng được cơ sở củaThuyết lịch sử văn hoá của sự phát triển tâm lý Những luận điểm cơ bản củahọc thuyết này được L.X.Vưgotxki trình bày trong nhiều tác phẩm của ông:
“Phương pháp có tính chất công cụ trong nhi đồng học” (1928), “Nguồn gốcphát sinh tư duy và ngôn ngữ” (1929), “Bút ký về sự phát triển tâm lý của trẻ embình thường” (1929), “Phương pháp mang tính chất công cụ trong tâm lý học”(1930), "Công cụ và ký hiệu trong sự phát triển trẻ em" (1930), “Phác hoạ vềlịch sử hành vi” (1930 - cùng với A.R.Luria), lịch sử phát triển các chức năng
Trang 6thần kinh cao cấp (1930-1931) Nhiều tư tưởng then chốt của thuyết lịch sử vănhoá được trình bày trong tác phẩm nổi tiếng nhất của ông: “Tư duy và ngônngữ” (1933-1934).
Những năm 1930-1934, sau khi đã đặt ra các vấn đề phương pháp luậnnghiên cứu, L.X Vưgotxki bắt tay vào việc giải quyết các vấn đề cơ bản củatâm lý học theo quan điểm phương pháp luận mới, trong số đó có các khái niệm
ý thức, xúc cảm, động cơ v.v… - những vấn đề mà tâm lý học hành vi đã gạt bỏtrong các nghiên cứu của họ L.X Vưgotxki đã không thực hiện được việc này.Ngày 11/6/1934, ông đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 38 Cái chết đã ngăn cản ông hoànthành sứ mệnh lớn lao của mình Nhiều tác phẩm lớn của ông vẫn còn dang dở
"Trò chơi và vai trò của nó trong sự phát triển tâm lý trẻ em" (1933), "Tâm lýhọc trẻ em" (1934) v v…
Trong 10 năm cống hiến cho tâm lý học (1924-1934), L.X Vưgotxki đã
để lại 180 công trình khoa học Trong số đó 135 công trình đã được phổ biên.Nhiều cuốn sách của ông trở thành tài liệu quý hiếm Lý thuyết lịch sử văn hoá
về sự phát triển tâm lý đặt nền móng cho nhiều chuyên ngành tâm lý học hiệnđại Năm 1996, theo quyết định của Uỷ ban Giáo dục, khoa học, văn hoá liênhợp quốc (UNESCO), cả thế giới tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của L.X.Vưgotxki và J.Piaget Đó là biểu hiện sinh động sự ngưỡng mộ và biết ơn củanhân loại đối với các danh nhân văn hoá
1.2 Quan điểm của Vưgốtxki về hoạt động
Trong hệ thống các luận điểm đa dạng của Vưgốtxki, nổi lên hàng đầu lànhững vấn đề về nguồn gốc, cấu trúc, vận hành của các chức năng chuyên biệtngười “Học thuyết về bản chất xã hội - lịch sử của ý thức người là cơ sở của hệthống đó Chính trong quá trình giải quyết vấn đề này, đã hình thành phươngpháp tiếp cận lịch sử vận dụng vào nghiên cứu tâm lí người và quan niệm vềtính xã hội quy định tâm lí Lôgic giải quyết vấn đề đó đã đưa Vưgốtxki tới chỗphát hiện ra một phương pháp phân tích cuộc sống tâm lí hoàn toàn mới – đó làphương pháp phân tích “theo đơn vị” Với phương pháp này, ông đã đề ranguyên tắc ám chỉ, rồi dùng nguyên tắc này giải quyết vấn đề cấu trúc của ýthức là vấn đề trung tâm của tâm lí học người Những tư tưởng, vấn đề vànguyên tắc kể ra đây chính là những luận điểm quan trọng nhất của tâm lí học
Trang 7mác-xít Nhiệm vụ đặt ra ở đây là sẽ giới hạn trong việc trình bày các luận điểm
đó, các luận điểm đã có đóng góp đáng kể vào việc hình thành phạm trù hoạtđộng trong hệ thống khoa học tâm lí
1.2.1 Tâm lý học lịch sử người của Vưgốtxki
Vưgốtxki đề cập đến mối quan hệ giữa con người và môi trường xung
quanh là các mối quan hệ thực giữa con người với toàn bộ thực tại xung quanh,nghĩa là quan hệ giữa con người với thiên nhiên, quan, hệ giữa người với người,trong đó có quan hệ giữa con người và bản thân Quan hệ này, ta tìm thấy trong
sơ đồ do Vưgốtxki phác họa, nó phản ảnh các mối liên hệ khách quan, có bảnchất xã hội ta cần tìm trong các mối quan hệ này chìa khóa giúp ta hiểu đượctâm lí người… Sơ đồ bao gồm một số vòng tròn, bán nguyệt… và bên trongnhững từ sau đây: “con người”, “công cụ”, “đối tượng lao động”, “sản phẩm”,
“ngôn ngữ” và “ngọn lửa” (văn hóa) đứng cạnh “công cụ”
Sơ đồ tâm lí, ngôn ngữ, văn hóa… là sản phẩm của hoạt động và cũng là thành tố của hoạt động
Sơ đồ này chứa đựng nội dung mới về nguyên tắc của tất cả các khái niệm
có trong tâm lí học thời kỳ đó, như các khái niệm môi trường, kích thích và hành
vi Môi trường và con người sống trong đó không được hiểu một cách đơn giản làtổng các kích thích vật lí và các kích thích xã hội, mà phải hiểu môi trường cóchứa đựng đối tượng và sản phẩm lao động Cần nhấn mạnh rằng, trong môi
B3
B2
A C
D
Trang 8trường có công cụ lao động chứa đựng các thao tác lao động nhất định với tư cách
là sản phẩm của kinh nghiệm xã hội - lịch sử Các kinh nghiệm này chứa đựngtrong các công cụ lao động và được chuyển từ thế hệ này qua thế hệ sau Bằngcông cụ lao động, con người thực hiện sự tác động qua lại với thiên nhiên, tức làhoạt động lao động nằm trong cơ sở của các mối quan hệ qua lại giữa con người
và môi trường Vì vậy, nếu như hành động của động vật, một mặt, tuân theo cácquy luật của trường quang học, mặt khác, tuân theo các quy luật của các nhu cầu
cơ thể, thì đối với hành động của con người, có trường tâm lí bao gồm cả trườngthời gian mở rộng, trường không gian kéo dài về phía trước lẫn phía sau, tức là cảquá khứ lẫn tương lai Trường tâm lí của con người vận hành theo cơ chế xã hội,lịch sử của việc gìn giữ và truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nó cũng vận hành theo ý định và mục đích do bản thân từng người tạo ra Ý định
và mục đích là các thành tố cần thiết của hoạt động lao động
Môi trường trong đó con người sống và hành động tựa như được mở rộng
ra Môi trường của con người không phải chỉ là môi trường thiên nhiên, mà còn làmôi trường xã hội, môi trường này trước hết được hiểu là tổng hòa của các quan
hệ xã hội do con người tạo ra trong quá trình thực hiện hoạt động của mình, vàcon người tham gia vào các quan hệ ấy Hơn thế nữa, môi trường của con ngườiluôn luôn thay đổi dưới tác động của con người Tóm lại, có một quá trình haichiều: môi trường tác động lên con người, và con người tác động lên môi trườngbằng hành động có mục đích của mình, con người thay đổi môi trường, đồng thờithay đổi bản thân Nói cách khác, các mối quan hệ qua lại giữa con người và môitrường, cũng như sự giao lưu xã hội của con người, không thể tiến hành ngoàihoạt động của con người Với ý nghĩa đó, con người bao giờ cũng là chủ thể củacác mối quan hệ có bản chất xã hội Vấn đề con người đã được Vưgốtxki giảiquyết như vậy trong hệ thống tư tưởng tâm lí học của mình Chỉ có hiểu khôngđầy đủ hệ thống ấy, thì mới bỏ qua vấn đề con người là vấn đề có ý nghĩa hết sức
cơ bản đối với việc xây dựng lí thuyết tâm lí học mới
Vì con người muốn tồn tại, buộc phải sử dụng công cụ ngôn ngữ và cácphương tiện khác do tập thể tạo ra và truyền từ người này sang người kia, nênphải đặt hành vi và tâm lí người vào trong quá trình hoạt động lao động và giaolưu xã hội, mới có thể hiểu được tâm lí và hành vi
Trang 9Có thể thấy, khái niệm tâm lí học lịch sử người do Vưgốtxki đưa vào tâm
lí học với tư cách là một khái niệm chi phối toàn bộ hệ thống khái niệm của tâm
lí học mác-xít, đã mở ra con đường cho tâm lí học lĩnh hội phạm trù hoạt độngcủa chủ nghĩa Marx Bài báo có tính chất cương lĩnh “ý thức là vấn đề của tâm líhọc hành vi” của Vưgốtxki là một bước quan trọng bậc nhất trên con đường đó
1.2.2 Cương lĩnh “ý thức là vấn đề của tâm lí học hành vi”
Ngay từ những năm đầu trong đời hoạt động khoa học của mình (1915 –1924), Vư-gốt-xki phân tích tình hình tâm lí học đương thời, đã phát hiện ra xuthế tiến tới khách quan là xu thế duy vật, khoa học tự nhiên, bao gồm thuyếthành vi Mĩ, phản xạ học Nga và phản ứng học Ông chọn con đường dẫn tới tâm
lí học khách quan, coi đó là con đường duy nhất có thể cứu khoa học thoát khỏikhủng hoảng và đặt khoa học vào những điều kiện phát triển thuận lợi Nhưngchẳng bao lâu sau, ông thấy phải đoạn tuyệt với các trào lưu khách quan mộtthời là bạn đường của mình, để tìm ra con đường riêng xây dựng tâm lí họcmác–xít Ông viết: “Buổi đầu, cuộc khủng hoảng Nga nổ ra từ lúc hướng vàothuyết hành vi Mĩ có tính chiến đấu: lúc đầu như vậy là đúng Cần phải chiếmlĩnh lấy quan điểm khách quan trong tâm lí học và thoát khỏi cảnh tù túng củachủ nghĩa chủ quan duy tâm, duy linh Nhưng ngay từ bây giờ, đã rõ là tâm líhọc mác–xít chỉ có thể cùng đi đường với behaviorism Mĩ và phản xạ học Ngađến một mốc nhất định thôi Bây giờ cần đoạn tuyệt với các bạn đường ấy vàđịnh ra con đường riêng”
Vư-gốt-xki thấy rõ rằng, muốn cải tổ tận cội rễ tâm lí học theo hướng chủnghĩa Mác mà Coóc– nhi– lốp, Blôn– xki, Ba– xôv và các nhà tâm lí học Liên
Xô khác đã nói tới trong những năm hai mươi, thì không thể dùng thuyết hành vihay phản ứng học, tâm lí học Ghestan hay thuyết Freud làm điểm xuất phát.Điểm xuất phát ấy nằm trong chủ nghĩa Marx: cần đi từ học thuyết của KarlMarx mà xây dựng một phương pháp luận mới cho việc nghiên cứu tâm lí họcmột cách cụ thể, tức là xây dựng nên một cơ cấu khái niệm mới của tâm lí học.Vư-gốt-xki là nhà tâm lí học đầu tiên hiểu ra điều đó; và điều đó được phản ánhmột phần trong cách ông đặt vấn đề đối tượng và phương pháp nghiên cứu tâm
lí hồi năm 1925 Bài báo của ông: “ý thức là vấn đề của tâm lí học hành vi”, bàibáo này được xem là cương lĩnh đầu tiên của lí thuyết tâm lí học về hoạt động
Trang 10Các trào lưu tâm lí học khách quan, ngay từ những ngày đầu, đều nhằmvào lí giải các mối quan hệ giản đơn của tồn tại sống với thế giới bên ngoài Kếtquả là trong tâm lí học có tình trạng: đối tượng của tâm lí học hoặc là nghiêncứu tâm lí, không nghiên cứu hành vi, hoặc nghiên cứu hành vi, không nghiêncứu tâm lí”, theo cách nói của Blôn– xki Trong tình trạng đó, các nhà tâm lí họcbuộc phải coi hành vi là các quá trình tự tồn tại ở bên ngoài, còn ý thức, tâm lí làcác thể nghiệm chủ quan tự tồn tại ở bên trong, tức là mỗi thứ tồn tại riêng biệt,không phụ thuộc vào nhau, hoặc song song cùng tồn tại Trong trường hợp này,tâm lí, ý thức hóa ra là một thứ vô dụng đối với cuộc đời, thậm chí có thể coi sựtồn tại của tâm lí, ý thức là một thứ kì quặc
Tóm lại, toàn bộ tâm lí học cũ, kể cả các dạng nội quan lẫn các xu hướngkhách quan, hành vi chủ nghĩa, đều ở trong vòng cương tỏa của thuyết nhịnguyên, duy linh và hiện tượng luận Vưgốtxki thấy khả năng phủ định nền tâm
lí học cũ trong việc đặt và giải quyết vấn đề ý thức con người là vấn đề trungtâm của tâm lí học hành vi
Vư-gốt-xki khẳng định: “Không nghiên cứu phản xạ, mà nghiên cứu hành
vi, cơ chế, thành phần, cấu trúc của hành vi” Đồng thời phải nghiên cứu cả ýthức trong nghiên cứu hành vi Ông viết: “Nếu loại trừ vấn đề ý thức, thì bảnthân tâm lí học tự ngăn mình không nghiên cứu bất cứ một vấn đề hơi phức tạpnào của hành vi con người”
Như vậy là tâm lí học phải nghiên cứu cả hành vi người với tư cách là
“cái con người làm ra” lẫn ý thức người: ý thức người cũng là một thực tại nhưhành vi Đó chính là đối tượng của tâm lí học Cả cái này lẫn cái kia đều đượcxem xét trong mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau, và đều được nghiên cứubằng các phương pháp khách quan “Về mặt tâm lí , Vưgốtxki viết - ý thức làmột sự kiện quá rõ ràng, là một thực tế hàng đầu và đó là sự kiện có ý nghĩa vôcùng quan trọng, chứ không phải sự kiện phụ hay ngẫu nhiên Không ai chối cãiđiều đó Có nghĩa là cần và có thể tạm để vấn đề đó lại chứ không phải bỏ đi nóichung Chừng nào tâm lí học mới mà chưa đặt ra một cách rõ ràng, dũng cảm,vấn đề tâm lí và ý thức, chừng nào mà chưa giải quyết vấn đề này bằng conđường thực nghiệm khách quan, chừng đó tâm lí học chưa thoát cảnh cơ cực”
Trang 11Vưgốtxki đã dành vị trí trung tâm trong bài báo cương lĩnh của mình chomột tư tưởng lớn: tâm lí học, với tư cách là một khoa học cụ thể, phải hướng các
cố gắng của mình vào nghiên cứu ý thức và hành vi của người - người được hiểu
là một tồn tại lịch sử, xã hội, lao động, có ý thức, chứ không phải là: “cái túiđựng đầy phản xạ” Lập trường xuất phát đó chỉ ra rằng, chỉ có thể giải quyếtvấn đề ý thức là hiện tượng chỉ con người mới có, trong sự phân tích các dạnghành vi đặc thù người, khác với hành vi động vật Hoạt động lao động là dạngchủ đạo trong các dạng hành vi người Chính vì vậy, ông đã lấy một đoạn trích
từ tác phẩm “Tư bản” của Mác làm tiền đề cho cương lĩnh của mình: “Con nhệnthực hiện các thao tác giống các thao tác của người thợ dệt, con ong xây tổ sáplàm cho đôi nhà kiến trúc phải hổ thẹn, nhưng ngay một nhà kiến trúc tồi, từ đầu
đã khác một con ong cừ nhất ở chỗ trước khi dùng sáp xây tổ nhà kiến trúc đãxây nó trong đầu mình rồi Khi quá trình lao động kết thúc, nhận được kết quả,thì kết quả này đã có dưới dạng tinh thần trong biểu tượng của con người từ lúcquá trình ấy mới bắt đầu Con người không những chỉ biến đổi hình thức cáithiên nhiên đã cho; mà trong cái thiên nhiên cho, con người đồng thời còn thựchiện cả mục đích có ý thức của mình, mục đích này là quy luật quy định phươngthức và tính chất của hành động của con người, con người bắt ý chí của mìnhphải theo mục đích đó”
Điểm đặc thù trong lao động của con người do Mác nêu ra, được Vưgốtxkigọi là “kinh nghiệm kép” Nói “kép” là ở chỗ “trong cử động của tay và trong sựbiến đổi vật liệu lao động lặp lại cái đã làm trước đó trong biểu tượng của người laođộng, tựa như làm việc với mô hình của mình về chính các cử động đó và về chínhvật liệu đó” Chính trong kinh nghiệm kép ấy ta thấy nguồn gốc của ý thức, sự tồntại thực của ý thức, cũng như chức năng định hướng hành động thực sự của ý thức.Khái niệm kinh nghiệm kép cũng chứa đựng tư tưởng cho rằng biểu tượng, ý thứchay tâm lí người nói chung, đều là các mặt của hành vi, và hành vi đã được ngầmhiểu là hoạt động Vưgốtxki không coi ý thức là bản thể, tức là một phương thứctồn tại tạo ra tồn tại khác, hay một thuộc tính thần bí của tinh thần Từ đó có thểhiểu ra rằng công nhận ý thức là đối tượng của tâm lí học hành vi, với quan niệmmới về bản chất, chức năng của ý thức đối với hành vi người, lần đầu tiên, tâm lí
Trang 12học có được khả năng thoát khỏi thuyết duy linh, hiện tượng luận và nhị nguyênluận.
Thế là lần đầu tiên trong lịch sử khoa học này, ý thức với tư cách là vấn
đề của tâm lí học được xem xét trong bối cảnh của hoạt động lao động của conngười Tình hình này, thực tế, là tiền đề của tư tưởng vận dụng nguyên tắc công
cụ, nguyên tắc gián tiếp là các nguyên tắc đặc trưng cho hoạt động lao động vàonghiên cứu tâm lí: điều này mang lại một sức sáng tạo to lớn cho khoa học củachúng ta Ở một chỗ khác sẽ nói tiếp về điểm này, còn bây giờ ta quay trở lại ýkiến của Vưgốtxki cho rằng “ý thức là vấn đề cấu trúc của hành vi” Điều đó cónghĩa là ý thức phải được xếp vào cùng hàng với toàn bộ các thành tố của hành
vi và phải giải thích ý thức trong hành vi đó Sự phân tích khái niệm kinhnghiệm kép phần nào đã nói lên điều đó Đối với các thành tố khác của hành vingười cũng phải có sự suy xét tương tự
Vưgốtxki xác định ranh giới giữa hành vi động vật và hành vi người là ởchỗ chúng có các cấu trúc hoàn toàn khác nhau Ở động vật, các dạng hành vichủ yếu hợp thành bởi hai nhóm phản ứng: bẩm sinh hay vô điều kiện, tự tạohay có điều kiện Nói cách khác, hành vi động vật áng chừng có thể coi là (kinhnghiệm di truyền) hay (kinh nghiệm di truyền; kinh nghiệm cá thể) Ở người cấutrúc hành vi bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệmkép Ở trên đã nói về kinh nghiệm kép Còn kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm
xã hội là gì?
Kinh nghiệm lịch sử được hiểu là việc sử dụng rộng rãi kinh nghiệm củacác thế hệ trước, tức là cái có thể gọi là “di truyền xã hội” Vưgốtxki viết: “…Toàn bộ cuộc sống của chúng ta, lao động, hành vi – dựa trên sự sử dụng rộngrãi kinh nghiệm của các thế hệ trước, không truyền qua con đường sinh đẻ từcha sang con đại thể chúng tôi gọi nó là kinh nghiệm lịch sử” Trong nội dungcủa hành vi người có các tri thức trong nghĩa rộng nhất của từ này là thành tốbắt buộc của hành vi Các tri thức, các kĩ xảo lao động, các kĩ năng sinh hoạt,các quy tắc văn hóa và các khái niệm văn hóa, v.v… là do các thế hệ trướctruyền đạt lại cho thế hệ trẻ Lĩnh hội những cái đó, con người có khả năng trởthành tồn tại xã hội Muốn biến khả năng này thành hiện thực, từng người phảibiến những tri thức đó thành các phương tiện của hành vi ở bản thân Trong
Trang 13trường hợp này, hành vi người không còn bị hiểu là một hệ thống các cử động
cơ thể hay một chuỗi phản ứng, hành vi được hiểu là một quá trình tích cực cónguồn gốc xã hội Đồng thời, trong kinh nghiệm lịch sử cũng như trong kinhnghiệm kép có chứa đựng khả năng tiến hành nghiên cứu một cách khách quan
ý thức, tâm lí người Phải xem xét cả nguồn gốc lẫn sự vận hành của ý thức,tâm lí người trong các kinh nghiệm ấy
Trong cấu trúc của hành vi người có kinh nghiệm xã hội Kinh nghiệm xãhội được hiểu là những tri thức nhận từ người khác tới Kinh nghiệm này cũngđược gọi là kinh nghiệm tập thể Về thực chất, kinh nghiệm xã hội không kháckinh nghiệm lịch sử Loại thứ nhất tựa như là một dạng của loại thứ hai Có thểnói rằng kinh nghiệm xã hội là kinh nghiệm lịch sử trong hiện tại Trong cả hailoại kinh nghiệm, vấn đề tựu trung là truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế
hệ khác và từng người lĩnh hội kinh nghiệm ấy Tách ra hai loại chỉ nhằm nhấnmạnh sự khác biệt giữa kinh nghiệm di truyền một cách sinh vật và kinh nghiệmlịch sử, đó là hai loại hình phát triển hành vi khác nhau về chất lượng Có thểnhận xét ngay rằng, tư tưởng coi có hai loại hình phát triển hành vi - loại sinh vật
và loại lịch sử - là một trong những tư tưởng nền tảng của các công trình tiếp theocủa Vưgốtxki và những người cộng tác của ông Ngoài ra tách kinh nghiệm xã hội
ra khỏi các kinh nghiệm khác còn để cho thấy hành vi người, và cùng với hành vi
là ý thức, tâm lí thường được hình thành, phát triển, vận hành trong giao lưu xãhội Trong ý nghĩa đó, Vưgốtxki nói rằng cơ chế của ý thức chính là cơ chế củakinh nghiệm lịch sử và kinh nghiệm xã hội
Một điểm cuối cùng rất đáng chú ý: Vưgốtxki cho rằng kinh nghiệm lịch
sử và kinh nghiệm xã hội có “cùng một số hiệu với kinh nghiệm kép” Khai thácluận điểm này, người ta hiểu rằng, ba loại kinh nghiệm nói tới ở đây hợp thànhcông thức (cấu trúc) hành vi người Cả ba đều thuộc một bước phát triển hành
vi, cùng có những đặc điểm chất lượng chuyên chỉ có trong loại hình lịch sử củahành vi người Cả ba có cái chung là nội dung của chúng đều xuất phát từ quátrình lao động, từ quá trình truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệkhác, từ người này tới người khác, và từ việc mỗi người lĩnh hội các kinhnghiệm Đương nhiên không thể thực hiện được các quá trình này, nếu không cótâm lí và ý thức giữ chức năng định hướng và tích cực hóa Vì vậy Vưgốtxki lại