1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử

296 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Phát Triển Các Ứng Dụng Thương Mại Điện Tử
Tác giả Dương Thăng Long, Nguyễn Đức Tuấn, Trần Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin, Thương Mại Điện Tử
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 7,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ưu thế vượt trội, sự thuận lợi và hiệuquả, các hệ thống thương mại điện tử thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm pháttriển của các nhà cung cấp và cả sử dụng của khách hàng.. Bản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Chủ biên: Dương Thăng Long – Nguyễn Đức Tuấn

Hà Nội, 07/2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Dương Thăng Long – Nguyễn Đức Tuấn

Trần Tiến Dũng

Hà Nội, 07/2021

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Sự phát triển mạnh của các công nghệ đang ngày càng làm cho giá trị của cácngành kinh tế xã hội chất lượng và hiệu quả hơn, đặc biệt là công nghệ thông tin vàtruyền thông đã tạo nên môi trường kết nối phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinhdoanh dịch vụ ngày càng sâu sắc và rộng lớn hơn Rất nhiều nhà sản xuất, kinh doanhthương mại triển khai thành công các hệ thống thương mại điện tử, rút ngắn “khoảngcách” từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, tối ưu hoá việc cung cấp sản phẩm hànghoá, dịch vụ đến nơi sử dụng Thông qua các ứng dụng thương mại được xây dựng vàcung cấp bởi các doanh nghiệp, khách hàng dễ dàng tìm kiếm và có được nhiều thôngtin, cả sự trải nghiệm sâu sắc, mang tính trực quan và mọi lúc, mọi nơi về các mặthàng mình quan tâm, thông tin chính sách khuyến mại cho từng mặt hàng, thậm chí cánhân hoá cho từng đối tượng khách hàng Với ưu thế vượt trội, sự thuận lợi và hiệuquả, các hệ thống thương mại điện tử thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm pháttriển của các nhà cung cấp và cả sử dụng của khách hàng

Thông qua ứng dụng thương mại điện tử, người dùng có thể thực hiện các giaodịch như đặt hàng, thanh toán đơn hàng và theo dõi trạng thái vận chuyển của đơnhàng theo thời gian thực Bản thân các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bánhàng cũng sử dụng các chức năng được cung cấp bởi ứng dụng thương mại điện tử đểthực hiện các nghiệp vụ quản lý, tác nghiệp như nhập hàng, đấu giá hoặc mua với giáthoả thuận từ nhà cung cấp Các nhà sản xuất có thể mua hoặc tham gia đấu giá cácnguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất của mình Hơn nữa, khi ứng dụng thươngmại điện tử được trang bị các tính năng “thông minh”, các nhà quản lý có thể dự đoánđược xu hướng tiêu dùng của người dùng và chủ động các nguồn hàng cần thiết, cácnhà sản xuất có kế hoạch chắc chắn hơn cho việc sản xuất của mình, thậm chí có thể

dự báo được nhu cầu của từng khách hàng hoặc theo từng vùng miền địa lý, theo đặcđiểm người dùng

Khi sự phát triển đa dạng và ngày càng rẻ của các loại thiết bị di động thông minhđầu cuối đến với người dùng, hạ tầng viễn thông ngày càng phát triển đảm bảo chomọi kết nối trực tuyến thời gian thực, thì các doanh nghiệp càng trở nên thuận lợi pháttriển các ứng dụng thương mại điện tử trên tảng di động nhằm gia tăng hơn nữa khảnăng tiếp cận khách hàng Các công nghệ mới có điều kiện để phát triển làm gia tănggiá trị ứng dụng thương mại điện tử, cung cấp nhiều tính năng hiện đại hơn như trảinghiệm sản phẩm cho khách hàng qua công nghệ thực tại ảo (VR) hay thực tại tăngcường (AR), công nghệ trí tuệ nhân tạo cho các dự báo chính xác hơn, tối ưu các hoạtđộng quản lý và tác nghiệp thông minh hơn

Trang 4

Với những giá trị hữu ích và tiềm năng to lớn như vậy, giáo trình “Phát triển cácứng dụng thương mại điện tử” được xây dựng để giúp cho các bạn sinh viên ngànhcông nghệ thông tin, ngành thương mại điện tử tiếp cận nắm bắt và làm chủ được cáckiến thức, ứng dụng được các kỹ thuật và công nghệ cho phát triển các sản phẩm phầnmềm ứng dụng thương mại điện tử Sinh viên ngành thương mại điện tử sử dụng đượccác công cụ sẵn có hoặc các bộ khung phát triển phần mềm để triển khai các ứng dụngthương mại điện tử theo nhu cầu của bài toán thực tiễn; tuỳ biến được các chức năngtrên các nền tảng phát triển ứng dụng thương mại điện tử; đảm bảo được an ninh bảomật cho các ứng dụng thương mại điện tử Sinh viên ngành công nghệ thông tin địnhhướng được sự phát triển được công nghệ cho phần mềm ứng dụng thương mại điện tửvới các tính năng thông minh và hiện đại, ứng dụng những công nghệ mới Giáo trìnhcũng trang bị cho các bạn sinh viên những kiến thức và kỹ năng để đánh giá, phân tíchđược các rủi ro đối với các hệ thống thương mại điện tử Từ đó đưa ra các biện pháp

và áp dụng được các chính sách giúp cải thiện an ninh, an toàn và nâng cao ổn định,hiệu quả hoạt động cho các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử

Giáo trình gồm 5 chương, chương 1 giới thiệu chung về phát triển các ứng dụngthương mại điện tử với hệ thống các ứng dụng được xây dựng trên nền tảng web, thiết

bị di động, kiến trúc của các ứng dụng thương mại điện tử Chương 2 trình bày về cácngôn ngữ lập trình được sử dụng cho xây dựng các ứng dụng thương mại điện tử.Trong chương này, để giúp người học nắm bắt cụ thể và chi tiết, một bài tập hướngdẫn với từng bước cụ thể để tạo một trang web sử dụng ngôn ngữ đánh dấu siêu vănbản và định dạng theo lớp (CSS) được trình bày ở phần cuối chương

Ở chương 3, quy trình và công cụ phát triển các ứng dụng thương mại điện tửđược trình bày để cung cấp cho người học nội dung về phương thức phát triển một ứngdụng thương mại điện tử từ việc lên ý tưởng, khảo sát, phân tích, thiết kế, xây dựng vàhoàn thiện, đánh giá Đối với các ứng dụng thương mại điện tử thì an ninh, bảo mật và

an toàn dữ liệu người dùng và dữ liệu tác nghiệp của các hoạt động, giao dịch trên hệthống là rất quan trọng, vì vậy ở chương 4, các rủi ro mất an ninh và rò rỉ dữ liệu trongcác ứng dụng thương mại điện tử được trình bày Cùng với đó là các cách thức, giảipháp ứng dụng để bảo mật dữ liệu và các hoạt động giao tác trên hệ thống, giảm thiểu

và ngăn chặn các dạng tấn công đối với các ứng dụng thương mại điện tử

Chương 5 trình bày về một số công nghệ hiện đại và thông minh đang là xu hướngứng dụng trong thương mại điện tử Các công nghệ này giúp cho các ứng dụng thươngmại điện tử trở nên thông minh hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn cho người dùng và cácdoanh nghiệp thương mại điện tử

Trang 5

Do lần đầu biên soạn nên có thể vẫn còn một số lỗi trình bày, một số nội dung cóthể chưa được diễn đạt rõ ràng và đầy đủ, nhóm biên soạn mong muốn nhận được các

ý kiến phản hồi của người đọc để hoàn thiện hơn nữa giáo trình này

Nhóm tác giả

Trang 6

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÁC

ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Trong chương này các khái niệm cơ bản về Internet và dịch vụ World Wide Webđược giới thiệu để giúp người học có thể hiểu rõ và có thể giải thích được về cơ chếhoạt động, cách thức mà các trang Web (trang Web) được truyền đi, được hiển thị trêncác trình duyệt Và cách thức mà các dịch vụ Thương mại Điện tử được triển khai dựatrên các giao thức và dịch vụ này Ngoài ra, cùng với đó là sự phát triển của công nghệsản xuất các thiết bị di động, đã có rất nhiều loại thiết bị khác nhau được sản xuất Vìvậy, các ứng dụng Thương mại Điện tử trên các thiết bị di động cũng được phát triển

để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng trong mua sắm di động

Khi học xong chương này, người học sẽ hiểu rõ và giải thích được về Internet,kiến trúc ứng dụng dạng máy chủ khách, các ứng dụng thương mại điện tử, và kiếntrúc của các ứng dụng này Có thể phân tích và lựa chọn được các kiến trúc ứng dụng,các chức năng phù hợp cho các hệ thống thương mại điện tử trong thực tế

1.1Mạng Internet và kiến trúc ứng dụng client/server

1.1.1 Internet và World Wide Web

Internet là một mạng máy tính toàn cầu được hình thành bởi rất nhiều cácmạng khu vực như mạng diện rộng (WAN – Wide Area Network) vốn được kết nốibởi các mạng đô thị (MAN – Metropolitan Area Network) Mạng đô thị/khu vực lại làmột mạng kết nối rất nhiều các mạng con với nhau trong một khu vực địa lí Vì vậy,Internet hiện nay có rất rất nhiều máy tính, các thiết bị có khả năng kết nối mạng kếtnối để chia sẻ các tài nguyên với nhau

Internet được bắt đầu vào tháng 12 năm 1969, ban đầu là một kết nối 4 máytính được đặt ở các cơ sở Los Angeles và Santa Barbara của Trường Đại họcCalifornia, viện nghiên cứu Stanford, và đại học Utah Không ai có thể hình dungđược rằng từ một mạng máy tính nhỏ bé như vậy có thể phát triển thành một mạngtoàn cầu với hàng tỉ thiết bị Điểm chung giữa các thiết bị kết nối vào Internet là chúng

sử dụng các giao thức giống nhau để truyền và nhận các thông tin Các chuẩn nàyđược thể hiện trong giao thức Internet (Internet Protocol – IP), giao thức xác định cácquy ước cho việc đánh địa chỉ, định tuyến các dữ liệu, và giao thức điều khiển truyền

dữ liệu (Transmission Control Protocol – TCP)

Tuy nhiên, Internet chỉ là một nền tảng giúp kết nối các máy tính hoặc cácthiết bị có khả năng kết nối (Vạn vật kết nối Internet – Internet of Things (IOT) Chophép các thiết bị này trao đổi dữ liệu với nhau thông qua việc truyền đi các gói tin ở

Trang 7

dạng nhị phân Đây vốn là định dạng dữ liệu ít thân thiện với con người Vì vậy, mộtnhà khoa học người Anh là Timothy Berners-Lee đã phát minh ra World Wide Web(WWW) hay trang Web vào năm 1989 (Van Sluyters, 1997) Web là một hệ thống nơi

mà các tài liệu và các tài nguyên khác, được xác định bởi Uniform Resource Locators(định vị tài nguyên thống nhất) hay ngắn gọn là URL, có thể được truy nhập thông quaInternet Các tài nguyên này được truyền tải thông qua giao thức truyền tải siêu vănbản (Hypertext Transfer Protocol – HTTP) thể hiện bởi ngôn ngữ đánh dấu siêu vănbản HTML (Hypertext Markup Language) HTML được sử dụng để tổ chức các tàinguyên cùng với các định dạng, cách tổ chức hiển thị thành một trang Web Vì vậy,trang Web có thể tham chiếu đến các tài nguyên như hình ảnh, video, âm thanh và cácthành phần phần mềm khác hoặc được hiển thị, thực thi bên trong một phần mềm trênmáy của người dùng gọi là trình duyệt Web (Web browser)

Như vậy, có thể coi Internet là phần cứng và WWW là phần mềm Nói cáchkhác WWW là tập hợp các thông tin có thể truy nhập thông qua Internet HTML được

sử dụng để thể hiện các dữ liệu theo các thiết kế khác nhau để người dùng có thể dễdàng truy nhập Có thể hình dung tài liệu HTML giống như một tệp định dạng là

“doc” nhưng thay vì được hiển thị bởi phần mềm Microsoft Word thì HTML sẽ đượchiển thị bởi trình duyệt Web HTTP được sử dụng để truyền tải các tài liệu HTML từmáy chủ web đến các trình duyệt Web (WhatIS, 2021)

1.1.2 Các giao thức Hypertext Transfer Protocol, File Transfer Protocol và Uniform Resource Locator

1.1.2.1 Giao thức Hypertext Transfer Protocol

HTTP là viết tắt của giao thức truyền tải siêu văn bản (HypertextTransfer Protocol), được sử dụng để tìm kiếm và nạp các tài nguyên trên nền tảngInternet, chẳng hạn như tài liệu HTML Giao thức này là nền tảng cho bất kỳ trao đổinào trên Web và nó là một giao thức client (máy trạm) – server (máy chủ) Với giaothức này bên khởi tạo yêu cầu là máy khách (trình duyệt) Một tài liệu hoàn chỉnh(trang Web) sẽ được tạo từ các dữ liệu con như văn bản, mô tả bố cục, hình ảnh, video,các tập lệnh kịch bản, và các dữ liệu khác

Trang 8

Hình 1.1 Mô hình của một ứng dụng Web (Mozilla, 2021a)

Các máy trạm và máy chủ giao tiếp với nhau thông qua việc trao đổicác thông điệp riêng lẻ Các thông điệp được gửi bởi máy trạm, thường là từ một trìnhduyệt Web, được gọi là các yêu cầu (request) Thông điệp được gửi bởi máy chủ như

là một câu trả lời thường được gọi là các phản hồi (response) Các phản hồi nàythường là các tệp tài liệu HTML Giữa máy trạm và máy khách thường có các thực thểđược gọi chung là proxies (thành phần trung gian) Các thành phần này thực hiện cáchoạt động khác nhau để phục vụ cho việc trao đổi dữ liệu giữa máy chủ và máy khách

Để hiểu rõ hơn cách thức mà HTTP hoạt động, hãy xem xét vòng đờicủa một giao dịch HTTP với các bước sau khi người dùng gõ một địa chỉ trang Webvào thanh địa chỉ của trình duyệt: www.ebay.com

Bước 1 Trình duyệt sử dụng giao thức TCP/IP được cung cấp bởi hệ

Bước 2 Trình duyệt gửi một yêu cầu HTTP để máy chủ sử dụng kết

nối đã được thiết lập ở Bước 1

Bước 3 Máy chủ nhận yêu cầu HTTP.

Bước 4 Máy chủ thực hiện yêu cầu HTTP và phản hồi với HTTP

response (các dữ liệu phản hồi)

Bước 5 Trình duyệt nhận HTTP response.

Bước 6 Trình duyệt xử lý phản hồi HTTP nhận được từ máy chủ và

hiển thị nội dung từ tài liệu HTML

1.1.2.2 Định vị tài nguyên thống nhất Uniform Resource Locator

Để có thể truy xuất đến các tài nguyên trên web, người dùng phải sửdụng URL (Uniform Resource Locator – định vị tài nguyên thống nhất) (Berners-Lee

et al., 1994) URL được dùng để xác định một tài nguyên trên Web và một giá trị URL

Trang 9

liệu CSS, hình ảnh, video, các tệp PDF hay các dữ liệu đa phương tiện khác Hay nóicách khác URL chính là địa chỉ của các tài nguyên này trên Web để giúp người dùng

có thể truy nhập đến chúng Điều đặc biệt là người dùng có thể chia sẻ với nhau các tàinguyên này bằng cách gửi các URL cho nhau

Ví dụ:

- https://en.wikipedia.org/wiki/Web_Services_Description_Language

- https://www.w3.org/TR/2001/NOTE-wsdl-20010315Mọi URL đều có thể được nhập vào thanh địa chỉ của trình duyệt đểbáo cho nó biết cách thức và vị trí để tải tài nguyên gắn kết với trang Web Một URLđược cấu thành bởi các phần khác nhau, một số là bắt buộc và các thành phần khác làtùy chọn Các thành phần quan trọng nhất được tô sáng trong hình minh hoạt dưới đây

Thành phần thứ hai của URL là Authority (thẩm quyền) được ngăncách với scheme bởi chuỗi “://” Nếu thể hiện authority bao gồm cả domain (tên miền,

này sẽ được ngăn cách với nhau bởi dấu “:”:

Phần này cũng có thể được thay thế bởi IP

nơi có thể được sử dụng để truy nhập đến tài nguyên trên máy chủWeb Cổng (port) này là một khái niệm trừu tượng, cổng ở đâykhông phải là cổng vật lý nào đó trên máy tính Mà cổng được chỉ

ra ở đây là để các giao thức biết đến nơi dữ liệu sẽ được truyềnthông Thường thì port sẽ được ẩn đi hoặc không cần phải chỉ rõ nếu

Trang 10

máy chủ Web sử dụng các cổng tiêu chuẩn của giao thức HTTP (80cho HTTP và 443 cho HTTPS).

Thành phần phía sau tên miền là đường dẫn đến tài nguyên, chẳnghạn như “path/to/myfile.htm” Vào thời điểm ban đầu của Web, một đường dẫn nhưvậy thể hiện vị trí vật lý của tệp trên máy chủ Web Tuy nhiên, cách thức biểu diễnnhư vậy mang lại rất nhiều rủi ro về an ninh Bất kỳ ai có một chút kiến thức về cấutrúc và cách thức lưu trữ của các trang Web và các máy chủ Web đều có thể sử dụng

cơ chế này để cố gắng truy cập vào các tài nguyên khác không được phép Vì vậy,ngày nay cách thức này đã không còn được sử dụng trong các máy chủ Thay vào đó làmột đường dẫn dạng trừu tượng (hay còn gọi là đường dẫn tương đối) được sử dụng

Thành phần tiếp theo trong một URL là các tham số (parameter),chẳng hạn như “?key1=value&key2=value2” thường được cung cấp các giá trị chomáy chủ Web Các tham số này là một danh sách các cặp khóa (key)/giá trị (value)được ngăn cách với nhau bởi ký hiệu “&” Máy chủ Web có thể sử dụng các tham sốnày để thực hiện các tác vụ trước khi trả về tài nguyên hoặc dữ liệu Chẳng hạn nhưcác tham số này sẽ được dùng để xác định các tài nguyên mà người dùng muốn truycập như trong URL dưới đây

Hình 1.3 Cấu trúc của phần tham số trong URL

Mỗi máy chủ Web có một cơ chế riêng về việc xử lý các tham số, vàchỉ có thể biết được cách thức này nếu một máy chủ Web cụ thể xử lý như thế nàobằng việc hỏi chủ sở hữu của máy chủ Web hoặc những người phát triển

Tiếp theo là “anchor” thành phần thể hiện một dạng “đánh dấu”(bookmark) hoặc điểm neo bên trong tài nguyên, để giúp trình duyệt định hướng thểhiện nội dung được “đánh dấu” Trên một tài liệu HTML, trình duyệt sẽ cuộn đếnđiểm nơi đánh dấu được định nghĩa, như đến tài liệu video hay âm thanh Thôngthường điểm neo được dùng để giúp người dùng có thể truy nhập nhanh đến nội dungtrong một trang Web thông qua URL Hoặc sử dụng nó để đánh dấu các phần nội dungđang đọc trong những lần truy cập tiếp theo vào trang Web

1.1.3 Trình duyệt Web và máy chủ Web

Trang 11

Trình duyệt Web là một phần mềm có thể hiển thị trang Web được cấu trúctrong các tệp HTML trên máy tính của người dùng Trình duyệt Web đầu tiên đã đượcviết bởi chính Timothy Berners-Lee vào năm 1990 khi ông đang làm việc tại phòngnghiên cứu vật lý châu Âu (CERN) gần Ge-ne-vơ, Thụy Sĩ Trình duyệt này đã bắt đầuđược phát hành ra các viện nghiên cứu khác vào tháng 01 năm 1991 và sau đó công bốrộng rãi vào tháng 08 cùng năm đó.

Hiện nay, với sự bùng nổ của số lượng các website đã có rất nhiều trìnhduyệt được phát triển để phục vụ nhu cầu truy nhập của người dùng, vốn đang ngàycàng gia tăng Các trình duyệt là một phần mềm có khả năng gửi các yêu cầu truy nhậpcủa người dùng khi họ nhập một địa chỉ trang Web vào thanh địa chỉ của trình duyệt.Sau đó nhận và hiển thị dữ liệu trang Web (tài liệu HTML) thông qua giao thức HTTPhoặc HTTPS và hiển thị lên cửa sổ trình duyệt

Trình duyệt cũng giúp gửi các tương tác của người dùng trên các đối tượngtrong trang Web lên máy chủ và nhận lại các phản hồi, hiển thị nó Chẳng hạn, khingười dùng nhập tên một mặt hàng nào đó vào ô tìm kiếm ở trang chủ và nhấn “Tìm”,trình duyệt sẽ đệ trình dữ liệu mà người dùng nhập vào lên máy chủ Sau khi máy chủWeb tìm kiếm các dữ liệu liên quan đến từ khoá mà người dùng nhập vào được gửi lên

từ trình duyệt Web, sẽ gửi trả dữ liệu kết quả về cho trình duyệt Trình duyệt sẽ hiểnthị dữ liệu kết quả được gửi trả về cho người dùng Quá trình này có thể được địnhnghĩa theo nhiều cách khác nhau do lập trình viên xây dựng trang Web xác định

Hiện nay, trình duyệt có thể có nhiều phiên bản khác nhau chạy trên các thiết

bị khác nhau Chẳng hạn như trình duyệt Web dành cho máy tính để bàn, máy tínhxách tay, cho các thiết bị thông minh như máy tính bảng, điện thoại di động thôngminh hoặc một số thiết bị khác có khả năng kết nối Internet và có bộ vi xử lý Dướiđây là một số trình duyệt phổ biến hiện nay:

- Google Chrome: đây là trình duyệt Web đang chiếm đến 70% thị phầntrình duyệt Web Sự phổ biến của trình duyệt này là nhờ đến tốc độ duyệt

và khả năng tích hợp dễ dàng với tài khoản Google của người dùng, từ đógiúp cá nhân hoá và đồng bộ các hoạt động trên các thiết bị khác nhau.Cùng với đó là một thư viện rất lớn gồm rất nhiều các phần mở rộng khácnhau cung cấp các chức năng bổ sung cho người dùng

- Safari: đây là trình duyệt Web mặc định của các thiết bị Apple nhưMacbook (máy tính xách tay), iMac (máy tính để bàn), iPhone (điện thoại

di động), và iPad (máy tính bảng) Trên thực tế thì Safari là trình duyệt diđộng phổ biến nhất tại Mỹ do số lượng rất lớn các thiết bị của Apple được

sử dụng tại đây

Trang 12

- Microsoft Edge: được phát triển để thay thế cho Internet Explorer (đâyvốn là trình duyệt Web phổ biến nhất trên thế giới vào giai đoạn đầu nhữngnăm 2000 khi chiếm đến 95% thị phần trình duyệt Web vào thời điểm đó).Edge được xây dựng dựa trên nền tảng của trình duyệt Chromium và dànhcho các thiết bị chạy hệ điều hành Microsoft Windows.

- Mozilla Firefox: là một trong những trình duyệt Web phổ biến tại Mỹtrước đây nhưng hiện nay trình duyệt này đã đánh mất phần lớn thị phầncho Chrome và Safari Phần mềm này nhận được nhiều sự quan tâm khiđược phát triển dựa trên nền tảng phần mềm mã nguồn mở và có các công

cụ tiện ích cho các lập trình viên Giúp các kỹ sư và các nhà phát triển dễdàng kiểm tra và cập nhật website của họ nhằm cải thiện tính bảo mật,quyền riêng tư và khả năng sử dụng

- Cốc cốc: là trình duyệt được xây dựng bởi công ty trách nhiệm hữu hạncông nghệ Coc Coc Cốc cốc phát triển dành cho thị trường Việt Nam và

do người Việt phát triển dựa trên nền tảng mã nguồn mở Chromium (mộtnền tảng có tính bảo mật, phổ biến được nhiều trình duyệt Web sử dụng).Máy chủ Web (Web server) là một máy tính mà trên đó chạy các phần mềmchuyên biệt để tạo/phân phối các trang Web dựa trên các yêu cầu của người dùng Cácmáy chủ sẽ nhận các yêu cầu của người dùng được gửi thông qua trình duyệt Web, sau

đó phản hồi thông qua giao thức http hoặc https Việc xử lý các yêu cầu trang Web củangười dùng được thực hiện bởi phần mềm máy chủ Web (Web server software) Cácphần mềm này được cài đặt một cách phù hợp với nền tảng được sử dụng để xây dựngcác website Cụ thể là hiện nay, các website đang được xây dựng bằng các ngôn ngữlập trình như python, java, JavaScript, PHP, Go, Ruby (Manifera, 2020), C# với côngnghệ asp.net Vì vậy, các máy chủ web cũng sẽ được cài đặt các phần mềm máy chủweb như IIS (Internet Information Services) để chạy Asp.net, hay Apache HTTPServer để biên dịch mã nguồn của PHP, Java

Thông thường thì các máy chủ web sẽ gửi về máy khách (trình duyệt web)các tài liệu HTML (Hypertext Markup Language – ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản)sau khi biên dịch (chạy các đoạn mã lệnh được lập trình bằng cách ngôn ngữ phù hợptrên máy chủ) để sinh ra các tài liệu này đáp ứng các yêu cầu của người dùng

1.1.4 Phân loại Website

Hiện nay có rất nhiều website được xây dựng phục vụ cho rất nhiều mục đíchkhác nhau bởi rất nhiều tổ chức, cá nhân Và có thể phân loại các website dựa trên: cấutrúc, quyền sở hữu, chức năng và lĩnh vực hoạt động

1.1.4.1 Phần loại website theo cấu trúc

Trang 13

 Website tĩnh là các website mà nội dung sẽ không có sự thay đổithường xuyên Các website này được xây dựng dựa trên HTML,CSS và JavaScript với các dữ liệu được đặt sẵn trong các tài liệuHTML Nếu muốn thay đổi các nội dung, thì lập trình viên hayngười quản lý sẽ phải sửa đổi tệp HTML một cách trực tiếp Đểthực hiện được thì cần phải có kiến thức về các ngôn ngữ lập trìnhmới có thể thực hiện được Vì vậy, dạng website này không phù hợpvới các trang Thương mại Điện tử, khi mà các thông tin về mặt hàng

có thể sẽ thay đổi trong một khoảng thời gian ngắn, có thể tính bằngngày hoặc giờ

tin có thể được thực hiện bằng cách đưa các nội dung mới vào kholưu trữ, nơi mà các website sẽ lấy dữ liệu để hiển thị từ đó Cácwebsite này khi xây dựng sẽ bao gồm các chức năng để cho phépngười dùng thay đổi, bổ sung các thông tin về các đối tượng mà họmuốn Các thông tin mới sẽ được lưu trữ vào một cơ sở dữ liệu, sau

đó khi người dùng (khách hàng) có yêu cầu truy nhập thì phần mềmmáy chủ Web sẽ thực thi mã lệnh để truy vấn dữ liệu, sau đó tạo tàiliệu HTML và trả lại cho trình duyệt để hiển thị Các website dạngnày còn có thể nhận các dữ liệu từ phía người dùng, lưu trữ và hiểnthị gần như ngay lập tức cho những người dùng khác Chẳng hạnnhư các bình luận, đánh giá của khách hàng đối với một mặt hàngnào đó Hoặc các website Thương mại Điện tử, khi giá của một mặthàng thay đổi thì khách hàng cũng sẽ thấy được thông tin này gầnnhư ngay lập tức khi người quản trị thực hiện thay đổi đó

1.1.4.2 Phân loại website theo quyền sở hữu

với mục đích chính là để giới thiệu các sản phẩm đến khách hàng.Hoặc các nhà sản xuất lớn như Samsung, Apple, Huawei, cácwebsite vừa là nơi giới thiệu sản phẩm, vừa là nơi để giao tiếp vớicác khách hàng lớn, quảng bá cho các sản phẩm mà họ đang sảnxuất

kỳ ai cũng đều có thể tạo ra một website để phục vụ cho các mụcđích cá nhân của mình Tuy nhiên, hiện nay dạng website nàythường chỉ được các cá nhân nổi tiếng sử dụng để phục vụ cho mục

Trang 14

đích quảng bá hình ảnh hay các sản phẩm cá nhân Chẳng hạn nhưnhà văn Rhinanon Navin đã có riêng cho mình một website tại địachỉ https://www.rhiannonnvain.com để giới thiệu về bản thân vàsách của mình Đối với những đối tượng người dùng khác thì việcduy trì một website cá nhân là khá tốn kém Việc sử dụng một trongcác dịch vụ mạng xã hội phổ biến hiện nay Facebook hay Twittermang lại nhiều lợi ích hơn.

1.1.4.3 Phân loại website theo chức năng

tổng hợp hoặc là trang bán hàng của các đơn vị, cá nhân Cácwebsite này thường cung cấp rất nhiều công cụ hỗ trợ cho việc muahàng của khách hàng, như gợi ý sản phẩm, chatbot hỗ trợ 24/7, chophép tìm kiếm và đặt hàng trực tuyến, thanh toán trực tuyến thôngqua các cổng thanh toán, theo dõi đơn hàng

chí, các tổ chức được cấp phép để cung cấp các tin tức đến ngườiđọc một cách nhanh chóng và thuận tiện Nội dung của các tin tức làkhá đa dạng, từ ảnh, video, cho đến các đối tượng 3D

người dùng giao tiếp và chia sẻ các thông tin với nhau theo sở thích

Sự kết nối được thực hiện mà không có khoảng cách về địa lý,chênh lệch về thời gian, hoặc các rào cản khác Các website mạng

xã hội là các không gian xã hội được số hoá cho các cộng đồngchung, các cộng đồng trên thực tế, hoặc những cộng đồng đượcđoàn kết bởi lợi ích chung Các mạng xã hội phổ biến hiện nay làFacebook, Myspace, Facebook, Twitter, và Youtube Hiện nay, đã

có đến hàng triệu người dùng trên các mạng xã hội này

phổ biến vào đầu những năm 2000, khi mà mạng xã hội chưa phổbiến vào thời điểm đó Các chức năng mà các diễn đàn cung cấpcũng khá giống với mạng xã hội Điểm khác biệt lớn nhất là mỗingười dùng trên các mạng xã hội sẽ có một trang nhà (homepage)của riêng mình và có thể đưa lên đó bất cứ nội dung nào mà không

vi phạm các quy định của nhà cung cấp dịch vụ Còn diễn đàn chỉcho phép các thành viên đăng các nội dung trong những khu vựcđược cho phép Thậm chí trong một số diễn đàn, thành viên còn

Trang 15

không được phép tạo bài mới nếu chưa đủ thời gian tham gia Hiệnnay, do sự phổ biến của xã hội, chỉ một số ít diễn đàn tại Việt Namcòn có thể duy trì hoạt động như handheldvn, otofun, webtretho,vozforums, F319,…

các mạng xã hội ra đời Các website này cung cấp các chức năngnghe nhạc, xem film trực tuyến, chơi game cho người dùng Khimạng xã hội Youtube trở nên phổ biến thì các website giải trí đãphải đóng cửa khi mà chi phí để duy trì ngày càng tăng

tìm kiếm thông tin trên Internet Người dùng chỉ cần nhập nội dungvào ô tìm kiếm và nhấn nút, sẽ có đến hàng triệu kết quả được trả về.Các website cung cấp dịch vụ tìm kiếm phổ biến là Google,Microsoft Bing, Yahoo Search,…Các website này còn được sửdụng với mục đích cung cấp các thông tin về các sản phẩm của cácwebsite Thương mại Điện tử Vì vậy, các công ty này luôn tìm mọicách để tối ưu website của mình để bộ máy tìm kiếm có thể dễ dàngnhận dạng được các thông tin Chẳng hạn khi người dùng gõ từkhoá “ví da”, thì các website liên quan được hiển thị ở những vị tríđầu tiên sẽ có nhiều khả năng hơn trong việc khách hàng lựa chọn

để truy nhập

1.1.4.4 Phân loại web theo lĩnh vực hoạt động

Các website cũng có thể được phân loại theo lĩnh vực hoạt động,chẳng hạn như website giáo dục, website ngành xây dựng, website lĩnh vực du lịch,website thời trang, website thương mại điện tử,…

1.1.5 Các ứng dụng hiện đại của Web

Hiện nay, với sự phát triển của rất nhiều công nghệ, đặc biệt là các côngnghệ truyền dẫn, tốc độ truyền tải dữ liệu trên Internet đã tăng lên rất nhiều Côngnghệ này thúc đẩy sự ra đời của rất nhiều ứng dụng dựa trên nền tảng web, đó là cácweb application (ứng dụng web) Đây là các ứng dụng được cung cấp thông qua trìnhduyệt và nhờ có người dùng có thể dễ dàng sử dụng ở bất kỳ nơi nào có thể kết nốiInternet

Các ứng dụng web mang lại rất nhiều lợi ích cho người dùng:

- Các ứng dụng web có thể chạy trên nhiều nền tảng khác nhau mà khôngphụ thuộc vào hệ điều hành nào đang chạy trên đó, hoặc thiết bị cũng như

sự tương thích với các trình duyệt

Trang 16

- Tất cả người dùng đều truy cập cùng một phiên bản phần mềm, giúp loại

bỏ các vấn đề liên quan đến sự tương thích

- Không đòi hỏi người dùng phải cài đặt các ứng dụng này lên trên các ổđĩa, giúp tiết kiệm được không gian lưu trữ

- Giúp giảm vi phạm bản quyền phần mềm Người dùng khó có thể sửdụng các phiên bản bẻ khoá giống như các phần mềm chạy trên các thiết bịcủa người dùng cuối

- Giúp giảm chi phí cho cả doanh nghiệp và người dùng cuối khi mà sự hỗtrợ ít được yêu cầu hơn so với các ứng dụng chạy trên máy tính của ngườidùng cuối

Hiện nay, có rất nhiều ứng dụng web cung cấp nhiều tính năng khác nhaucho người dùng Chẳng hạn như chỉnh sửa văn bản, kiểm tra cú pháp ngữ pháp(Grammarly), dịch (Google translate), bảng tính, chỉnh sửa ảnh và video, chuyển đổitệp, … Phổ biến nhất trong các ứng dụng web là các ứng dụng được phát triển bởiGoogle (Gmail, Google Docs, Google Sheets, Google Slides, Google Drive,…) vàMicrosoft Office 365

Các ứng dụng web này có tốc độ đáp ứng đủ đảm bảo người dùng có thể làmviệc một cách dễ dàng nhờ vào tốc độ truyền dẫn của đường truyền Internet đã đượccải thiện rất nhiều Như với Google Docs, một ứng dụng web cung cấp dịch vụ soạnthảo văn bản, hỗ trợ hầu hết các định dạng tệp văn bản, kể cả các tài liệu của MicrosoftWord; người dùng sẽ không cần phải cài đặt ứng dụng lên máy tính của mình mà chỉcần một trình duyệt web Ứng dụng này hỗ trợ hầu hết tất cả các tính năng cần thiếtcủa một ứng dụng soạn thảo văn bản Sau khi hoàn thành hoặc không soạn thảo nữa,thì tệp văn bản của người dùng sẽ được lưu trữ trên Google Drive (liên kết với tàikhoản Google của họ) Vì vậy, các tệp văn bản này có thể dễ dàng truy nhập trên cácmáy tính khác nhau hoặc thông qua trình duyệt Đặc biệt là Google Drive có thể quản

lý các phiên bản của tệp văn bản một cách tự động; giúp người dùng có thể dễ dàngkhôi phục lại phiên bản trước đó của tệp văn bản mà họ đang soạn thảo

Lợi ích quan trọng hơn của các ứng dụng web cung cấp dịch vụ soạn thảovăn bản là có thể dễ dàng chia sẻ các văn bản của mình cho những người khác Việcchia sẻ này rất trực quan trong việc cho phép những góp ý được đặt ở những vị trítrong văn bản Các góp ý này có thể được nhìn thấy theo thời gian thực Hoặc tệp vănbản được chia sẻ có thể cho phép nhiều người cùng tham gia soạn thảo để tránh nhữngtrùng lặp có thể có khi soạn thảo ở chế độ không trực tuyến

Một trong những công nghệ giúp cho các nhà phát triển hoặc lập trình viên

có thể dễ dàng tạo ra và cung cấp các ứng dụng web là SaaS (Software as a service –

Trang 17

phối các ứng dụng như kinh doanh, văn phòng, bảng tính, phần mềm quản lý, trò chơi

ảo hoá, quản lý khách hàng và tất cả các ứng dụng khác miễn là được phát triển theo

mô hình và kiến trúc phù hợp

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì các ứng dụng SaaS rất phù hợp,giúp họ nhanh chóng triển khai các hoạt động, giảm thiểu chi phí đầu tư ban đầu và chiphí hoạt động Họ sẽ không cần phải mua các thiết bị có phần cứng mạnh mẽ để chạycác ứng dụng mà chỉ cần phù hợp để chạy các trình duyệt Không cần phải chi phí bảnquyền, bảo trì hoặc lương trả cho các nhân viên công nghệ thông tin Chẳng hạn, thay

vì phải mua bản quyền phần mềm quản lý nhân sự, họ chỉ cần trả tiền để sử dụng ứngdụng SaaS thông qua trình duyệt theo thời gian mà họ sử dụng

Tuy nhiên, một rào cản đang khiến nhiều doanh nghiệp đang lưỡng lự trongviệc sử dụng các ứng dụng SaaS là tính bảo mật của thông tin khi mà hầu hết các dữliệu của họ sẽ được lưu trữ trên các máy chủ nhà cung cấp dịch vụ

1.1.6 Các thành phần tạo nên một trang Web

Trang Web là một đơn vị hình thành nên các website hay nói cách khác thìwebsite là một tập hợp các trang Web Có một số định nghĩa gọi website là trang Web,còn trang Web là các trang con Bởi vì hiện tại, khi dịch sang tiếng Việt thì websitehay trang Web đều được dịch là trang Web Vì vậy, trong phạm vi của cuốn sách này,web page sẽ tương đương với cụm từ trang Web và website sẽ giữ nguyên từ trongtiếng Anh theo đúng ý nghĩa

Các trang Web trong một website sẽ được liên kết với nhau thông qua cácliên kết “link” hoặc hệ thống trình đơn (menu)

Hình 1.4 Cấu trúc của một website

Trang 18

Một website sẽ thường có cấu trúc như trên Hình 1.4 Khi người dùng vàowebsite Thương mại Điện tử bán giày trực tuyến, họ sẽ truy cập đầu tiên đến HomePage (trang Web chủ), nơi các mặt hàng được hiển thị Từ đó họ có thể truy nhập đếncác mục con như trang Web hiển thị giày cho phụ nữ, trẻ em,…

Để xác định được các thành phần cấu tạo nên một trang Web thì cần phải căn

cứ trên loại của website là website tĩnh hay website động Đối với các website tĩnh thìcác trang Web sẽ là các tài liệu HTML được tạo nên bởi các thẻ HTML Các thẻ nàyquy định các điều khiển hiển thị trên các trang Web để giao tiếp với người dùng hoặcquy định cách thức mà dữ liệu sẽ được hiển thị Chẳng hạn cặp thẻ <b></b> sẽ làmcho nội dung bên trong in đậm Tuy nhiên, HTML chỉ giúp tạo nên cấu trúc và nộidung của trang Web Để có thể giúp tạo ra các trang Web có giao diện đẹp, tăng trảinghiệm người dùng thì cần sử dụng CSS (Cascading Style Sheet), một ngôn ngữ đánhdấu với các bộ quy tắc để định dạng, trang trí cho các thành phần trong một trang Web

Hình 1.5 Nút bấm mặc định và các phiên bản sử dụng CSS

Như trong Hình 1.5, điều khiển nút bấm mặc định của HTML rất đơn giản,không mang lại cho người dùng nhiều trải nghiệm tốt về giao diện Và khi css đượcứng dụng sẽ giúp tạo ra các nút bấm đẹp hơn, tiện lợi hơn Để có thể có được các hiệuứng tốt hơn, JavaScript, một ngôn ngữ kịch bản sẽ được sử dụng Chẳng hạn để giúpngười dùng có thể phóng to ảnh của các sản phẩm mà họ đang xem

Đối với các website động, nội dung của các trang Web sẽ thay đổi theo cácyêu cầu của người dùng Chẳng hạn khi người dùng lựa chọn một sản phẩm để mua,

họ có thể nhấn vào nút “mua hàng” hoặc “cho vào giỏ hàng” Lúc này, trang Web giỏhàng sẽ được hiển thị Trang Web này sẽ có nội dung hiển thị các mặt hàng mà kháchhàng đã lựa chọn Vì vậy, máy chủ web sẽ phải chạy mã lệnh của ngôn ngữ lập trìnhđược sử dụng để xây dựng website để sinh ra tài liệu HTML trả về cho trình duyệthiển thị Nên một website động sẽ có các trang Web được tạo ra một cách động, thayđổi theo các tương tác của người dùng Các trang Web này cũng sẽ có các thành phầngiống trong các website tĩnh là: HTML + CSS + Javascript hoặc một ngôn ngữbackend (quản trị) Khả năng đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu một cách phù hợp chính

là tính năng quan trọng của các website động so với các website tĩnh

Ngoài ra, cấu trúc của các website động sẽ gọn hơn, nghĩa là ít các trangWeb hơn Điều có được là nhờ khả năng sinh ra các tài liệu HTML Do vậy, cùng làmột trang Web nhưng lại có thể hiển thị nhiều nội dung khác nhau Chẳng hạn, thay vì

Trang 19

cần phải có nhiều trang Web cho từng loại mặt hàng riêng biệt thì các loại mặt hàngnày sẽ cùng được hiển thị trong một trang Web khi người sử dụng yêu cầu.

1.2Hệ thống các ứng dụng Thương mại Điện tử và những chức năng chính

1.2.1 Hệ thống các ứng dụng Thương mại Điện tử

Khi nói đến các ứng dụng của Thương mại Điện tử thì đây là một thuật ngữ

có thể có một số cách hiểu khác nhau Đầu tiên là nó có thể được sử dụng để thamchiếu đến việc sử dụng Thương mại Điện tử như là một phương tiện của tiếp thị; bán

lẻ và bán sỉ; bán đấu giá các mặt hàng bởi các nhà sản xuất cho các nhà bán lẻ; ngânhàng điện tử; đặt phòng khách sạn và các dịch vụ khác

Cách hiểu thứ hai là ứng dụng Thương mại Điện tử là các phần mềm nhưđược phát hành bởi các nhà cung cấp dịch vụ lớn như Amazon, Ebay, Groupon, v.v

Nó có thể là ứng dụng Web hay ứng dụng trên thiết bị di động Các ứng dụng Thươngmại Điện tử trên các thiết bị di động là phần mở rộng của Thương mại Điện tử Các ýtưởng xây dựng các ứng dụng Thương mại Điện tử chính là động lực thúc đẩy mọihoạt động kinh doanh phát triển và đạt được thành công Chẳng hạn như các ứng dụngcho phép đặt xe Uber, Grab, Bee hoặc ứng dụng giao đồ ăn DoorDash, Foody, Now

Đối với các ứng dụng Thương mại Điện tử dạng Web thì ban đầu được xâydựng bởi các nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ như là một trang giới thiệu và cho phép cáckhách hàng có thể đặt hàng Sau đó, khi các thiết bị di động được phát triển, các nhàsản xuất và bán lẻ lại xây dựng các website có khả năng hiển thị một cách phù hợp trêncác thiết bị vốn có màn hình khá nhỏ này Việc này đã tạo ra không ít khó khăn chokhách hàng vì những giới hạn của dạng hiển thị của website trên màn hình nhỏ Vì vậy,các ứng dụng di động đã được phát triển để hỗ trợ tốt hơn các tương tác của kháchhàng Giúp họ có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về các mặt hàng, đặt hàng, kiểm trađơn hàng và nhận các thông báo về trạng thái đơn hàng, các thông tin khuyến mại

Như vậy, hiện nay có hai dạng phần mềm Thương mại Điện tử là ứng dụngWeb và ứng dụng di động Đối với khách hàng thì họ thường có xu hướng sử dụng cácứng dụng di động để tìm hiểu và mua sắm khi mà thời gian sử dụng điện thoại di độngcủa họ ngày càng gia tăng Trong khi đó đối với nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà phânphối thì họ lại thường sử dụng các ứng dụng giao diện web để triển khai các hoạt độngThương mại Điện tử của mình Do lượng thông tin trong các hoạt động của các doanhnghiệp thường sẽ nhiều hơn rất nhiều so với các khách hàng tiêu dùng của họ Vì vậy,các ứng dụng di động sẽ khó có thể phù hợp

1.2.2 Các chức năng chính của các ứng dụng Thương mại Điện tử

Hai cách hiểu về hệ thống các ứng dụng Thương mại Điện tử có thể tổngquát hóa dưới dạng hình vẽ dưới đây

Trang 20

Hình 1.6 Các ứng dụng Thương mại Điện tử (Mindster, 2019)

Và một trong những ứng dụng Thương mại Điện tử phổ biến (theo cách hiểuthứ hai) là các website Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều xây dựng các trangWeb để giới thiệu và bán các sản phẩm của mình Vì vậy, có rất nhiều loại trang Webkhác nhau trong Thương mại Điện tử, chẳng hạn như Business to Consumer (B2C –Dịch vụ đến khách hàng), Business to Business (B2B – Doanh nghiệp đến doanhnghiệp) Các website này là các thành phần để triển khai các chức năng của các hệthống Thương mại Điện tử, bao gồm:

- Chức năng kho hàng điện tử dành cho khách hàng (Business toCustomer Storefronts – B2C)

- Chức năng kho hàng điện tử giữa các doanh nghiệp Thương mại Điện tử

và các doanh nghiệp sản xuất, các nhà bán lẻ lớn (Business to Business –B2B)

- Chức năng quản lý quan hệ khách hàng (Customer RelationshipManagement – CRM)

- Chức năng quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management)

- Chức năng quản lý quan hệ giữa các nhà cung cấp (SupplierRelationship Managerment)

- Chức năng quản lý mua sắm điện tử (e-Procurement) dành cho các hệthống Thương mại Điện tử trong việc tự động hoá các hoạt động mua hàng

Trang 21

các mặt hàng trên các gian hàng trực tuyến hơn so với khi họ truy nhập bằng trìnhduyệt trên các máy tính.

1.2.3 Kho hàng điện tử cho khách hàng (Business to Customer Storefronts)

Trong Thương mại Điện tử truyền thống, các nhà sản xuất bán các sản phẩmcủa họ tại các cửa hàng ở các khu vực địa lý khác nhau Những nhà bán lẻ (retailer) tạo

ra lợi nhuận từ việc họ đưa thêm giá trị gia tăng vào giá bán Điều này đã thay đổi rấtnhanh chóng khi có sự xuất hiện của Internet và các công nghệ hỗ trợ Lúc này, cácnhà sản xuất đã bán hàng một cách trực tiếp cho các khách hàng, bỏ qua khâu trunggian Vì vậy, điều nay mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng khi mà giá các mặthàng sẽ được giảm đi do các chi phí trung gian đã được loại bỏ Hơn nữa điều nàygiúp các nhà sản xuất có thể chủ động trong việc tiếp cận với khách hàng của mình,không phải phụ thuộc nhiều vào các nhà bán lẻ trung gian

Hiện nay, trong thế giới số có 5 mô hình B2C được hầu hết các công tyThương mại Điện tử sử dụng để phục vụ khách hàng, đó là:

- Bán hàng trực tiếp (Direct sellers): đây là mô hình phổ biến nhất, trong

đó người tiêu dùng có thể mua hàng hoá từ các nhà sản xuất, các doanhnghiệp nhỏ, hoặc đơn giản là phiên bản trực tuyến của các cửa hàng báchhoá bán sản phẩm từ các nhà sản xuất khác nhau

- Tổ chức/cá nhân trung gian trực tuyến (Online intermediaries): đây lànhững bên không thực sự sở hữu các sản phẩm hoặc dịch vụ nhưng đứng

ra gắn kết giữa người mua và người bán với nhau Các website Expedia,Trivago, Etsy, Shopee, Lazada, và Tiki là những tổ chức thuộc dạng này

- B2C dựa trên quảng cáo (Advertising-based B2C): mô hình này sử dụngcác nội dung cung cấp ở dạng miễn phí để thu hút khách truy cập vàowebsite Trên website này sẽ triển khai rất nhiều các quảng cáo trực tuyếnhoặc kỹ thuật số về các mặt hàng cũng như các dịch vụ của các nhà cungcấp Từ đó giúp cho các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ có được kháchhàng Còn các website này sẽ có được nguồn thu từ việc bán các quảng cáo.Huffington Post là một website dạng này

- Dựa vào cộng đồng (Community-based): các website như Facebook gâydựng một cộng đồng với rất nhiều thành viên có chung sở thích Và đây làmảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ để quảng bámột cách trực tiếp đến các khách hàng của mình Với số lượng người thamgia các mạng xã hội rất lớn, thì đây là một kênh quảng bá, bán sản phẩmrất hiệu quả của các nhà sản xuất, các nhà cung cấp dịch vụ Bằng cách thu

Trang 22

thập thông tin về vị trí địa lý, các thông tin cá nhân mà người dùng đăngtải, các mạng xã hội có thể đưa ra các quảng cáo phù hợp.

- Tính phí (Fee-based): các website cung cấp các dịch vụ trực tiếp đếnngười tiêu dùng và thu phí Chẳng hạn như Netflix tính phí người tiêudùng khi họ truy nhập và xem các nội dung số được cung cấp Website cóthể cung cấp dịch vụ miễn phí nhưng có giới hạn, chỉ cho phép truy cậpnhập số nội dung hoặc giới hạn về thời gian

Các kho hàng điện tử (B2C) thường cần đảm bảo cung cấp các chức năngsau:

- Chức năng hiển thị (trình bày) sản phẩm cung cấp cho khách hàng cácthông tin về sản phẩm thông qua giao diện người dùng (có thể là trìnhduyệt) Thông tin bao gồm thông tin quảng cáo sản phẩm, các đặc tả chitiết về sản phẩm, các hình minh họa sản phẩm và các trình diễn sản phẩmmẫu Chức năng này có thể gồm các thông tin bổ sung như lựa chọn ngônngữ hiển thị, tìm kiếm sản phẩm và tùy biến các thiết lập của khách hàng

- Chức năng đặt hàng cho phép một khách hàng có thể đặt hàng các sảnphẩm đã lựa chọn Thông tin về mỗi sản phẩm được đặt được thêm vàomột giỏ hàng điện tử (electronic shopping cart), thường là một cơ sở dữliệu chứa các đơn hàng cần xử lý Chức năng này được liên kết đến hệthống kho của doanh nghiệp để kiểm tra tính sẵn sàng của sản phẩm Nócũng yêu cầu quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu khách hàng để cập nhập và

sử dụng dữ liệu khách hàng, liên quan đến việc đặt hàng của khách hàng

- Chức năng thanh toán điện tử cho phép khách hàng trả tiền cho các đơnhàng và hoàn thành các giao dịch Các tùy chọn thanh toán có thể bao gồmthẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, nhận hàng và trả tiền (COD – Cash On Delivery),kiểm tra (trước khi vận chuyển), và hóa đơn (sau khi vận chuyển) Đối vớichức năng này thì an ninh là rất quan trọng Chức năng này cần được triểnkhai giao thức Secure Socket Layer (SSL – lớp an ninh với chức năng mãhóa các dữ liệu giao dịch), giao dịch điện tử (SET – Secure ElectronicTransactions), hoặc một số giao thức khác

- Chức năng thực hiện đơn hàng cung cấp dịch vụ giao hàng cho kháchhàng Việc giao hàng có thể ở dạng điện tử nếu sản phẩm là các bài hát,phần mềm hoặc dưới dạng thông tin Chức năng này được liên kết với hệthống của nhà cung cấp vì vậy cơ sở dữ liệu của họ có thể được cập nhậpkhi đơn hàng được thực hiện

- Chức năng dịch vụ khách hàng cung cấp dịch vụ tư vấn cho các khách

Trang 23

dịch vụ khách hàng bao gồm các câu hỏi thường gặp, số dịch vụ tư vấnmiễn phí, địa chỉ thư điện tử và phương tiện liên lạc qua các trình tin nhắnthời (có thể được cung cấp như một tính năng trong các website hay ứngdụng Thương mại Điện tử).

- Chức năng hỗ trợ sản phẩm cung cấp tư vấn cho khách hàng sau khi đãnhận được sản phẩm Sự hỗ trợ này có thể bao gồm thiết lập và cài đặt banđầu, hoạt động thường xuyên, khắc phục sự cố, chính sách đổi trả, bảo trìliên tục và bảo hành hoặc sửa chữa không bảo hành hoặc thay thế

1.2.4 Quản lý quan hệ khách hàng (Customer Relationship Customer – CRM)

Quản lý quan hệ khách hàng (CRM) là một phương thức để quản lý tươngtác của một công ty với các khách hàng hiện tại và tương lai Phương thức này thựchiện phân tích dữ liệu lịch sử khách hàng của một công ty nhằm cải thiện mối quan hệvới các khách hàng, đặc biệt tập trung vào việc giữ chân các khách hàng để gia tăngdoanh số bán hàng Một yếu quan trọng ảnh hưởng đến CRM là một hệ thống CRM xử

lý thông tin từ nhiều kênh khác nhau, bao gồm website của công ty, điện thoại, email,nhắn tin trực tuyến, các tài nguyên quảng bá sản phẩm, các mạng xã hội,… Thông quaphương thức CRM và các hệ thống sử dụng các công cụ CRM, các doanh nghiệp cóthể học được nhiều từ các khách hàng của họ và làm sao để đáp ứng được tốt nhất nhucầu của khách hàng

Một hệ thống CRM thường cung cấp các tính năng sau:

- Các giao tiếp bên ngoại: kênh Web, kênh tương tác, kênh quản lý đối tác

- Tiếp thị (marketing):

o Quản lý tài nguyên tiếp thị

o Quản lý các chiến dịch tiếp thị

o Quản lý các phiếu mua hàng theo thời gian thực

- Kinh doanh:

o Kế hoạch và dự đoán kinh doanh

o Quản lý hiệu quả kinh doanh

Trang 24

CRM có các tác động đến các website Thương mại Điện tử và là một phầnthiết yếu mang lại thành công cho các doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, CRMmang lại các lợi ích sau:

- Hiểu rõ hơn về cung và cầu

- Biết được khách hàng có gặp phải các vấn đề trở ngại gì khi truy nhậpwebsite của doanh nghiệp Thương mại Điện tử hay không?

- Cải thiện dịch vụ khách hàng

- Đơn giản hoá quá trình mua sắm hàng hoá

- Giảm tổn thất và chi phí (do có thể nâng cao doanh số bán hàng)

- Có khả năng tạo quảng cáo tốt hơn đến đúng các đối tượng khách hàng

Vì vậy, đây là một chức năng quan trọng của các hệ thống Thương mại Điện

tử mà các doanh nghiệp cần phải trang bị cho các hệ thống của mình

1.2.5 Các hệ thống giao dịch hàng hóa trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B)

Trang Web bán hàng của các nhà cung cấp cho các doanh nghiệp khác(supplier sell-side B2B sites) giống như kho hàng điện tử cho khách hàng (B2C)nhưng lại có thêm các tính năng bổ sung để phục vụ cho hoạt động bán sỉ Hoạt độngB2B thường được các doanh nghiệp sử dụng để tương tác với nhau, có thể là giữa các

tổ chức nhỏ thuộc các tổ chức lớn (doanh nghiệp/công ty) Hay nói cách khác thì đốivới B2B, bên mua và bên bán đều là các doanh nghiệp

Các chức năng thường có của các trang Web B2B là:

- Danh mục sản phẩm được cá nhân hoá, dành riêng cho khách hàng vàgiá cả Thông thường, trong kinh doanh, các doanh nghiệp thường bán sảnphẩm của họ với nhiều mức giá khác nhau dựa trên các hợp đồng đãthương lượng Vì vậy, trang Web B2B phải có khả năng cho phép tuỳ biến,thay đổi các giá bán đối với các khách hàng (là doanh nghiệp) theo các hợpđồng Đối với chức năng này, thì các trang Thương mại Điện tử B2B cần

o Giảm giá cho khách hàng cá nhân

o Giảm giá dựa trên loại khách hàng

o Giảm giá dựa trên các sản phẩm độc đáo cụ thể

o Giảm giá cho các sản phẩm trong một danh mục cụ thể

Trang 25

Giảm giá giao hàng (có thể là miễn phí) cho các đơn hàng có giátrị lớn hơn một ngưỡng cụ thể.

- Hỗ trợ thiết lập các luật quản lý đơn hàng Chẳng hạn như: số lượng đặt hàng tối thiểu, đặt hàng theo bội số của X (chẳng hạn như, khách hàng chỉ

có thể đặt hàng với số lượng là bội số của 12), số tiền đặt hàng tối thiểucho mỗi đơn hàng, thời gian chốt đơn hàng, đặt hàng đối với các sản phẩmkhông còn trong kho

- Nhiều phương thức và điều khoản thanh toán Việc có một quy trình

thanh toán thuận tiện cho người mua B2B là một trong những chức năngcần được ưu tiên hàng đầu đối với các trang Web B2B Với 47% số kháchhàng B2B phản hồi rằng các tuỳ chọn thanh toán linh hoạt như PayPal, thẻtín dụng hoặc thẻ ghi nợ là một trong những tính năng Thương mại Điện tửB2B hàng đầu thu hút họ nhất Bởi vì, không phải khách hàng nào cũng cóthể thanh toán bằng nhiều phương thức khác nhau Vì vậy, nếu doanhnghiệp của bạn không thể cung cấp cho họ cách thanh toán hàng hoá phùhợp, họ sẽ tìm kiếm nơi khác để đáp ứng nhu cầu mua hàng của họ Ngoài

ra, các website B2B cũng cần phải đáp ứng các điều khoản thanh toán bánbuôn khác nhau dành cho cho bán hàng bán buôn

- Chức năng tra cứu số dư tài khoản và lịch sử thanh toán Thông thường

thì các khách hàng thường gặp khó khăn trong việc việc giám sát các giaodịch đã được thực hiện, cũng như số dư trong tài khoản của mình khi sửdụng các dịch vụ Thương mại Điện tử Và đối với nhiều khách hàng thìviệc quản lý tài khoản cách dịch vụ Thương mại Điện tử không phải là ưutiên hàng đầu của họ Vì vậy, sẽ dẫn đến việc bỏ lỡ hoặc trễ hạn trong việcthanh toán các đơn đặt hàng Do vậy, các website B2B cần phải trang bịcác tính năng trên cho các khách hàng của họ

- Theo dõi lịch sử đặt hàng Chức năng này sẽ giúp khách hàng có thể

theo dõi lịch sử đặt hàng thông qua cổng Thương mại Điện tử B2B Vớitính năng này, có thể tránh được việc đặt hàng trùng lặp khi mà kháchhàng của dịch vụ B2B thường đặt nhiều mặt hàng với số lượng nhiều hơnmột Chức năng này cũng giúp các khách hàng của các B2B có thể tiếtkiệm thời gian quý báu của họ khi có thể dễ dàng kiểm tra thông tin về đơnhàng, trạng thái đơn hàng mà không cần phải thực hiện các cuộc gọi

- Trang thông tin sản phẩm chi tiết Chức năng này cho phép hiển thị

thông tin về các sản phẩm một cách chi tiết với đầy đủ các hình ảnh về sảnphẩm Trang thông tin chỉ tiết về các sản phẩm cần cho phép các kháchhàng B2B có thể có được tất cả các thông tin cần thiết, mọi thông tin từ

Trang 26

quan trọng cho đến chi tiết nhỏ nhất Các thông tin đó sẽ bao gồm: sốlượng sản phẩm, mô tả về sản phẩm, loại khác của sản phẩm, trọng lượngsản phẩm, kích thước của sản phẩm.

- Tích hợp với các ứng dụng Kế toán, Vận chuyển và Quan hệ khách hàng.

Để giúp các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực Thương mại Điện tửbán lẻ hoạt động tốt hơn, các website B2B cần có khả năng tích hợp vớicác nền tảng kế toán, vận chuyển Bằng cách đồng bộ hoá cổng Thươngmại Điện tử B2B với các hệ thống khác sẽ giúp giảm các thao tác thủ công

và ngăn chặn sự trùng lặp trong quá trình hoạt động

Ngoài ra, theo một số nghiên cứu thì với 75% khách hàng B2B thì có 47%thực hiện tìm kiếm trực tuyến trong quá trình mua hàng hoá Vì vậy các công ty B2Bcần phải tập trung tối ưu hoá chức năng tìm kiếm các sản phẩm trên website hoặc ứngdụng di động của mình

1.2.6 Quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management)

Trong Thương mại Điện tử không chỉ giới hạn trong việc thiết lập cácwebsite để giới thiệu và bản sản phẩm trực tuyến Nó còn bao gồm thiết kế sản phẩm,

cơ sở hạ tầng phù hợp, hậu cần, cổng thanh toán bảo mật và quản lý chuỗi cung ứng.Một chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ tăng tốc các quy trình Thương mại Điện tử để đápứng các kỳ vọng của khách hàng

Quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management – scm) được coi là sựliên kết và phối hợp chặt chẽ của tất cả các hoạt động có liên quan đến hoạt động muasắm, sản xuất và vận chuyển của các sản phẩm Chuỗi cung ứng kết nối các nhà cungcấp, các cửa hàng sản xuất, các trung tâm phân phối, các công ty vận chuyển, nhữngngười buôn bán và các khách hàng thông qua các tiến trình như mua sắm, quản lý kho,phân phối và vận chuyển, để cung cấp hàng hoá và các dịch vụ cho khách hàng Chứcnăng của chuỗi cung ứng là điều phối các giai đoạn của các hoạt động trên

Quản lý hàng tồn kho là một hoạt động quan trọng trong quản lý chuỗi cungứng Trong mô hình quản lý hàng tồn kho truyền thống, các doanh nghiệp sử dụng khohàng của mình để bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng Tuy nhiên, để tránh các rủi

ro các doanh nghiệp Thương mại Điện tử thường không giữ hàng tồn kho của riêngmình Thay vào đó, họ sử dụng một kho của một nhà bán buôn lớn hơn Cách thức nàycho phép các doanh nghiệp Thương mại Điện tử có thể hạn chế các rủi ro của mình Vìnếu lưu giữ hàng tồn kho quá nhiều sẽ có thể dẫn đến nguy cơ không bán được hàng

do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng Hoặc việc quản lý nhiều hàng tồn kho dư thừa

có thể dẫn đến việc tăng các chi phí trong vận hành Nên nhiều doanh nghiệp Thươngmại Điện tử thường vẫn cho phép các khách hàng có thể đặt một lượng hàng lớn hơn

Trang 27

số lượng mà họ đang lưu trữ trong kho Sau đó, khi có nhu cầu mua hàng, họ sẽ đặthàng từ các bên bản lẻ lớn để phục vụ cho nhu cầu của khách hàng.

Một số doanh nghiệp khác còn duy trì mô hình gọi là vận chuyển thả hàng(drop-shipping model) Với mô hình này, các doanh nghiệp Thương mại Điện tử sẽthực hiện giới thiệu, cho phép khách hàng đặt mua hàng Khi có các đơn hàng đượcđặt, họ sẽ mua sản phẩm từ một nhà cung cấp lớn và giao hàng cho khách hàng Ngoài

ra, trong quá trình thực hiện các hoạt động hậu cần (logistic) trong chuỗi cung ứng thìhậu cần ngược cũng là một quá trình rất quan trọng Nó có vai trò thúc đẩy hoạt độnghậu cần xuôi Hậu cần ngược (reverse logistic) bao gồm tất cả các hoạt động liên quanđến việc thu hồi, sửa chữa, bảo trì, nâng cấp và tái chế sản phẩm hay vật liệu khichúng bị hư hỏng và không thể đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng

Từ những thực tế trên cho thấy việc quản lý chuỗi cung ứng cũng là mộtchức năng quan trọng đối với các hệ thống Thương mại Điện tử Nếu khách hàngkhông mua được sản phẩm mà họ mong muốn đúng thời điểm do quá trình vận chuyểnchậm trễ hoặc các vấn đề trong quản lý kho hàng, họ sẽ chuyển ngay sang các hệthống Thương mại Điện tử khác Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả trong Thương mạiĐiện tử có thể giảm chi phí và tăng cường hiệu quả trong việc giảm lưu thông tiền mặt,mang lại sự hài lòng cho khách hàng Từ đó gia tăng khả năng khách hàng sẽ quay lạimua các mặt hàng khác

1.2.7 Chức năng quản lý mua sắm điện tử (e-Procurement)

e-Procurement là thuật ngữ để chỉ hoạt động mua sắm điện tử hoặc trao đổigiữa các nhà cung cấp, là việc mua bán vật tử, thiết bị, công trình và dịch vụ thông quagiao diện Web hoặc các hệ thống nối mạng khác

Công nghệ này được thiết kế để tập trung hoá và tự động hoá tương tác giữamột tổ chức, các khách hàng hoặc các đối tác chuỗi cung ứng khác nhằm cải thiện tốc

độ và hiệu quả của các hoạt động mua sắm

e-Procurement bắt đầu được triển khai vào những năm 1980, khi trao đổi dữliệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) được phát triển EDI cho phép các tệp

và tài liệu được chia sẻ giữa những doanh nghiệp Tại thời điểm đó nó là một cuộccách mạng, các doanh nghiệp không còn phải gửi tài liệu một cách vật lý nữa, thay vào

đó chúng có thể được gửi dưới dạng điện tử Các hoạt động mua sắm hàng hoá đượctriển khai thông qua EDI cho phép khách hàng và nhà cung cấp gửi và nhận đơn hàng,hoá đơn bằng cách sử dụng mạng chuyển tiếp cuộc gọi, cuối cùng được thay thế bằngthư điện tử

Hầu hết các giải pháp mua sắm điện tử hiện nay cung cấp:

- Quy trình phê duyệt trước khi mua hàng

Trang 28

- Danh sách các nhà cung cấp được khuyến nghị hoặc đã được phê duyệt

có thể quản lý được

- Theo dõi chi tiêu

- Tạo đơn đặt hàng

- Nhận hàng hoá

- Các công cụ lập ngân sách cho việc mua sắm

Với e-Procurement hiện nay, có các hoạt động liên quan đến đánh giá và lựachọn nhà cung cấp hàng hoá, chẳng hạn như đấu giá điện tử (eAuctions) và người bánhàng điện tử (eTender), đơn đặt hàng điện tử Vì vậy, khi e-Procurement được ứngdụng trong Thương mại Điện tử sẽ giúp cho các công ty/doanh nghiệp giảm được thờigian và công sức, tăng hiệu quả trong việc lựa chọn các nguồn hàng hoá để cung cấpcho khách hàng Người mua có thể lựa chọn nhà cung cấp nên họ có thể thương lượng

để có được giá mua tốt nhất Vì vậy, các hoạt động mua sắm có tính minh bạch vàtrách nhiệm giải trình cao hơn từ phía các nhà cung cấp

1.3Kiến trúc ứng dụng Thương mại Điện tử

Kiến trúc của một hệ thống Thương mại Điện tử bao gồm một số lớp Các hệthống liên quan đến hậu cần xử lý các luồng hàng hoá thông qua các tổ chức Phầnbackend của hệ thống Thương mại Điện tử quản lý dữ liệu danh mục và cung cấp cácchức năng xử lý các giao dịch phát sinh trong hệ thống Một cửa hàng trực tuyến dựatrên giao diện web cung cấp cho khách hàng cách thức để lựa chọn và mua sắm cácsản phẩm

Hình 1.7 Kiến trúc của các ứng dụng Thương mại Điện tử (Lackermair, 2011)

Cửa hàng trực tuyến bao gồm các chức năng quản lý danh mục thành phần của cácsản phẩm/mặt hàng, quản lý giỏ hàng và quản lý thanh toán Các chức năng này sẽ làmviệc với các dữ liệu được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu phù hợp

Trang 29

Trên thực tế, các cửa hàng trực tuyến này còn được tích hợp thêm các chức năngphụ, chẳng hạn như theo dõi hành vi của người dùng, đề xuất sản phẩm, hỗ trợ, cáctính năng xã hội Các thành phần khác của ứng dụng Thương mại Điện tử là cổng giaotiếp dịch vụ B2B, logistic (các chức năng hỗ trợ chuỗi cung ứng như quản lý hàng tồnkho, hàng ký gửi để bán, nhập hàng và trả lại hàng hoá bị lỗi,…), hệ thống bán hàng(các chức năng liên quan đến bán hàng), hệ thống quản trị (backend) Tất cả các thànhphần này được giao tiếp với nhau có thể thông qua việc sử dụng các giao diện lập trìnhứng dụng (Application Programming Interface – API) hoặc thông qua các web service(các dịch vụ web).

Các dữ liệu liên quan đến các hoạt động của khách hàng còn được phân tích bởicác bộ phận, từ đó có được các thông tin về xu hướng mua hàng của khách hàng Cácnhà sản xuất sẽ sử dụng các thông tin này để phát triển các sản phẩm mới phù hợp vớikhách hàng Các nhà bán lẻ sẽ phân tích để đưa ra các chiến lược tiếp thị hiệu quảnhằm thu hút nhiều hơn nữa các khách hàng

1.3.1 Các nền tảng Web, Mobile, tích hợp, front-end, backend

Trong Thương mại Điện tử, một môi trường cạnh tranh và đầy thách thức thìtrải nghiệm người dùng (khách hàng) đối với các dịch vụ được cung cấp sẽ mang lạilợi thế Vì vậy, các ứng dụng Thương mại Điện tử luôn được thiết kế với mục đích giữchân khách hàng Các ứng dụng này có thể được triển khai dưới dạng các trang Web,các ứng dụng di động Đối với việc phát triển các trang Web Thương mại Điện tửthường sử dụng kiến trúc front-end (giao diện người dùng) và backend (phần hỗ trợquản lý)

Front-end là những gì xuất hiện ở phía khách hàng và là thành phần lôi cuốnkhách hàng viếng thăm website (Front-commerce, 2021) Do đó các nhà thiết kế làmviệc cùng với kỹ sư UX (User Experience – trải nghiệm người dùng) để tạo ra cácwebsite có giao diện thân thiện, tốc độ tải trang cao, và các điều hướng thông minh

Và thường việc thiết kế này sẽ tập trung vào các mục tiêu sau:

- Làm cho trang Web với giao diện đẹp và hấp dẫn với khách hàng Cácwebsite đảm bảo được điều này sẽ thu hút được nhiều khách hàng Vì vậy,các website Thương mại Điện tử thường ưu tiên sử dụng các ngôn ngữkịch bản ở phía trình duyệt của khách hàng để giúp tăng tốc độ xử lý cácyêu cầu của khách hàng

- Tốc độ tải trang nhanh Đây cũng là yếu tố quan trọng để có thể giữ chânđược khách hàng của các website Thương mại Điện tử

- Tăng khả thương thích với nhiều thiết bị khác nhau, đặc biệt là các thiết

bị di động Cơ chế này giúp thống nhất toàn bộ các thông tin về các sản

Trang 30

phẩm được hiển thị trên các thiết bị khác nhau Hơn nữa sẽ không phải xâydựng phiên bản cho từng loại thiết bị khác nhau.

Front-end của một website Thương mại Điện tử còn được gọi là client-side(thành phần phía khách hàng) Đây là những gì khách hàng sẽ nhìn thấy khi truy cậpvào website Đó là hình ảnh các mặt hàng, thông tin chi tiết về các mặt hàng Giaodiện này cho phép khách hàng có thể tìm kiếm, lựa chọn và đưa vào giỏ hàng các mặthàng mà mình cần mua; thực hiện thanh toán, theo dõi và quản lý các đơn hàng Ngoài

ra, khách hàng còn có thể quản lý các thông tin về tài khoản của cá nhân Chẳng hạnnhư thay đổi mật khẩu đăng nhập vào hệ thống

Phần Backend là một hệ thống các chức năng để quản trị các hoạt động của

hệ thống Backend được hình thành bởi các máy chủ, các ứng dụng và các cơ sở dữliệu Các máy chủ lưu trữ thông tin về các mặt hàng, sản phẩm, đơn hàng, các hóa đơnđược tạo ra Các ứng dụng được xây dựng để hỗ trợ người quản trị có thể quản lý cácloại sản phẩm, mặt hàng, đơn đặt hàng, quản lý các hóa đơn, thực hiện các thống kê vàlập các báo cáo liên quan đến các hoạt động kinh doanh của hệ thống

Hình 1.8 Các Mô hình kết nối giữa front-end và backend

Hiện nay, có hai mô hình kết nối giữa front-end và backend được thể hiệntrong Hình 1.8 Việc sử dụng các API (Application Programming Interface - các giaodiện lập trình ứng dụng) trong mô hình Headless sẽ giúp cho hệ thống có thể làm việcmột cách linh hoạt hơn Với các thành phần độc lập với nhau việc thay thế nâng cấp sẽtrở nên dễ dàng hơn và không làm ảnh hưởng đến hoạt động của toàn bộ hệ thống

Khi khách hàng ấn vào xem chi tiết của một sản phẩm nào đó thì yêu cầu này

sẽ được chuyển đến máy chủ (nằm ở phía backend) thông qua API Máy chủ sẽ thựchiện tìm kiếm trong CSDL thông tin sản phẩm, sau đó trả về kết quả cho phía front-end để hiển thị cho khách hàng

Trang 31

Hình 1.9 Hoạt động của front-end và backend

Như vậy, trong một hệ thống Thương mại Điện tử thì front-end làm nhiệm

vụ giao tiếp với khách hàng, cho phép khách hàng tìm kiếm các thông tin về sản phẩm,lựa chọn sản phẩm đưa vào giỏ hàng các sản phẩm mà mình muốn mua, thực hiệnthanh toán để nhận sản phẩm Và chuyển các thông tin này về phía backend thông qua

cơ chế lưu trữ trong CSDL của hệ thống

Sau đó các đơn đặt hàng của khách hàng sẽ được duyệt bởi người quản trị vàhóa đơn sẽ được tạo Các sản phẩm mà khách hàng đặt mua sẽ được chuyển cho bênvận chuyển để chuyển đến khách hàng Khi nhận được các sản phẩm khách hàng sẽxác nhận thông qua các chức năng được cung cấp bởi front-end

Đối với các ứng dụng Thương mại Điện tử di động thì cần phải có các thànhphần sau:

- Giao diện chính, nơi hiển thị các sản phẩm với các thông tin khái quát vềcác sản phẩm Cho phép người dùng tìm kiếm sản phẩm, lựa chọn các sảnphẩm, đánh dấu các sản phẩm mà họ mong muốn mua

- Giao diện hiển thị thông tin chi tiết về sản phẩm Bao gồm các thông tin

về giá, mô tả chỉ tiết, các đánh giá của những người đã mua hàng, các hìnhảnh

- Giao diện thanh toán trực tuyến, lựa chọn đơn vị vận chuyển

- Giao diện thông tin cá nhân, các địa điểm nhận hàng

- Giao diện giỏ hàng, cho phép khách hàng có thể thêm bớt các sản phẩm,

số lượng các sản phẩm

- Giao diện hiển thị trạng thái đơn hàng

- Giao diện hiển thị lịch sử mua hàng, các hoá đơn

Để có thể thu hút được khách hàng thì các ứng dụng Thương mại Điện tử diđộng cần phải được trang bị các tính năng sau:

Trang 32

- Giới thiệu với khách hàng Đây là bước đầu tiên của quá trình thiết lập,

giúp cho khách hàng dễ dàng tiếp cận với ứng dụng Ứng dụng cần đượcxây dựng với những đặc trưng nhận dạng cụ thể, tránh việc nhầm lẫn củakhách hàng sang các ứng dụng tương tự khác Ngoài ra, ứng dụng cũngcần được thiết kế để đảm bảo những người dùng mới có thể được cung cấpcác kiến thức, kỹ năng cần thiết để trở thành người dùng của ứng dụng

- Đăng ký Trước khi khách hàng có thể thực hiện việc mua sắm thì cần

phải có được các thông tin về họ Vì vậy, khách hàng sử dụng các ứngdụng phải thực hiện quá trình đăng ký để có quyền truy cập và mua hàng.Khách hàng cần được cung cấp các chức năng chỉnh sửa hồ sơ cá nhân,hoàn tất giỏ hàng hoặc sử dụng chức năng thanh toán Việc đăng ký vớicác thông tin lấy từ các tài khoản của các hệ thống khác nhưng email haytài khoản mạng xã hội sẽ là một lợi thế lớn để thu hút khách hàng sử dụngcác ứng dụng trên thiết bị di động được cung cấp bởi các tổ chức Thươngmại Điện tử Tuy nhiên, cần có các thông báo rõ ràng với khách hàng vềchính sách sử dụng dữ liệu cá nhân của họ Ví dụ: cần để khách hàng biếtrằng các thông tin cá nhân của họ chỉ được dùng để đăng ký tài khoản của

hệ thống, không thu thập để sử dụng mà không có sự cho phép hoặc báncho bên thứ ba

- Thanh toán dễ dàng thực hiện Việc xây dựng một giỏ hàng với đầy đủcác chức năng là không hề đơn giản Với bất kỳ loại hình kinh doanhThương mại Điện tử nào thì không chỉ cho phép quảng bá sản phẩm màcòn phải cung cấp cách thức mua sắm dễ dàng và rõ ràng

- Vì vậy, đối với các ứng dụng di động Thương mại Điện tử, có một sốyêu cầu về thanh toán cần được giải quyết:

o Quá trình kết thúc lựa chọn hàng hoá (check-out) Khi khách

hàng hoàn tất việc lựa chọn các mặt hàng trên trang Thương mạiĐiện tử thì việc điều hướng sang chức năng thanh toán là mộttrong những hoạt động phổ biến nhất Quy trình thanh toán đượcthiết kế tốt sẽ đảm bảo khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian

và có thêm thời gian để quay lại ứng dụng với trải nghiệm tíchcực

o Các lựa chọn thanh toán Một trong những chức năng quan trọng

mà các doanh nghiệp Thương mại Điện tử cần trang bị cho cácứng dụng di động của mình là các tuỳ chọn thanh toán được cungcấp cho khách hàng của họ Bởi vì, mỗi khách hàng có các lựa

Trang 33

thể bắt khách hàng phải sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử màứng dụng cung cấp.

- Chức năng thông báo tức thời Với chức năng này thì thông tin về các

sản phẩm, chương trình khuyến mãi sẽ được thông báo đến các khách hàngmột cách kịp thời Hơn nữa, với dạng thông báo tức thời thông qua các ứngdụng điện thoại di động, khách hàng của các dịch vụ Thương mại Điện tử

sẽ không cần phải truy cập email để nhận các thông tin như cách thức màcác dịch vụ trước đây thực hiện

- Đánh giá và xếp hạng Đây cũng là một trong những chức năng quan

trọng giúp cho các khách hàng có thể phản hồi trung thực về các sản phẩm

đã mua, xếp hạng chúng Các khách hàng mới cũng sẽ dễ dàng lựa chọncho mình các sản phẩm phù hợp dựa trên các thông tin đánh giá của nhữngngười đã mua Từ đó, số lượng người mua các sản phẩm cũng sẽ tăng lên

- Tìm kiếm bằng giọng nói Đây là một trong những xu hướng lớn nhất

trong việc phát triển các ứng dụng, đặc biệt là các ứng dụng trên các thiết

bị di động Chức năng tìm kiếm bằng giọng nói sẽ giúp tăng một cách đáng

kể trải nghiệm của người dùng khi sử dụng các ứng dụng di động Thươngmại Điện tử Nó cho phép khách hàng có thể dễ dàng và nhanh chóng tìmthấy các sản phẩm mà họ cần

Một thành phần khác của hệ thống Thương mại Điện tử là Portal, một dạngcổng giao dịch điện tử, là một môi trường thống nhất cung cấp các truy nhập cá nhânđến các thông tin, các ứng dụng, tiến trình nghiệp vụ, và các dịch vụ khác Với mộtcổng thông tin điện tử, một tổ chức/doanh nghiệp có thể giảm các chi phí phát triển vàtriển khai, tăng năng suất một cách đáng kể các hoạt động của mình Việc sử dụngcổng thông tin điện tử giúp các thông tin có thể được tổng hợp và tích hợp bên trongmột môi trường làm việc, ứng dụng hoặc dịch vụ, hoặc một giao diện duy nhất có thểđược sử dụng để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Các cổng thông tin giúp hài hoàgiữa nội dung, thương mại và hợp tác

Để phục vụ tốt hơn cho các hoạt động của các hệ thống Thương mại Điện tử,

đã có các dạng cổng thông tin được phát triển:

- Các cổng thông tin Line of business (thông tin doanh nghiệp) cung cấpcác truy nhập một cách dễ dàng đến các ứng dụng phục vụ cho một khuvực cụ thể, chẳng hạn như mua sắm hoặc nguồn nhân lực

- Các cổng thông tin mạng nội bộ của công ty thường hoạt động như mộtcổng kiểm soát các kết nối đến các website được vận hành bởi một tổ chức

- Các cổng thông tin ngoại mạng hoạt động như một giao diện giao tiếpgiữa các công ty, khách hàng, nhà cung cấp và bán lẻ

Trang 34

- Cổng thông tin dịch vụ khách hàng và tự phục vụ thường được coi là cáctập hợp con của mạng phụ của một công ty Thương mại Điện tử.

- Cổng thông tin cá nhân nhằm hỗ trợ các cá nhân trong việc truy cậpthông tin và tài nguyên

- Cổng thông tin doanh nghiệp là cổng thông tin trung tập của toàn bộ tổchức/doanh nghiệp Nó bao gồm tất cả các cổng thông tin được triển khaibên trong doanh nghiệp

Ngoài ra, các ứng dụng di động Thương mại Điện tử cần có những thiết kế

về mặt giao diện để cung cấp cho người dùng những trải nghiệm tốt nhất khi sử dụng.Các kỹ sư cần phải nắm bắt được hành vi khách hàng và hỗ trợ họ đạt được các mụctiêu của họ Vì vậy, khi xây dựng các ứng dụng di động, cần chú ý đến các nguyên lýdưới đây:

- Đặt các thành phần quan trọng trong khu vực mà người dùng có thể dễdàng chạm được bằng các ngón tay Như trong hình minh hoạ bên dưới,cần đảm bảo người dùng có thể chạm được đến các nội dung quan trọngtrong giao diện của các ứng dụng Thương mại Điện tử

Hình 1.10 Nguyên lý thiết kế giao diện ứng dụng trên thiết bị di động (UXmatters, 2021)

- Đảm bảo hệ thống định vị trực quan Bố cục của ứng dụng cần được

chia thành ba phần gồm phần chính (phần trung tâm chứa nội dung vàchức năng của ứng dụng), phần phụ chứa các chức năng thể hiện theo dạngcác tab, và phần thứ ba thể hiện ở dạng menu (trình đơn) với nhiều chứcnăng hơn nhưng được ẩn, chỉ xuất hiện khi người dùng kích hoạt nút hiểnthị

Trang 35

- Tuân thủ quy tắc 3 bước (three-tap rule) Quy tắc này đảm bảo rằng

khách hàng không phải thực hiện nhiều hơn 3 lần nhấn để hoàn thành mộttác vụ nào đó Chẳng hạn, để tìm kiếm sản phẩm, cần đảm bảo người dùngkhông phải nhấn vào các đối tượng quá 3 lần nhấn (3 bước) để có thể truycập được đến các sản phẩm mong muốn Vì vậy, ở giao diện cần thiết kếtheo thứ tự: danh mục – danh mục con – sản phẩm Tuy nhiên, thanh tìmkiếm (search bar) sẽ giúp giảm số bước cần thực hiện, đặc biệt là với hoạtđộng hoàn thành lựa chọn sản phẩm và chuyển sang bước thanh toán

- Cần đảm bảo chất lượng của các hình ảnh sản phẩm Điều mà nhiều

khách hàng quan tâm khi tìm hiểu về các sản phẩm là họ phải dễ dàng xemđược các hình ảnh minh hoạ về các sản phẩm đó Các hình ảnh này phảithể hiện đầy đủ các khía cạnh về sản phẩm mà người dùng mong muốn Vàcác tệp hình ảnh phải có độ phân giải phù hợp để khách hàng có thể xemchúng một cách chính xác và rõ ràng

- Giao diện ứng dụng cần phải tối giản và nhất quán Điều này đặc biệt

quan trọng khi mà vùng hiển thị của các thiết bị di động thường nhỏ hơncác thiết bị khác Hơn nữa, nếu giao diện quá phức tạp sẽ khiến kháchhàng cảm thấy bối rối vì không biết phải thao tác thế nào để đạt được cáckết quả mong muốn

1.3.2 Các Web service và SOAP (Simple Object Access Protocol)

1.3.2.1 Các dịch vụ Web (Web service)

Một dịch vụ web (Web Service) là một thực thể phần mềm dựa trêncác tiêu chuẩn và không bị ràng buộc vào một ngôn ngữ lập trình cụ thể nào, có thểnhận các yêu cầu được định dạng đặc biệt từ các thực thể phần mềm khác trên các máytính từ xa thông qua các nhà cung cấp (vendor) và các giao thức giao vận truyền thôngtrung gian, trả về các phản hồi dành riêng cho ứng dụng cụ thể Hay nói cách khác thìweb service là một ứng dụng dạng máy chủ máy khách giao tiếp với nhau thông quacác giao thức như HTTP/HTTPS

Trang 36

Hình 1.11 Các bước một web service được tạo, tìm kiếm và sử dụng

Giả sử một công ty Thương mại Điện tử xây dựng ứng dụng củamình trên các nền tảng khác nhau: di động, web và máy tính để bàn (desktop) Và để

có thể cung cấp dữ liệu cho các ứng dụng này, chẳng hạn như thông tin khách hàng,công ty sẽ xây dựng một Web nhận yêu cầu từ các ứng dụng và trả về thông tin kháchhàng Web service này sẽ không cần phân biệt yêu cầu được gửi từ đâu, được viếtbằng ngôn ngữ lập trình nào Điều này tạo ra sự thuận tiện trong việc xây dựng cácứng dụng Thương mại Điện tử trên nhiều nền tảng khác nhau

Các giao tiếp giữa (yêu cầu) các Web service thường dựa trên cơ chếtrao đổi thông điệp dữ liệu (data messaging) thường được định dạng bởi XML (mộtngôn ngữ đánh dấu có thể mở rộng – Extensible Markup Language) Đây là một ngônngữ trung gian phổ biến được sử dụng để trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng Chính vì

cơ chế trao đổi dữ liệu giữa các dịch vụ, ứng dụng dựa trên XML nên các dạng ứngdụng này không bị giới hạn bởi nền tảng mà chúng được xây dựng trên đó

Các công nghệ cơ bản hình thành lên Web service là:

tượng đơn giản), khi một chương trình muốn gọi một tiến trình(process, đơn vị chương trình) hoặc một phương thức thực hiệnbởi một web service cụ thể, nó sẽ gửi một thông điệp SOAP đếndịch vụ thông qua giao diện Web Web service sẽ phản hồi bằngcách gửi trả một thông điệp SOAP chứa kết quả sau khi xử lý

các Web service) WSDL là một tài liệu XML định nghĩa giaodiện lập trình cho một Web service Tài liệu này xác định cáchoạt động hoặc phương thức mà Web service có thể thực hiện,cùng với đó là các tham số mà dịch vụ cần để triển khai các hoạt

Trang 37

động, các giá trị mà dịch vụ sẽ trả về cho các yêu cầu được gửiđến.

tả tổng quan, khám phá và tích hợp) UDDI ban đầu hoạt độngnhư là một cơ quan để đăng ký các dịch vụ kinh doanh của nhữngngười B2B nhằm chia sẻ thông tin về quy trình kinh doanh vàhoạt động kinh doanh của họ Gần đây, UDDI được sử dụng đểcác công ty/doanh nghiệp phát hành các Web service của họ chocác bên liên quan tìm kiếm và sử dụng Các mục mô tả Webservice trong UDDI thường trỏ đến địa chỉ Web của tệp WSDLđược liên kết với Web service

truyền thông mã hoá và giải mã các thông điệp (dữ liệu) cho cáctruyền thông trực tuyến, một số giao thức an ninh còn cung cấpdịch vụ xác thực

Một số web service hỗ trợ các giao tiếp giữa một số các ứng dụngvới HTML, XML, WSDL, SOAP, và các chuẩn mở khác XML gắn thẻ các dữ liệu,SOAP (Simple Object Access Protocol, giao thức truy nhập đối tượng đơn giản)truyền đi các thông điệp chứa dữ liệu, WSDL (Web Services Description Language,ngôn ngữ mô tả các Web service) mô tả khả năng truy nhập Web service, và UDDI(Universal Description Discovery and Integration, dịch vụ mô tả tích hợp đa năng) chobiết những web service nào là khả dụng đối với người dùng, cho phép họ có thể tracứu thông tin về các web service

Hình 1.12 Cách bước một web service được yêu cầu bởi máy trạm

Như vậy, web service được tạo ra để:

Trang 38

 Giúp các hệ thống không liên quan đến nhau (được xây dựng dựatrên các nền tảng công nghệ khác nhau) có thể giao tiếp được vớinhau.

Hình 1.13 Vai trò đồng bộ dữ liệu của web service

a) Một số Web service phổ biến:

hãng hàng không, thông tin chức khoán,

chức có các phòng ban khác nhau và tổ chức/doanh nghiệpmuốn tận dụng lợi thế của các Web service để chia sẻ cácdịch vụ có thể dùng chung bởi các bộ phận khác nhau

trong công việc cho nhân viên, một công ty có thể tổ chứcvận chuyển các kiện hàng cho các nhân viên bằng cách sửdụng một dịch vụ vận chuyển, chẳng hạn như FedEx Khikiện hàng được chuyển đi, công ty có thể gắn nó với mộtcon số để theo dõi trong cơ sở dữ liệu của mình Nếu nhânviên nào đó muốn theo dõi hành trình của gói hàng thì họcần gọi đến bộ phận vận chuyển và hỏi về trạng thái của nóbằng cách cung cấp mã số theo dõi (mã vận đơn) Trongtrường hợp này, nhân viên của bộ phận vận chuyển cần phảitruy nhập vào cơ sở dữ liệu nội bộ để lấy thông tin về kiện

Trang 39

hàng tương ứng với mã vận đơn Sau đó, nhân viên này sẽcần phải truy nhập vào hệ thống của FedEx để lấy các thôngtin về mã vận đơn trên và trả lời cho nhân viên có nhu cầutra cứu về kiện hàng của mình.

Để giúp cho việc tra cứu các thông tin về các kiện hàng trởnên dễ dàng hơn thì các tổ chức/doanh nghiệp có thể xâydựng một hệ thống mạng nội bộ kết nối đến Web service chophép tra cứu trạng thái của các kiện hàng từ FedEx Lúc này,các nhân viên sẽ chỉ cần truy nhập vào trang Web nội bộđược cung cấp bởi công ty và gõ mã vận đơn của mình vào

để tra cứu các thông tin liên quan đến kiện hàng của mình

sử dụng một web service được cung cấp bởi một cổng thanhtoán trực tuyến để xử lý thẻ tín dụng của khách hàng củamình Hoặc kết nối với các web service được cung cấp bởicác công ty vận chuyển để cho phép khách hàng lựa chọncác dịch vụ vận chuyển phù hợp và thuận tiện Ở một khíacạnh khác thì bản thân các công ty vận chuyển cũng được lợikhi cung cấp các web service cho các trang Thương mạiĐiện tử Họ sẽ có được nhiều khách hàng hơn từ các đơnhàng tạo ra trên các trang này

b) Lợi ích của các Web service

Độc lập với các thành phần khác Mỗi dịch vụ tồn tại một

cách độc lập với các dịch vụ khác vốn cùng nhau tạo nênứng dụng Các thành phần dịch vụ riêng lẻ của ứng dụng cóthể thay đổi/nâng cấp mà không ảnh hưởng đến các thànhphần khác

Dễ dàng tích hợp Dữ liệu là tách biệt giữa các ứng dụng.

Các Web service đóng vai trò như là chất kết dính giữa cácứng dụng, cho phép trao đổi một cách dễ dàng giữa chúng

Tái sử dụng các Web service Một chức năng được cung cấp

bởi dịch vụ sẽ có thể được sử dụng trong nhiều ứng dụngkhác nhau mà không cần viết lại mã nguồn Chẳng hạn nhưdịch vụ cổng thanh toán trực tuyến Các dịch vụ này chỉ cầnxây dựng một lần và có thể được sử dụng trong rất nhiều cácứng dụng khác nhau, trên các nền tảng khác nhau

c) Các nền tảng hỗ trợ xây dựng Web service

Trang 40

Một số nhà phát triển phần cứng và phần mềm lớn đã tạo ra cácmôi trường phát triển phần mềm để hỗ trợ các lập trình viên tạo

và triển khai các Web service Các môi trường lập trình cung cấpbởi ba tập đoàn lớn trên thị trường là Microsoft, IMB và Sun

thị trường các Web service Bộ khung phát triển NET củaMicrosoft cung cấp nền tảng cho tạo và triển khai trênWindows Các môi trường phát triển cho bộ khung NET làVisual Studio Net cho phép các nhà phát triển phần mềmthiết kế, phát triển và triển khai Web service với các ngônngữ lập trình C, C++ và Visual Basic Net Hiện nay nềntảng này cũng đã hỗ trợ nhiều hơn các ngôn ngữ lập trìnhkhác

IBM, bao gồm các dịch vụ EC của họ, là các máy chủ ứngdụng WebSphere Trong vài năm qua, IBM đã đã tích hợpcác công nghệ Web service khác nhau như SOAP và WSDLvào máy chủ ứng dụng của mình Để hỗ trợ các nhà pháttriển phần mềm và ứng dụng thiết kế, phát triển, lựa chọn vàtriển khai Web service trên nền tảng WebSphere, IBM đã cảitiến môi trường phát triển hệ tại của mình (WebSphereStudio Application Developer) để hỗ trợ các Web service.IBM cũng tạo ra một môi trường phát triển mới gọi là Bộcông cụ công nghệ mới tích hợp (Emerging TechnologiesToolkit)

quyền truy cập vào một nền tảng phát triển hoàn chỉnh đượcthiết kế đặc biệt để đáp ứng nhu cầu phát triển ứng dụngdoanh nghiệp J2EE làm cho tất cả các chức năng dựa trênnền tảng JAVA của doanh nghiệp trở nên khả dụng và có thểtruy nhập ở dạng tích hợp, đơn giải hoá và quản lý các giảipháp triển khai tập trung đa máy chủ của doanh nghiệp mộtcách tốt nhất có thể

Ngoài ra các web service cũng có thể được gọi bởi các ứng dụngWindows Form, là các ứng dụng được xây dựng dựa trên giao diện người dùng (GUI –Graphic User Interface), thậm chí là các ứng dụng dựa trên dòng lệnh Điều này hoàn

Ngày đăng: 13/10/2022, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình của một ứng dụng Web (Mozilla, 2021a) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.1. Mô hình của một ứng dụng Web (Mozilla, 2021a) (Trang 8)
Hình 1.4. Cấu trúc của một website - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.4. Cấu trúc của một website (Trang 17)
Hình 1.6. Các ứng dụng Thương mại Điện tử (Mindster, 2019) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.6. Các ứng dụng Thương mại Điện tử (Mindster, 2019) (Trang 20)
Hình 1.7. Kiến trúc của các ứng dụng Thương mại Điện tử (Lackermair, 2011) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.7. Kiến trúc của các ứng dụng Thương mại Điện tử (Lackermair, 2011) (Trang 28)
Hình 1.9. Hoạt động của front-end và backend - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.9. Hoạt động của front-end và backend (Trang 31)
Hình 1.11. Các bước một web service được tạo, tìm kiếm và sử dụng - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.11. Các bước một web service được tạo, tìm kiếm và sử dụng (Trang 36)
Hình 1.12. Cách bước một web service được yêu cầu bởi máy trạm - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.12. Cách bước một web service được yêu cầu bởi máy trạm (Trang 37)
Hình 1.15. Kiến trúc của một phong thư SOAP (SOAP Envelope) (Walker, 2021b) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.15. Kiến trúc của một phong thư SOAP (SOAP Envelope) (Walker, 2021b) (Trang 44)
Hình 1.16. SOAP sử dụng mô hình tiêu chuẩn HTTP request/response - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.16. SOAP sử dụng mô hình tiêu chuẩn HTTP request/response (Trang 45)
Hình 1.17. Luồng dữ liệu của một lời gọi SOAP - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.17. Luồng dữ liệu của một lời gọi SOAP (Trang 45)
Hình 1.18. Cách thức XML được sử dụng để truyền tải thông điệp SOAP (Barry &amp; Associates, - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.18. Cách thức XML được sử dụng để truyền tải thông điệp SOAP (Barry &amp; Associates, (Trang 48)
Hình 1.19. Luồng dữ liệu của một lời gọi SOAP - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 1.19. Luồng dữ liệu của một lời gọi SOAP (Trang 49)
Hình 2.33. Thiết kế của hãng hollister (Hollister Co., n.d.) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 2.33. Thiết kế của hãng hollister (Hollister Co., n.d.) (Trang 107)
Hình 2.34. Thiết kế của estates-and-wines(Estates And Wines, n.d.) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 2.34. Thiết kế của estates-and-wines(Estates And Wines, n.d.) (Trang 108)
Hình 2.35. Thiết kế của hãng versace (Versace Official Online Store, n.d.) - Giáo trình phát triển các ứng dụng thương mại điện tử
Hình 2.35. Thiết kế của hãng versace (Versace Official Online Store, n.d.) (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm