1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật sở hữu trí tuệ thực trạng và những vấn đề đặt ra

110 2K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật sở hữu trí tuệ thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả Trần Cấm Vân
Người hướng dẫn PGS. TS. Tăng Văn Nghĩa
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương - Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 15,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các bài viết nghiên cứu về vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ có thể kể đến là: "Vê pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quy

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

C H U Y Ê N N G À N H LUẬT KINH DOANH QUỐC TÉ

Trần Cấm vân

ẴJQÁQ

45 PGS TS Tăng Văn Nghĩa

Hà Nội - 05120ì 0

Trang 3

M Ụ C L Ụ C LÒI C Ả M Ơ N

/ Hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ A

LI Khái niệm hạn chê cạnh tranh 4

1.2 Đặc diêm của hành vi hạn chê cạnh tranh 5

1.3 Nguôi! luật điêu chinh hành vi hạn chê cạnh tranh liên quan

đèn quyên sơ hữu tri tuệ 6

1.4 Những dạng biêu hiện cơ bàn của hành vi hạn chê cạnh tranh

liên quan đèn quyên sở hữu trí tuệ 7

2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở

hữu trí tuệ 17

2.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh (unfair competition

practices) 17 2.2 Đặc diêm của cạnh tranh không lành mạnh 18

2.3 Nguôi! luật điêu chình hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên

quan đèn quyên sớ hữu trí tuệ 19

2.4 Những dạng biêu hiện cơ bán cùa cạnh tranh không lành mạnh

liên quan đèn quyên sở hữu tri tuệ 21

li Mối quan hệ giũa hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh

không lành mạnh liên quan đến quyền sỡ hữu trí tuệ 29

/ Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh 29

2 Phăn biệt hành ví hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành

mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 29

Trang 4

2 Thực trạng về hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyển

sở hữu tri tuệ tại Việt Nam 41

2 ỉ Trên thị trường viên thông nội địa 42

2.2 Trên thị trường dược phàm 43

li Thực trạng về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đen quyền sử hữu trí tuệ 46

/ Một số vụ việc điển hình trên thế giới 46

1.1 Tại Trung Quốc 46

1.2 Một sổ vụ việc tiêu biêu liên quan đèn hành vi xâm phạm quyên

sư dụng tên miên 48

1.3 Vụ việc vê hành vi chì dân gây nhâm lân cho khách hàng vê

2 Thực trạng về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đến quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 52

Trang 5

ì Những vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát hành vi hạn chế cạnh

tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí

tuệ 67

/ Tong quan 67

/ ì Đủi với hành vi hạn chê cạnh tranh liên quan đèn quyên sở hữu

trí tuệ 67 1.2 Đôi với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đèn

quyên sơ hữu tri tuệ 69

2 Những vấn đề đặt ra trong việc kiếm soát hành vi hạn chế cạnh

tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

72

2 ỉ Quy định ve biện pháp hình sự đoi với hành vi hạn chế cạnh

tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyển sờ hữu trí

tuệ 72 2.2 Đỏi với quy định của pháp luật vé hành vi cạnh tranh liên quan

tới quyên sớ hữu tri tuệ 72

2.3 Vân đẻ đặt ra trong thực tiên thực thi 77

li Một số giãi pháp 81

/ Nhóm giải pháp nhằm tăng cường kiêm soát hành vi cạnh tranh

liên quan tới quyển sở hữu trí tuệ 81

2 Nhóm giải pháp nham bão hộ quyển của chủ sở hữu tài sản trí

tuệ trong cạnh tranh 86

2.2 Giải pháp mang tính vi mô 91

K É T L U Ậ N 93

TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O

P H Ụ L Ụ C

Trang 6

LỜI CẢM Ơ N

Đè hoàn thành khóa luận này trước tiên, em xin chân thành cảm ơn PGS TS Tăng Văn Nghĩa, dù rất bận với công tác quản lý và giảng dạy chuyên môn nhưng dành thời gian hướng dẫn em tận tình và chu đáo

Em cũng xin gửi lời câm ơn tới anh Trần Lê nồng, Cục Sờ hữu trí tuệ đã giải đáp những thắc mắc của em về một sự vấn đề trong pháp luật Sờ hữu trí tuệ, từ đó, giúp em hiểu rõ những nội dung cần truyền tải trong khóa luận

Sự trọn vẹn cùa bài làm này không thể không kể tới công lao dạy dỗ của các thay cỏ trường Đại học Ngoại thương Hà Nội trong suựt bựn năm qua, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Luật Kinh doanh quực tế Nhờ có tâm sức giảng dạy của thầy cô, em càng thêm yêu mến và dam mê nghiên cứu ngành Luật

Xin cảm ơn ba mẹ, anh chị và bạn hè luôn động viên em trong suựt thời gian viết

Một làn nữa, em xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Trần Cẩm Vân

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BBCGQSD: Bắt buộc chuyển giao quyền sứ dụng

CFI: Court o f First Instance (Tòa án Sơ thẩm Châu Âu)

ECJ: Court o f Justice oi'the European Communities (Tòa án Tư pháp Châu Âu)

EU: European Union (Liên minh Châu Au)

T Ó T : the International Code o f Conduct ôn the Transfer o f Technology

TRIPS: Aareement ôn Trade Related Aspects o f [ntellectual Property Rights

UNCTAD: The United Nations Conterence ôn Trade and Development (Hội nghị Thương mại và Phát triến Liên Hiệp Quốc)

VNNIC: Trung tâm Intemet Việt Nam

WB: World Bank (Ngân hàng thế giới)

WIPO: World Intellectual Property Organisation (Tổ chức Sờ hữu tri tuệ thế giới) WTO: World Trade Organisation (Tổ chức Thương mại thế giới)

Trang 8

LÒI MỞ Đ Ầ U

l.Tính c ấ p thiết c ủ a đề tài

Trong hai ngày (từ ngày 21 đến ngày 22/02/2008), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã tổ chức diễn đàn toàn cầu về cạnh tranh lần thứ 7 tại Paris;

thảo (từ ngày 27 đến ngày 28/5/2008) tại thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề: "Hội thảo khu vực về chính sách cạnh tranh ASEAN và đờnh hướng hợp tác tương l a i "

với sự tham gia cùa đại biểu từ lo nước thành viên và ban thư ký ASEAN Chừng

đó cùng đủ để chúng ta thấy được sự quan tâm của cộng đồng thế giới đối với vân

đề cạnh tranh Không ai có thể phủ nhận vai trò của cạnh tranh trong nên kinh tế thờ trường bời như một sức mạnh vô hình, cạnh tranh buộc các chù thể cạnh tranh luôn phải vận động tim tòi để tim ra con đường tót nhát Tuy nhiên, nhiêu chủ thê cạnh tranh tha)' vì làm nhữne gì pháp luật không cấm thì ngược lại đã thực hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Một trong những đôi tượng trờ thành "tầm ngắm" đê những chủ thê muôn thực hiện hành vi cạnh tranh nhắm tới là sờ hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền sở hữu trí tuệ Nhùng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới chi dẫn thương mại, nhãn hiệu tên miền hay sự lạm dụng quyên độc quyền đế càn trờ hoạt động thương mại, gây tôn hại cho người tiêu dùng giờ đây quả thật đã trở thành vấn đề nổi cộm khi

m à sô lượng các tranh châp vê vân đề này ngày một gia tăng, buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải can thiệp và giải quyết nhanh chóng Bời vậy, xem xét vân đẽ pháp lý và thực tiễn xoay quanh "Hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật Sở hữu trí tuệ " thực

sự cân thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc giãi quyết các vụ việc cạnh tranh liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Nhận thức được điều này, em đã chọn đề tài "Hạn chế cạnh tranh và cạnh

tranh không lành mạnh trong pháp luật Sỡ hữu trí tuệ - Thực trạng và nhũng vấn đề đặt ra" làm dề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

1

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

Trước khóa luận này các bài viết nghiên cứu về vấn đề cạnh tranh liên quan

đến quyền sờ hữu trí tuệ có thể kể đến là: "Vê pháp luật chống cạnh tranh không

lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta" của Nguyễn Thanh Tâm đăng trên Tạp chí Thương mại số 42 năm 2003; "Ché

định về hạn chế cạnh tranh trong Hiệp định TRIPS và phán quyết Microsoỷt V

Commission- Kinh nghiệm cho Việt Nam" đăng trên tạp chí Khoa học Pháp lý sô 5

năm 2007 của Nguyễn Thanh Tú hay bài viết của tác già Nguyễn Như Quỳnh v ớ i

tựa đề "Chuyên đề về cạnh tranh liên quan đến quyển sớ hữu tri tuệ " Tuy vậy, đê

làm rõ nhũng quy định về hai hành vi này tộ đặc điểm, nguồn luật điều chinh đèn các biểu hiện theo pháp luật cùa một số nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam thì hiện nay chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu tống thê, trọn vẹn và chi tiêt

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu cùa đê tài này là:

• Làm sáng tò những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ;

• Phân tích thực trạng hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại một số nước trên thế giới và tinh hình tại Việt Nam;

• Nêu lẽn những vấn đề đặt ra và đê xuất giải pháp tăng cường kiểm soát hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ và bào hộ quyền cùa chủ sỡ hữu tài sàn trí tuệ trong cạnh tranh

4 Đ ố i tuông và phạm vi nghiên cứu

-Ve đoi tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là: hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

- về phạm vi nghiên cứu:

Khóa luận này tập trung nghiên cứu: hành vi hạn chế cạnh (ranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sớ hữu trí tuệ, chủ yếu là hành vi cạnh tranh

2

Trang 10

liên quan đến quyền sờ hữu công nghiệp được quy định tại Hiệp định TRIPS; Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sứa đổi và bỏ sung năm 2009

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận này là các phương pháp nghiên cứu truyền thủng nhu phân tích, luận giai, tủng hợp, thông kê, so sánh Khóa luận cũng sử dụng sủ liệu thủng kê đế làm rõ vấn để

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mờ đầu kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bô cục của khóa luận gồm 3 chương:

Chuông ì: Tong quan về hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành

mạnh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ

Chương li: Thực trạng hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành

mạnh liên quan đến quyển sờ hữu trí tuệ diễn ra trên thể giới và tại Việt Nam

Chướng HI: Những vấn đề đặt ra - Giải pháp nham kiểm soát hành vi cạnh

tranh liên quan đến quyển sở hữu trí tuệ và bao hộ quyển cùa chủ sờ hữu tài sàn trí tuệ trong cạnh tranh

3

Trang 11

C H Ư Ơ N G ì : TỎNG QUAN VỀ H À N H VI HẠN C H É CẠNH TRANH V À CẠNH TRANH K H Ô N G L À N H MẠNH LIÊN QUAN ĐÈN Q U Y Ê N SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1 Khái quát

/ Hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đền quyển sở hữu tri tuệ

ỉ 1 Khái niệm hạn chế cạnh tranh

Theo pháp luật chống hạn chế cạnh tranh cùa Hoa Kỳ (Antitrust law, một số nước khác gọi là Competition law) hành v i làm giảm tính cạnh tranh (anti-competitive conduct hay anti-competitive business pratices) dược cắt nghĩa là hành

v i cùa một doanh nghiệp hay một nhóm các doanh nghiệp liên két với nhau nhăm hạn chế sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác để duy tri hoặc tăng cường vấ thế cạnh tranh cũng như tăng trường về lợi nhuận mà không cân thiết phải cung cáp hàng hóa và dấch vụ ở giá thấp hơn hoặc chất lượng tốt hơn'

Từ căn cứ trên trở về khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004, hành

vi hạn chế cạnh tranh được đấnh nahĩa "là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai

lệch, càn trờ cạnh tranh trên thị trường" Khái niệm này đã đề cập khá rõ ràng về

chù thê và tính chất cùa hành vi hạn chế cạnh tranh

Tuy vậy dường như khái niệm này tỏ ra khá chật chội khi chỉ để cập đến chủ

thê là doanh nghiệp Theo Luật mẫu cạnh tranh do WB-OECD và U N C T A D soạn

thào chủ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh được chi rõ qua từ " f i n n " hay

"enterprises" gồm bất kỳ thê nhân hoặc pháp nhân, cơ quan nhà nước công ty hay

tô chức tham gia trực tiêp hay gián tiếp vào hoạt động kinh tế Rõ ràng, trên thực

tế, ngoài doanh nghiệp - chủ thế kinh doanh thì người có thể gày ra hành v i này là

O E C D , Gỉọssary oýindustriaỉ organisatìon economics and competiiion lem, page 12

www.oecd.org/dataoccd/8/61/23 76087.pdf

2

Cassey Lee, Model competilion laws: the World Bank -OECD and UNCTAD approaches

compared, January 2005, page 8,

www.competitionregulation.org.uk/conferences/southafrica04/lee.pdf

Trang 12

các cá nhân tổ chức không kinh doanh nhu nhà xuất bản hay các cơ quan nhà nước nhưng vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh

Một văn bản pháp lý khác cũng đề cập đến hành vi hạn chế cạnh tranh đó là

Hiệp định TRIPS, cụ thể trong khoản ĩ , Điều 8 và Điều 40 Tại khoản 2, Điều 8 quy

định nguyên tữc chung điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đèn quyền sỡ hữu trí tuệ, trong dó cho phép các thành viên của WTO ban hành các biện

pháp phù hợp để ngăn ngừa, kiểm soát (i)việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ bởi

người nắm quyền, hoặc (ii) hành vi gây cản trờ hoạt động thương mại một cách bát hợp lý hoặc gây ánh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quác tê Như vậy,

dù không đưa ra định nghĩa rõ ràng cho thuật ngữ "hạn chế cạnh tranh" nhưng khái niệm hạn chế cạnh tranh trong Hiệp định này được hiểu là hành vi không chỉ đơn phương lạm dụng quyền sờ hữu trí tuệ mà còn liên quan đến quá trình chuyến giao công nghệ

Từ những phân tích trên hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ được hiểu là hành vi của chủ thể quyền (có thể là cá nhàn hoặc tồ chức liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh tế) lạm dụng vị thế của minh hoặc thỏa thuận liên kết với nhau nhằm gây càn trở hay tạo ra sự bát lợi cho thị trường nói chung

1.2 Đặc điểm của hành vi hạn chẽ cạnh tranh

Hành vi hạn che cạnh tranh có những đặc điểm cơ bàn sau đây:

• Thứ nhất chù thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là các chủ thể tham

2Ìa thị trường, có thê là chủ thê kinh doanh (doanh nghiệp) hoặc có thể không phải chù thể kinh doanh (hiệp hội ngành nghề) nhăm mục đích càn trở hoạt động cạnh tranh nói chung trên thị trường;

• Thú hai, việc tiến hành hành vi có dấu hiệu lạm dụng có mục đích làm sai

lệch, càn trờ, đặc biệt là mục đích loại bỏ đối thù cạnh tranh ra khỏi thị trường thông qua sức mạnh thị trường, năng lực cạnh tranh, liên kết với nhau ;

cấm nếu thỏa mãn những điều kiện nhát định, ví dụ như, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyên bị câm chỉ khi doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở

Trang 13

lên hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể (khoản Ì, Điều 11 Luật

Cạnh tranh) Thêm nữa, một số hành vi hạn chế cạnh tranh bị kiểm soát chặt chẽ thông qua chế độ đăng ký hoặc thông báo như việc thông báo tập trung kinh tê của doanh nghiệp tới cơ quan quàn lý cạnh tranh;

• Thứ In: các hành vi hạn chế cạnh tranh không những xâm hại trực tiếp đến

lợi ích của các chù thể kinh doanh, lợi ích của người liêu đùng xã hội, lợi ích cùa nền kinh tế nói chung mà còn có thể phá vỡ hay làm thay dối trật tự của một thị trường, một lĩnh vực hay ngành hàng nhừt định Diều này cho thừy, mức độ ảnh hường tiêu cực cùa hành vi này là tương dối rộng, có khi còn gây tác động tới một khu vực thị trường rộng lớn như hành vi thỏa thuận giữa các chù thê cùng cừp độ kinh doanh với nhau liên quan tới giá cả phân chia thị trường

Từ đày có thè thừy đặc điểm của hành vi hạn chê cạnh tranh liên quan đèn quyền sờ hữu trí tuệ cũng chứa đựng những biêu hiện chung của hành v i hạn chê cạnh tranh, tuy vậy, hành vi này có liên quan đèn đối tượng sờ hữu trí tuệ chuyên giao quyền sở hữu trí tuệ Nếu như hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ có mối quan hệ mật thiết đến các đối tượng sờ hữu trí tuệ thì hành vi hạn chế cạnh tranh lại liên hệ mật thiết đến việc chuyên giao quyên sờ hữu trí tuệ đặc biệt là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sờ hữu công nghiệp (thường được gọi là hợp đồng li-xăng) Nói cách khác, khi chủ thể quyền sỡ hữu trí tuệ thực hiện quyền chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ hoàn toàn có khả năng gây ra hệ quà hạn chế cạnh tranh

1.3 Nguồn luật điểu chinh hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu tri tuệ

1.3.1 Trên phương diện luật pháp quốc gia và khu vực

Mỗi hệ thông văn bản pháp luật của mỗi quốc gia điều chình hành vi hạn chế cạnh tranh có thế có tên gọi khác nhau, ví dụ ở Hoa Kỳ, vừn đề này được quy định trong Luật chống độc quyền (Antitrust law) hay tại Đức, văn bàn pháp luật điều chinh hành vi này tên là Luật chống hạn chế cạnh tranh, ở một số hiệp hội khu vực

'Nguyễn Như Quỳnh, Chuyên để cạnh tranh liên quan đến quyền sớ hữu tri tuệ, trang 61

www.toaan.gov.vn/images/ebb/ebb_data/attach_file/Tai%25201ieu%2520canh%252tranh.doc

Trang 14

như Liên minh Châu Âu, pháp luật khu vực có thể có hiệu lực áp dụng trực tiếp tại các quôc gia hoặc có thể đạt ra các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ cho pháp luật quốc gia ví dụ như Quy chế chuyển giao công nghệ của EU có hiệu lực vào ngày Ì tháng

5 năm 2004 (viết tắt là TTBER) Bên cạnh đó, có thể kể tới thỏa thuận của khu vực

tự do Bão Mỹ (NAFTA), mọt thỏa thuận yêu câu các bên tham gia phải có những hành đọng hợp lý để chống lại hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

1.3.2 Trên phuong diện luật pháp quốc tế

trọng trong việc hài hoa hoa các quy phạm pháp luật quốc gia vê nọi dung và thủ tục Tuy vậy nhắc đến nguồn pháp luật có phạm vi quốc tè điều chỉnh hành vi hạn chè cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ không thế không kê tới Hiệp định TRIPS mọt trong những Hiệp định quốc tế đầu tiên chỉ ra sự cần thiết phải ngăn chặn kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ, cụ thể là tại khoản 2, Điều 8; điểm k cùa Điều 31 và Điều 40; bên cạnh đó còn có Công ước Paris về bảo họ quyền sờ hữu công nghiệp (Điều 5A) hay Luật mẫu về Sáng chế của WIPO dành cho các nước đang phát triển

1.3.3 Văn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam

Tại Việt Nam, hành vi hạn chê cạnh tranh được luật hóa trong Bọ Luật dân sự

2005 Luật Cạnh tranh năm 2004 (từ Điều 8 đến Điều 24), Luật Sờ hữu trí tuệ 2005, sửa đôi và bô sung năm 2009 (tại chương X: Chuyên giao quyền sờ hữu công nghiệp), Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 (như Điều 20), Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (điếm k, khoản 6, Điêu 7)

1.4 Những dạng biếu hiện cơ bản cùa hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến

quyên sở hữu trí tuệ

1.4.1 Những dạng biếu hiện cùa hành vi hạn chế cạnh tranh

Theo pháp luật chống đọc quyền của Liên minh Châu Âu, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm những biểu hiện sau: thứ nhất là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) (Điều l o i ) , thứ hai là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc đọc

7

Trang 15

ước về chức năng của Liên minh Châu  u (Treaty ôn the Punctioning o i the European Union) là sự thay đổi cùa Điều 81, 82 của Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu  u (Treaty establishing the European Community) sau khi Hiệp ước Lisbon (Treaty of Lisbon) có hiệu lực vào ngày OI tháng 12 năm 2009

Theo Luật mẫu về cạnh tranh mà WB-OECD và U N C T A D soạn thảo như đã nhắc đến, hành vi hạn chế cạnh tranh gồm: những thỏa thuận làm hạn chê cạnh tranh (restrictive agreements), lợi dểng vị trí thống lĩnh (abuse o f dominance) và kiểm soát tập trung kinh tế (merger controls) Trong đó:

• Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được phân chia thành thoa thuận theo chiều

doanh) và thỏa thuận theo chiều dọc (Vertical Agreements - là thỏa thuận giữa các chủ thể khác cấp độ kinh doanh) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tồn tại dưới các hình thức chính sau: (i) ấn định giá cả (gồm ấn định thuế, giá chiết khấu, ấn định tiền thu thêm và các khoản phí khác); (ii) ấn định số lượng, khối lượng sản xuất; (iii) thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thể và thị trường địa lý; (iv) thỏa thuận từ chối hợp tác (gồm việc từ chối cung cấp và từ chối mua hàng); (v) thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận rút lui việc dự thâu, (vi) thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường người bán hoặc người mua thực tế hay tiềm năng

• Lạm dụng vị trí thống lĩnh được chia thành những hành vi như: (i) bán giá tháp

đê thu hút khách hàng, mờ rộng thị phần và từ đó loại bỏ đoi thủ cạnh tranh; (ii) phân biệt đối xử; (iii) ấn định mức giá mà tại đó hàng hóa đã bán có thể được bán lại kể cà hàng hóa xuất khâu và nhập khâu

• Kiêm soát hoạt động sáp nhập: cả hai hệ thống Luật mẫu mới chì để cập đến

hoạt động sáp nhập (được hiếu là một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vể cho doanh nghiệp nhận sáp nhập m à chưa đề cập hết

liên doanh, mua cổ phần hay góp vốn bời đó là những hình thức được đề cập nhiêu hiện nay xét vê vấn để pháp lý và thủ tểc

Cassey Lee, Modeỉ competìiion ìaws: the World Bank - OECD and UNCTAD approaches

compared, January 2005, page 21 -22,

www.competitionregulation.org.uk/conferences/southarrica04/lee.pdf

Trang 16

Kè thừa và phát triển hệ thống luật cạnh tranh của nhiều nước cũng như Luật mẫu m à các tổ chức thế giới đưa ra Luật Cạnh tranh Việt Nam ra đời năm 2004 đã

đê cặp hành vi hạn chế cạnh tranh rất cụ thể Hành vi hạn chế cạnh tranh được làm

rõ tại chương li từ Điều 8 đến Điều 38 với ba loại hành vi là thựa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền, tập trung kinh tế

1.4.2 Nhũng biểu hiện của hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sự hữu t r i tuệ

Biểu hiện của hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ vê

cơ bản có nhiều điểm tương tự với hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung Tại khoán

2 Điều 8 và Điều 40 Hiệp định TRIPS ghi nhận sự thống nhất của các thành viên WTO ràng một số hoạt động hoặc điều kiện chuyển quyền sử dụng gắn liền với các quyền sờ hữu trí tuệ có tính chất hạn chế cạnh tranh có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại và càn trở quá trinh chuyến giao và phô biên công nghệ, trona đó đề cập đen hành vi đó là: (i) lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ và (ii) một số điều khoản hạn chế cạnh tranh trong một họp đồng chuyển giao công nghệ

Còn theo pháp luật Việt Nam mặc dù Luật Sờ hữu trí tuệ 2005 và Luật Sờ hữu trí tuệ sửa đôi, bố sung năm 2009 có quy định vê hành v i cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 130 song lại không có quy định cụ

thê nào vê hành v i hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ về

thông lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, những hành vi tập trung kinh tế

quan đèn quyền sở hữu trí tuệ khi chúng xâm phạm đến việc bảo hộ quyền sờ hữu trí tuệ

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sờ hữu trí tuệ, những hành

vi sau đây bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:

• Thoa thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ khi các bên tham gia thoa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 3 0 % trở lên (khoản 4 Điều 8, khoản 2 Diều 9, Luật Cạnh tranh)

9

Trang 17

• Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi cản trờ sự phái triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng (khoản 3 Điều 13 Luật Cạnh tranh)

Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 cùa Chính Phủ quy định chi tiêt thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, các hành vi nêu trên được giải thích là việc mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu huy hoặc không sử dụng

Mục đích chủ yếu của pháp luật Sờ hữu tri tuệ là khuyến khích và tạo động lực cho các tiến bộ khoa hức kỹ thuật thông qua việc trao cho các chù sờ hữu quyền sờ hữu tri tuệ các quyền độc quyền nhất định, tức là quyền ngăn chặn việc sử dụng trái pháp luật các sáng tạo phát minh và quyền khai thác những sáng tạo đó qua hợp đồng li-xăng Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, việc khai thác quyền sở hữu trí tuệ có thể làm phát sinh các hành vi hạn chế cạnh tranh thông qua việc lạm dụng vị trí thống lĩnh hay thông qua các thỏa thuận chứa đựng điều khoản hạn chê cạnh tranh Dưới đây là những trường hợp điển hình của nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:

(a) Lam dung quyền Sơ hữu trí tuệ

Một trong những đặc trưng quan trứng nhất của quyền sở hữu tri tuệ là quyền độc quyền Chính khả năng độc quyền cho phép chủ sờ hữu quyền sờ hữu trí tuệ được toàn quyền sù dụng, chuyến giao phô biến những sáng tạo trí tuệ cùa mình Nhờ đảm bảo quyền này của chù sờ hữu, quyền sờ hữu trí tuệ mới kích thích con người sáng tạo không ngừng khi sána tạo đó được bào vệ và mang lợi ích cho tác già Tuy nhiên, dựa vào quyền độc quyên mà pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trao cho chù thể quyền sở hữu trí tuệ có thê thực hiện hành vi lạm dụng

Theo từ điển Giải thích thuật ngữ Luật hức của Đại hức Luật Hà Nội, lạm dụng

quyên dân sự được hiêu là "sử dụng quyển không chi đê thỏa mãn quyền của mình

mà còn làm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, sử dụng quyền trái với mục đích cùa quyền đó hoặc dùng phương thức, biện pháp bào vệ không được

Nguyễn Như Quỳnh, chuyên đề cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu tri tuệ trang 62

www.toaan.gov.vn/imagcs/cbb/cbb_dala/atlach_rilc/Tai%2520lieu%2520canh%2520tranh.doc

Trang 18

phép" Qua cách giải thích này chúng ta có thể suy luận lạm dụng quyền sờ hữu trí

tuệ hay lạm dụng quyền độc quyền sở hữu trí tuệ là việc sử dụng quyền sờ hữu trí tuệ sai với nguyên tắc, mục tiêu mà quyền sờ hữu trí tuệ đề ra với điều kiện là hành

vi lạm dụng ấy gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Việc lạm dụng quyền sờ hữu trí tuệ có thể xây ra dưới các hình thầc như: lạm dụng quyền tác giả đối với nhãn hàng hóa/ bao bì sản phẩm, lạm dụng quyền tác giá đối với phần mềm, lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp, lạm dụng các biện pháp thực thi quyền sỡ hữu tri tuệ, lạm dụng hình thầc hợp đồng li xăng

Tại Châu Âu qua nhiều án lệ Tòa án Sơ thẩm hay tòa án Tư pháp đều khắng định để kết luận một hành vi có lạm dụng vị thế thống lĩnh hoặc độc quyên liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ như hành vi từ chối cung cấp thông tin, dịch vụ hay

từ chối chuyển giao quyền sử dụng tài sàn trí tuệ phải thỏa mãn một số điêu kiện như: (i) việc từ chối ngăn càn sự xuất hiệu một sàn phàm mới m à khách hàng tiềm năna có nhu cầu; (li) việc từ chối đó không có lý do chính đáng; (iii) việc từ chối

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 không quy định trực tiếp hành vi lạm dụng quyên sờ hữu trí tuệ mà chỉ ngụ ý một cách gián tiếp thông qua các điều kiện để thực hiện BBCGQSD đối với sáng chế tại Điều 145 Các điều kiện đó bao gồm: (i) việc sư dụng sáng chế nhăm mục đích công cộng phi thương mại; (li) người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế sau khi kết

quyên sáng chế; (iii) người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với người nấm độc quyền về việc ký kết hợp đồng sử dụne sáng chế mặc dù trong một thời gian họp lý đã cố gắng thương lượng với mầc giá và các điều kiện thương mại thỏa đáng; (iv) người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành

vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định cùa pháp luật về cạnh tranh Những điều

Trang 19

kiện trên, đặc biệt là điều kiện thứ tư đã phản ánh mối tương quan giữa pháp luật

cạnh tranh và pháp luật Sở hữu trí tuệ khi đề cập đến hành vi hạn chế cạnh tranh, cụ thê là hành vi lạm dụng quyền

Rõ ràng, pháp luật về sở hữu trí tuệ trao cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quyên độc quyền khai thác tài sản trí tuệ, nhưng không có nghĩa là quyền sờ hữu trí tuệ không chịu sự tác động cùa pháp luật cạnh tranh Hay nói cách khác, sự lòn tại quyền độc quyền theo quy định của pháp luật v ề sở hữu trí tuệ không vi phạm pháp luật cạnh tranh, nhưng việc khai thác và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ lại có thế v i phạm pháp luật cạnh tranh Do đó mặc dù việc khai thác và sử dụng (exercise) quyền sờ hữu tri tuệ đã đước pháp luật sờ hữu trí tuệ quy định thông qua phạm v i , thời hạn bảo hộ cùng những ngoại lệ, pháp luật cạnh tranh đước sử dụng bố sung nhăm đảm bào quyền độc quyền mà pháp luật về sở hữu trí tuệ trao cho chù thê

(b) Các diều khoán han chế canh tranh trong hớp đong chuyền giao còng nghê Chuyên giao công nghệ đóna vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế bằng việc phô biên các phát minh sáng chế và khuyến khích các thành viên mới gia nhập thị trường Điêu này đem lại sự khai thác có hiệu quà các thành quả cùa sờ hữu trí tuệ Thôna thường, chù thể quyền sờ hữu trí tuệ không thể thực hiện tất cả các bước đầu tư cần thiết để khai thác giá trị sở hữu trí tuệ mà không giao kết họp đồng chuyên giao công nghệ với các doanh nghiệp khác sở hữu các tài sàn hay khả năng

ký tại các cơ quan này Việc bên có trách nhiệm không nộp để đăng ký hay thông

'Nguyễn Thanh Tú, BBCGQSD đối với quyền sớ hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=349:bbc gqsdvqshttvplct&catid=103:ctc200fil&Itemid=l09 (ngày đăng tài: 12/12/2008)

Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ

http://www.luatvadoanhnhan.com/law_club.php'?&id=31 (ngày đăng : 10/02/2006)

Trang 20

qua một li-xăng sờ hữu công nghiệp hay một hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc

sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng cho các cơ quan nhà nước có thấm quyên trong

thời hạn nhất định có thể làm cho li-xăng hoặc hợp dồng vô hiệu và bên có trách

nhiệm phải chịu một hình phạt hoặc bị tạm dinh chỉ quyền kinh doanh hoặc bị mát

tư cách cựa tổ chức kinh doanh

Những điều khoản có tính chất hạn chế cạnh tranh trong hợp dồng chuyển giao

công nghệ đã được nhắc tới tại Dự thảo Brussel (Brussel Draft) cùa Hiệp định

TRIPS cũng như Bộ luật T Ó T (the International Code of Conduct ôn the Transfer o f

Technology) " hay Luật mẫu về Sáng chế cùa WIPO dành cho các nước đang phát

Nhìn chung, các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong D ự thảo Brussel, Bộ

luật T Ó T và tại Luật mẫu cựa WIPO về Sáng chế đều có nhiều điểm tương đồng,

điên hình là một số điều khoản sau:

- Kinh doanh độc quyền (Exclusive dealing) như buộc bên nhận chuyến giao phải

mua, nhận cung ứng nguyên vật liệu từ bên chuyển giao hay từ các nguồn m à bên

chuyển giao chỉ định hoặc chấp thuận như là một điều kiện để được sử dụng công

nghệ chuyển giao; hạn chế tự do cựa bên nhận chuyển giao trong việc mua, nhận

cung ứng bất kỳ nguyên liệu nào từ bất kỳ nguồn nào trừ khi, trên thực tê, nêu làm

khác sẽ không thể đảm bão được chất lượng các sản phàm được sản xuất; buộc bên

nhận chuyển giao chì được bán hoặc chù yếu các sàn phàm mình sản xuất cho bên

chuyển giao hoặc những bên do bên chuyên giao chỉ định

! 0WTPO, Cám nang Sờ hữu trí tuệ WỈPO: chính sách, pháp luật vờ áp dụng, C ụ c S ở h ữ u trí tuệ,

2005, trang 193-194

"BỘ luật được đ à m phán dưới sự giúp đ ỡ cứa Liên Hiệp Quốc T u y nhiên những đ à m phán này bị

bỏ ngỏ vào n ă m 1985 và từ đỏ đến nay chưa đ ư ợ c khơi động lại B ộ Luật này bao quát cà luật hợp

đỉng và khia cạnh thỏa thuận chuyển giao công nghệ trong luật cạnh tranh, đặc biệt là chỉ ra chỉ tiết

những hành vi hạn chế cạnh tranh trong chương 4 C á c điều khoản hạn chế cạnh tranh trong chuyển

giao cóng nghệ về sau đ ư ợ c truyền tải trong cuốn Aĩìtìtrust Guidỉines for the licensing of ỉnteìlectuaìproperty do phòng pháp chế và U y ban thương mại liên bang H o a K ỳ (U.s Department

of Justỉce and Federal Trade Commissỉon) phát hành vào ngày 06 tháng 4 n ă m 1995

1 2 Luật mẫu của W I P O về sáng chế dành cho các nước đang phát triển (tập li) bao g ỉ m các quy

định thiết lập hệ thống pháp lý và hành chính cho việc thẩm tra và đãng ký các họp đỉng chuyển

giao cóng nghệ phù hợp với chính sách, đ á m bảo rằng những họp đỉng đó không đặt ra những hạn

chế bất cõng cho bén tiếp nhận cóng nghệ m à những hạn chế đ ó có thể dẫn đến hâu quà toàn b ộ

hợp đỉng sẽ phương hại tới lợi ích kinh tế của đắt nước (WIPO, cắm nang Sờ hữu tri tuệ WĨPO:

chỉnh sách, pháp luật và áp dụng, C ụ c Sở hữu trí tuệ, 2005, ti* 194-195-196)

13

Trang 21

Những thỏa thuận về kinh doanh độc quyền được đánh giá (heo nguyên tác hợp

lý (rule o f reason) và người ta sẽ xem xét liệu những quy định hạn chê có nhăm đảm bảo lợi ích hợp pháp cũng nhu độ bảo mật với công nghệ được chuyến giao hay không Hem nữa, để đánh giá thỏa thuận kinh doanh độc quyền có làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường, người ta sẽ càn nhắc mức độ mà hợp đông chuyên giao công nghệ có thể thúc đẩy việc khai thác và phát triển công nghệ cùa bên chuyên

nghệ cạnh tranh Theo quan điểm của nhà làm Luật mốu cùa WIPO về Sáng chê, việc đăng ký hợp đồng chì có thể bị từ chối nếu những hạn chế đối với bên nhận chuyên giao là bất công và nếu toàn bộ hợp đồng có hại cho lợi ích kinh tế cùa đát nước: tùy từng trường hợp sự xuất hiện của điều khoản đó không dược gây ra những tác động có hại cho lợi ích kinh tế cùa đất nước hoặc nếu có gây ra các tác động này thì lại có thê được bù đáp bằng những tác động tích cực cho lợi ích kinh tế của đát nước nhờ những điều khoản khác trong hợp đồng

- Hạn chế trong việc sử dụng nguồn nhân sự (restrictions ôn use o f personnel): buộc

bên nhận chuyển giao phái sứ dụng nhân viên do bên chuyến giao chỉ định m à không cấp thiết cho việc chuyển giao có hiệu quả công nghệ liên quan trong họp đôna ngoại trừ trường hợp việc sử dụng nhân lực này là cần thiết để đảm bào tính hiệu quả cùa hoạt động chuyến giao công nghệ;

- Hạn chế việc nghiên cứu (restrictions ôn research): đặt ra các hạn chế đối với việc

nghiên cứu và phát triển công nghệ do bên nhận chuyển giao thực hiện;

- Ân định giá cả (price íĩxing): ân định giá bán hoặc giá bán lại các sản phẩm m à

bên nhận chuyển giao sàn xuất;

- Điêu khoán về chuyển giao ngược trờ lại quyền sử dụng độc quyền (grant-back

không được thanh toán thỏa đáng

Thông thường, các điều kiện cấp ngược được xem xét phù hợp với cơ cấu tổng thể của hợp đồng chuyển giao công nghệ, với vị thế trên thị trường công nghệ của bên chuyển quyền và với các yếu tố khác cùa thị trường liên quan Theo quan điểm

Trang 22

cùa các bên đàm phán Bộ luật TÓT, trong chừng mực, điều khoản về chuyên giao ngược trở lại quyền sử đụng độc quyền có tác dụng tích cực đến hoạt động cạnh tranh như:( í) khuyến khích việc phổ biến cải tiến tạo ra đối với công nghệ chuyển aiao của bên được chuyển quyền; (ii) thúc đấy bên chuyển quyền phổ biến công nghệ được chuyên giao; (iii) tăng tinh cạnh tranh cũng như tăng sản lượng đâu ra trong thị trường công nghệ liên quan

- Những hạn chế về xuất khẩu (export restrictions): hạn chế l ự do cùa bên nhận

chuyển giao trong việc xuất khấu hay hạn chế số lượng sản phấm mà bên nhận chuyển giao sàn xuất đều bị cấm trừ khi nhũng hạn chế này được chứng minh là họp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên chuyển quyền và bên được chuyên quyền;

- Những quy định hạn chế khác: Tạ i khoản 2, D i ề u 40, Hiệp định TRIPS cho phép

các thành viên quy định rõ trong luật pháp của mình các hoạt động hay điêu kiện chuyển quyền trong một số trường hợp đặc biệt cấu thành hành vi lạm dụng quyền

sờ hữu trí tuệ và có tác động bất lợi tới cạnh tranh trên thị trường liên quan Những hoạt động này bao gồm: (í) các eiới hạn về phạm vi, khối lượng, năng lực sàn xuất cùa bên được chuyên quyền; (li) sử dụng các điều khoản kiểm tra chất lượng trong họp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu ngoại trừ mục đích nhằm bào vệ nhãn hiệu; (iii) bát buộc bên được chuyển quyền phái góp vốn cố phần hoặc yêu cầu bên được chuyên quyền tham gia vào hoạt động quàn lý của bên được chuyển quyền như một điêu kiện đế cung cáp công nghệ; (v) thời hạn dài đến mức không cần thiết của hợp đồng chuyển quyền; (vi) các hạn chế về phổ biến, và/hoặc sử dụng tiếp công nghệ được chuyển giao

Tóm lại, để áp dụng pháp luật cạnh tranh vào các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đông chuyển giao công nghệ, cần luôn xem xét, đánh giá mối tương quan giữa những lợi ích cho nền kinh tế và cho người tiêu dùng với những hệ quà xấu của việc tạo ra các hạn ché cạnh tranh một cách đáng kể đế có thể miễn trừ hay không miễn trừ các thỏa thuận đó

Ke thừa Hiệp định TRIPS cũng như Luật mẫu về sáng chế của WIPO, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 (sửa đ ổ i , bố sung năm 2009) cũng đề cập đến những

15

Trang 23

điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên dược chuyển giao quyên, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên được chuyển quyền trong hợp đồng sử dụng đối tượng sỡ hữu công nghiệp tại khoản 2, Điều 144 Những điều khoản mặc nhiên bị vô hiệu đó gồm: (i) cấm bên được chuyển quyền cài tiến đối tượng sở hữu công nghiệp (trừ nhãn hiệu), buộc bên được chuyển quyên phái chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiên dôi tượng sở hữu công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc đăng ký sở hữu công nghiệp; (li) trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế bên được chuyển quyền xuất khâu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp theo hợp đồng sử dụng đối lượng sở hữu công nghiệp sang các vùng khác; (iii) buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một

tỷ lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện, hoặc thiết bị của bèn chuyển quyền hoặc cùa bèn thứ ba do bèn chuyển quyền chi định mà không nhằm mục đích bảo đàm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản xuất hoặc cung cấp; (iv) cấm bèn được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của quyên sở hữu công nghiệp hoặc quyền chuyển giao của bên chuyến quyền

cùng quỵ định rõ: bên giao công nghệ không được thoa thuận về điều khoản hạn chê cạnh tranh bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh Ớ đây, cũng cân nói thêm răna trước khi có Luật Cạnh tranh năm 2004 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 thì văn bản pháp lý đâu tiên điều chinh vấn đề hạn chê cạnh tranh trong chuyên giao công nghệ chính là Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày OI tháng 7 năm 1998 quỵ định chi tiết về chuyển giao công nghệ, cụ thè là tại Điêu 13 Đày thực chất chính là những điều khoản có tính chất hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ gây bất lợi cho bên nhận chuyên giao, đông thởi miễn trừ những sai sót cho bên chuyển giao Đáng tiếc là

2006

Rõ ràng, cà Bộ luật TÓT, Luật mẫu về sáng chế của WIPO, Hiệp định TRIPS

và Luật Sở hữu tri tuệ Việt Nam 2005 đều đưa ra những quy định có xu hướng bảo

vệ quyền lợi cùa bên được chuyển quyền nhằm chống lại sự lạm dụng ưu thế công

Trang 24

nghệ của bèn chuyển giao đế áp đặt các điều kiện hạn chế thương mại bất hợp lý, đẩy bèn nhận công nghệ vào thế cạnh tranh bất lợi

2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu tri tuệ 2.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh (unfaìr competition practices)

Gần một thế kỷ qua, bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh đã dược thừa nhận là bộ phận cấu thành cùa bào hộ sỡ hồu công nghiệp Tại ì lội nghị ngoại giao Brussels về sửa đồi Công ước Paris vào năm ] 900, sự thừa nhận tầm quan trọng cùa việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh lần đầu tiên được đê cập và sau này qua nhiều hội nghị sửa đôi cạnh tranh không lành mạnh luôn được ghi nhận tại điêu

Vậy cạnh tranh không lành mạnh là gi?

's Công ước Paris về bảo hộ sở hồu công nghiệp, cạnh

tranh không lành mạnh được định nghĩa là: "Bất cứ hành động nào trái với tập quán

trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh " Lư ỌSữf

C-/IO

Tại khoán 4 Điêu 3 Luật Cạnh tranh 2004 hành vi cạnh tranh không lành

-mạnh được định nghĩa là "hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình

kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thề gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cua doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng" Định nghĩa này về cơ bản có nhiều

điểm phù họp với định nghĩa trong Công ước Paris 1883 và pháp luật cùa một số nước tiêu biêu thậm chí còn nhấn mạnh đến tính chất của hành vi này để thấy rõ sự khác biệt với hành vi hạn chế cạnh tranh Đó là dưới giác độ của cạnh tranh không lành mạnh, các chù thế tham gia thị trường sử dụng các thủ pháp gian dối, không trung thực, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh nhàm gày thiệt hại hoặc bất lợi cho một hay nhiều chú thể khác có liên quan

Cũng cần lưu ý một lần nồa là đ ố i tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh 2004 gôm các cá nhân, tổ chức kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) và các hiệp hội ngành nghề (Điều 2, Luật Cạnh tranh 2004), tuy nhiên, so với pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở hầu hết các nước, chủ thể cùa hành v i này là cá nhân, tổ chức tham gia thị trường nhàm mục đích cạnh tranh kể cả các cá nhân, tổ chức không

17

Trang 25

tham gia với vai trò như một chủ thể kinh doanh mà vào vai trò "giúp sức", "hỗ trợ" cho người khác thực hiện gây ảnh hường tiêu cực đến môi trường cạnh tranh Tựu chung lại, cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi sử dụng thủ pháp gian dôi, bất chính, không trung thực, gây cản trờ hoốc gây thiệt hại vật chất hay tinh thẩn cho các chù thể khác (đối thù cạnh tranh và người tiêu dùng)

2.2 Đặc điếm của cạnh tranh không lành mạnh

Qua định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ta có thể thảy một vài đốc điểm cơ bàn của hành v i cạnh tranh không lành mạnh nói chung cũng như hành

vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sớ hữu trí tuệ nói riêng như sau:

Thử nhát, chù thê thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ thê

tham gia trên thị trường (có thể là tổ chức, cũng có thể là chủ thể kinh doanh khác hay cá nhân với vai trò giúp sức) Đốc điểm này cho thây phạm vi chủ thê thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế mọi công đoạn cùa quá trình kinh doanh;

Thứ hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những thủ pháp gian dối, bất

chính, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Thủ pháp cạnh tranh không lành mạnh rất đa dạna nhưng về cơ bàn theo cách phân loại cùa Công ước Paris và Điều 130 Luật Sờ hữu trí tuệ 2005, những thủ pháp đốc biệt bị cấm bao gồm hành vi gây nhâm lẫn lừa dối, làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh Căn

cứ đê xác định hành vi nào trái với chuẩn mực gồm: căn cứ theo luật định, tức là nhữna tiêu chuẩn đã được định lượng hóa bang pháp luật một khi hành vi trái với quy định pháp luật đề ra thi sẽ được coi là không lành mạnh Ngoài ra, một căn cứ quan trọng khác để quyết dinh hành vi vi phạm có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh là tập quán trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đã được thừa nhận rộng rãi trong đời sống;

Thứ ba, hành vi này liên quan đến các đối tượng của quyền sờ hữu trí tuệ hoốc

chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (chủ yếu liên quan đến các đối tượng sờ hữu công nghiệp);

Thứ tư, cạnh (ranh không lành mạnh là hành vi cụ thể, đơn phương với mục

đích gáy thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được Điều này cho thấy,

18

Trang 26

hành vi này cỏ mức độ ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường hẹp hơn so với hành v i hạn chế cạnh tranh, thường chỉ tác động lên một số chù thể nhất định chứ không ảnh hường đến một khu vực thị trường rộng

2.3 Nguồn luật điểu chinh hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

2.3.1 Trên phương diện luợt pháp quốc gia

Tất cả các nước có hệ thống kinh tế thị trường đã đặt ra một số hình thức bào vệ chống lại thực tiễn kinh doanh không lành mạnh Tuy nhiên, để làm được điều đó,

họ đã chọn những cách tiếp cợn khác nhau Ví dụ như Hungary thì thông qua Luợt cấm hoạt động kinh doanh không lành mạnh vào năm 1990 trong đó quy định vê cạnh tranh không lành mạnh và luợt chống độc quyền; Luợt cạnh tranh không lành mạnh của Tây Ban Nha năm 1991 gồm một quy định chi tiết về thực tiễn gây hại cho người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh Điển hình hơn, nhiều nước đã thông qua các đạo luợt đặc biệt mà đôi khi được kết hợp với quy định trong đạo luợt chung như Bộ Luợt dân sự điều chỉnh việc bào hộ chống cạnh tranh không lành mạnh như đạo luợt Lanham (Luợt Nhãn hiệu hàng hóa) quy định về nhiều hoạt động nhăm lừa dối cùa Hoa Kỳ Tại Việt Nam, vấn đề này được nhắc đến tại Luợt Cạnh tranh năm 2004 và tiếp đó là Luợt Sờ hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đồi, bổ sung năm 2009)

2.3.2 Trên phương diện luợt pháp quốc tế

Quá trinh tham gia với cộng đông quôc tế vê vân đề sờ hữu trí tuệ nói chung và hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng của nhiều quốc gia được ghi nhớ bời

sự ra đời cùa nhiêu Hiệp ước Công ước quôc tế trong đó, cần phải kể đến:

(Việt Nam tham gia vào 02/7/1976) ;

• Công ước Paris về bào hộ sở hữu công nghiệp: thông qua ngày 20/3/1883, được tổng sửa đổi ngày 28/9/1979;

• Hiệp định TRIPS ký ngày 15 tháng 4 năm 1994

tuệ dịch và phát hành, 2005, trang 132

Trang 27

2.3.3 Vãn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam

Ngoài những Công ước quốc tế cơ bản Việt Nam đã (ham gia như nêu trên, hành v i cạnh tranh không lành mạnh còn được quy định tại các Hiệp dinh song phương mà điển hình là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký vào tháng 7 năm 2000 (có hiệu lực vào tháng 12/2001) Quan trọng không kém, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ còn được đề cập trong các văn bản pháp lý quốc gia mà trước hết là tại Bộ luật dân sự năm 1995 (sởa đổi năm 2005) tiếp đến là tại chương I I I từ Điều 39 đến Điều 48 của Luật Cạnh tranh 2004 (có hiệu lực vào ngày 01/7/2005) và sau đó, khi Luật Sở hữu trí tuệ ra đời năm 2005 (có hiệu lực vào ngày 01/7/2006) thì hành vi này được quy định khá

rò tại Điều 130 và trong phần thứ năm "Bảo vệ quyền sờ hữu trí tuệ" Ngoài ra, trona Bộ Luật hình sự năm 1999 cũng đề cập tới những quy định xở phạt hành vi xàm phạm quyền sỡ hữu công nghiệp (Điều 171), Luật Thương mại năm 2005 cũng điều chỉnh hành vi quàng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 109 hay

đêu đề cập đến một số biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Không những thê hệ thòng văn bàn pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh cũna được cùng cố bời các thông tư và nghị định hướng dẫn kèm theo Cụ thể là:

> Nghị định quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm có: Nghị

định số 54/2000/NĐ-CP cùa Chinh phù ngày 03/10/2000 quỵ định bảo hộ quyền sờ hữu công nghiệp đối với bi mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo

hộ quyên chông cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phù ngày 30 tháng 9 năm 2005 quy định

của Chính phù ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sô điêu của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cùa Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quàn lý nhà nước về sở hữu trí tuệ ;

20

Trang 28

> Thông tư quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh gồm có: Thông tư

01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sô điêu cùa Luật Sở hữu trí tuệ về Sở hữu công nghiệp; Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP về việc hướng đẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đôi với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ do Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiêm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp phối hợp ban hành Việc điều chình các hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn dược trợ giúp bời vãn bụn chuyên ngành khác như Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT ngày 26/5/2003 cùa Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông quy định về quụn lý và sử dụng tài nguyên Internet (liên quan đèn tên miên)

Như vậy có thể nói nguồn luật điều chình hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới quyền sờ hữu trí tuệ đã có sự phát triên cà về chất lượng và sô lượng

so với thời kỳ trước thê hiện ờ số lượng các văn bụn nhiều hơn và mức độ chi tiết,

cụ thè hóa cũng; cao hơn

2.4 Những dạng biểu hiện cơ bàn của cạnh tranh không lành mạnh liên quan đen

quyển sờ hữu trí tuệ

Công ước Paris, cạnh tranh không lành mạnh bao gồm những hành vi sau: (i) mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lần bằng bất kỳ phương tiện nào với cơ sờ hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thù cạnh tranh; (li) những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm làm mất uy tín của cơ

sờ hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thù cạnh tranh; (iii) những chì dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh nhàm lừa dối công chúng vê bàn chất, quy trinh sàn xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích, hoặc số lượng cùa hàng hóa

Nam 2004 dề cập tới 14 hành vi tại Điều 39 bao gồm: chi dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh cùa doanh nghiệp khác, quụng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phàn biệt đối xử

Trang 29

của hiệp hội bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4, Điều 3 của Luật này

Đ ố i với Luật Sờ hữu trí tuệ thi tại khoản Ì, Điều 130, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm gồm: (i) hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn về xuất xể, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; vê điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ; (li) sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

địch vụ; (iii) hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chú sờ hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó; (iv) hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miên bát họp pháp

Từ ba cách phân chia trên ta có thể thấy cách phân theo Luật Sở hữu tri tuệ ngoài việc đã kế thừa phần lớn nội dung trong Công ước Paris, đồng thời còn quy định chi tiết, cụ thể hơn khái niệm chỉ dẫn thương mại và hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại tại khoản 2 và khoản 3 của Điều 130 Tuy nhiên, dường như cà Công ước Paris và Luật Sở hữu trí tuệ đều chưa khái quát đầy đủ danh sách những hành v i mang tính không lành mạnh này bời lẽ xu hướng bào hộ đây đủ các bí mật thương mại hay việc tiếp tục điều chỉnh hoạt động quảng cáo so sánh đang dần trờ thành đối tượng của các quy định pháp lý

Nhìn chung, việc đánh giá hành v i cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc nhiêu vào thực tiễn xử lý, dựa trên quan điểm cùa cơ quan cạnh tranh, mểc độ ảnh hường cùa hành v i cũng như sự cân bang giữa lợi ích của doanh nghiệp và của người tiêu dùng, giữa yêu câu bảo hộ các quyên chính đáng của doanh nghiệp và

Dưới đây, người viết sẽ phân tích một vài hành vi tiêu biểu:

1 4

Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh,

www.vca.gov.vn/Modules/CMS/Upioad/31/2009_8_li/Bai%2520viet%2520Toa%2520dam%252

0ve%2520CTKLM%2520-%2520Mr%2520Phuoc.doc

Trang 30

2.4.1 Hành v i gây ra sự nhầm lẫn

Phạm v i của hành vi gây ra sự nhầm lẫn rất rộng vi nó bao trùm bất kỳ hành vi nào trong hoạt động thương mại liên quan tới nhãn hiệu, dấu hiệu, nhãn mác, khấu hiệu bao bì hình dạng hay màu sắc của sản phẩm hoặc bất kỳ chỉ dẫn dộc đáo nào khác do một doanh nhân sử dợng song về cơ bản, lĩnh vực chính mà sự nhầm lẫn thường xảy ra là chỉ dẫn thương mại

Sự nhầm lẫn có thể được tạo ra bàng nhiều hình thức khác nhau.Việc kiểm tra đối với hình thức nhầm lẫn cơ bản là liệu một nhãn hiệu tương tự có giống với nhãn hiệu được bào hộ tới mức có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa/dịch vợ hay không Các yếu tố thường được xem xét khi

quyêt định sự nhẩm lẫn là mức độ độc đáo cùa nhãn hiệu được bảo hộ, quy mô,

Nhầm lan với chi dan thương mại

Luật Cạnh tranh quy định về hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, còn Luật Sờ hữu trí tuệ quy định về hành vi sử dợng chi dẫn thương mại gây nhầm lẫn Quy định của Điều 40 Luật Cạnh tranh cho thấy: thực chất chi dẫn được đề cập đến trong Điều 39

và Điều 40 Luật Cạnh tranh là chi dẫn thương mại

Một chỉ dẫn thương mại có thể là dâu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chi dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa (khoản 2 Điêu 130, Luật Sờ hữu trí tuệ) Như vậy, chi dẫn thương mại có liên quan chặt chẽ đến các đỏi tượng sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu, tên thương mại chi dẫn địa

lý, kiêu dáng công nghiệp

Sử dợng chỉ dẫn thương mại là việc gắn chì dần thương mại đó lên hàng hóa, bao bi hàng hóa, phương tiện dịch vợ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo dế bán, tàng trữ đế bán nhập khẩu hàng hóa có gắn chi dẫn đó để làm sai lệch nhận thức cùa khách hàng về hàng hóa, dịch vợ nhàm mợc

hữu trí tuệ dịch và phát hành, 2005, trang 138

www.toaan.gov.vn/images/ebb/ebb_data/attach_file/Tai%25201ieu%2520canh%2520tranh.doc

23

Trang 31

đích cạnh tranh Hành vi này có thể gây ra sự nguy hại rất lớn không chỉ đối với các chủ thể kinh doanh khác mà còn đối với bản thân người tiêu dùng, đặc biệt là khi mức độ cao nhất của chỉ dẫn gây nhầm lẫn là việc sản xuất, phân phối hàng giả, kém chát lưịng nhu mặt hàng thực phẩm, dưịc phẩm thì hậu quả thật khó lường Mặc dù vậy, việc quy két một hàng hóa, dịch vụ có chì dẫn gây nhầm lẫn chỉ xảy ra khi hành vi ày xâm phạm vào lọi ích liên quan đến sản phẩm cụ thể đã đăng ký báo

Chi dẫn gãy nhầm lẫn khác với hàng giả mạo về sờ hữu trí tuệ Tại Điều 213, Luật Sờ hữu trí tuệ 2005 đã đưa ra định nghĩa hàng giả mạo về sờ hữu tri tuệ Cụ thê là hàng hóa giả mạo về sờ hữu trí tuệ bao gồm hàng hóa già mạo nhãn hiệu và già mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu) và hàng hóa sao

chép lậu Theo đó, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu "là hàng hóa, bao bì của hàng hóa

có gân nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chi dẫn địa lý đang được bào hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép cùa chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quan lý chi dẫn địa lý" (khoản 2, Điều 213) Còn

quyên tác già hoặc quyển liên quan" (khoán 3, Điều 213)

2.4.2 Hành v i lừa dối

Lừa dối có thể đưịc định nghĩa là việc tạo ra một ấn tưịng sai trái về sàn phẩm hoặc dịch vụ thuộc sờ hữu của đối thù cạnh Khái niệm lừa dối bị giới hạn không chi đối với những tuyên bố sai trái mang tinh cố ý m à cả với những tuyên bố thực chất gây nên ấn tưịng sai cho người tiêu dùng Ở đây, cũng cần phàn biệt sự cường điệu với lừa dối Một sự cường điệu rõ ràng (thậm chí nếu không chính xác theo đúng nghĩa đen) không bị coi là lừa dối nếu chúng có thể dễ dàng đưịc công nhận như "lời chào hàng" m à không gây ra hậu quả trong việc lựa chọn sai hàng hóa, dịch vụ

Những tuyên bố lừa dối có thể dưịc thực hiện trên tất cả các khia cạnh liên quan đến vấn đề thương mại, trong đó hành vi này hay xảy ra trong những quàng cáo lừa dối hoặc chỉ dẫn, tên gọi như lừa dối về tính chất, quy trình sản xuất đặc

"Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2009 trang 139

Trang 32

điểm khả năng thích hợp cho mục đích hoặc số lượng hàng hóa (khoản 3 Điều 10Công ước Paris)

2.4.3 Hành v i làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh thông qua những tuyên

bố sai trái

Việc làm mất uy tín thường được định nghĩa là hành động gây hại đối thù cạnh tranh bằng bất kọ tuyên bố già tạo nào về đối thủ cạnh tranh m à chắc chắn sẽ gây tổn hại tới uy tín thương mại của họ Cũng như lừa dối, việc làm mất uy tín được đưa ra nhằm cám đỗ người tiêu dùng bằng những thông tin không chính xác Tuy nhiên, khác với lừa dối hành v i này không được thực hiện bởi những tuyên bô sai trái hoặc lừa dối về hàng hóa dịch vụ của người khác mà băng việc bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của đối thù cạnh tranh, hàng hóa hay dịch vụ cùa họ

Công ước Paris yêu câu các nước thành viên phải ngăn câm

tất cà "những tuyên bo sai trái trong hoạt động thương mại nhằm làm mát uy tín cơ

sớ, hàng hóa, các hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của một đối thủ cạnh tranh" bời nhìn chung việc làm mất uy tín là không thể phù hợp với khái niệm "lành

mạnh" trong cạnh tranh Quy định này cho thấy đối tượng của việc công kích là các

cơ sờ, hàna hóa và hoạt động công nghiệp hoặc thương mại Việc gây thiệt hại tới danh tiếng của đối thủ cạnh tranh có thể được thực hiện bàng tất cả các hình thức

ám chì đèn doanh nghiệp đó như đánh giá nhân viên, mức độ tín nhiệm hay vị thế

Khái niệm này nhìn chung tương đối giống với khái niệm gièm pha doanh nghiệp khác mà Điều 43, Luật Cạnh tranh 2004 đã đưa ra bời theo quy định của

Luật Cạnh tranh 2004 "cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành

vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xẩu đến uy tín, tinh trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó" V i

vậy, bàn chất của hành vi làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh và gièm pha là nhăm hướng tới một hoặc nhiều đối thủ cạnh tranh cụ thể, thông qua bất kọ cách

hữu trí tuệ dịch và phát hành, 2005

25

Trang 33

thức nào để thực hiện thủ đoạn bôi nhọ, lăng mạ, hạ thấp uy tín kinh doanh của doanh nghiệp khác

2.4.4 V i phạm bí mật kinh (loanh

Tại khoản 23 Điều 4 Luật Sờ hữu trí tuệ 2005, bí mật kinh doanh được định

và có kha năng sứ dụng trong kinh doanh" Những thông tin được coi là bí mật

thương mại nếu đáp ứng các điều kiện: (i) không phái là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (li) khi được sử dặng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nam giữ hoặc không sử dặng

bi mặt kinh doanh; (iii) được chù sờ hữu báo mật bằng các biện pháp cân thiết đê bí mặt kinh doanh đó không được bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được (Diêu 84 Luật Sờ hữu trí tuệ 2005)

Có thể nhận diện những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh theo quy định tại Điều 41 Luật Cạnh tranh 2004, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bị cấm bao gồm: (i) tiếp cận, thu thập thông tin bí mật kinh doanh bàng cách chống lại các biện pháp bào mật cùa người sờ hữu; (li) bộc lộ, sử dặng thòng tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sờ hữu; (iii) lừa gạt, lợi dặng lòng tin của người có nghĩa vặ bào mật; (iv) tiếp cận thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh cua người khác khi người này thực hiện các giao dịch hành chính

Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh không được liệt kê trong các hành v i cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, quy định tại Điêu 41 về các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật Cạnh tranh lại tương tự với (thậm chí giống như) quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh tại Điều 127 Luật Sớ hữu trí tuệ Bèn cạnh bốn hành v i được quy định trong Luật Cạnh tranh, Luật Sờ hữu trí tuệ quy định thêm hai hành vi tại diêm đ, e, khoăn Ì Điều 127

2.4.5 Hành v i cạnh tranh không lành mạnh Hèn quan đến tên miền

Được coi là một trong những nguồn tài nguyên [nternet quý giá, từ lâu, người ta

đã sử dặng tên miền để định danh các địa chỉ của máy tính ở mọi nơi, mọi khu vực trên toàn cầu Đ ố i với các doanh nghiệp, sử dặng tên miền chính là một trong những

26

Trang 34

còng cụ giúp họ quảng bá, phát triển thương hiệu cùa mình một cách tiết kiệm và nhanh chóng

Tên miền được đăng ký theo nguyên tắc duy nhất và theo nguyên tắc ai nộp đơn đăng ký trước thì được cấp trước Do vậy, muốn sờ hữu tên miền,doanh nghiệp phải đăng ký tên miền định sử dụng đó với cơ quan quản lý tên miên

Tuy tên miền không phại là một đối tượng sở hữu trí tuệ nhưng thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp đăng ký sử dụng tên miền trùng với tên thương mại, nhãn hiệu được bảo hộ m à họ là chù sở hữu, hoặc trùng với chỉ dẫn địa lý m à họ có

dụng tên miền theo quy định tại điểm d, khoản Ì Điều 130 Luật Sờ hữu trí tuệ, cụ

thè là hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sứ dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc

tương tự gây nhầm lan với nhãn hiệu, tên thương mại được bào hộ của người khác

miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chi dẫn địa lý thì đều bị coi là thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh

liên quan đèn quyên sở hữu trí tuệ

2.4.6 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác

Naoài những hành vi cụ thế được coi là cạnh tranh không lành mạnh nêu ở trên, nhiêu hành vi và thông lệ khác có thê được giải quyết trong luật cạnh tranh không lành mạnh ờ một nước nhưng tại nước khác lại không được điều chinh Trong nội dung dưới đây, hành vi quảng cáo nhăm cạnh tranh không lành mạnh sẽ được phân tích cụ thế đế thấy rõ sự cần thiết cùa quy định về hành vi quảng cáo trong pháp luật

sờ hữu trí tuệ

Quảng cáo được coi là một trong những phương tiện cạnh tranh cơ bàn nhất hiện nay bời lẽ, ngoài mục đích nhầm giới thiệu đến khách hàng hình ảnh cạa doanh nghiệp, chát lượng cạa hàng hóa, dịch vụ thì đây cũng là phương tiện có tác động và ảnh hường rất lớn tới tâm lý và định hướng lựa chọn hàng hóa hay dịch vụ cạa người tiêu dùng Mặc dù vậy, lợi dụng hình thức này, nhiều doanh nghiệp đã không ngân ngại đưa những thông tin không trung thực, không chính xác về sản phẩm, so sánh với hàng hóa/dịch vụ cùa doanh nghiêp khác nhằm lôi kéo khách hàng

27

Trang 35

Luật Thương mại Việt Nam 2005 đã quy định những hành vi quảng cáo thương mại bị câm, trong đó bao gồm: (i) quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp trực tiếp hoạt động sàn xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của minh với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác; (ii) quáng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lường, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ, hàng hóa, chùng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ; (iii) quảng cáo cho hoạt động kinh doanh của minh bằng cách sử dụng sàn phẩm quảng cáo vi phạm quyền Sờ hữu trí tuệ, sử dụng hình ảnh của tổ chức, cá nhân khác để quảng cáo khi chưa tổ chức, cá nhân đó đồng ý (khoản 6, 7, 8 Điều

Đ ố i với những quàng cáo so sánh dễ gây hiểu sai hoặc làm mất uy tín hơn các dạna quãng cáo khác, các quốc gia trong đó có Việt Nam đều cấm Cụ thế, tại Điêu

45 Luật Cạnh tranh 2004 quy định các hành vi quảng cáo bị cấm gồm: (i) so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ cùa minh với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; (li) bắt chước một sản phẩm quàng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàna: (iii) đưa thông tin aian dối hoặc gây nhàm lẫn cho khách hàng vê giá,

số lường, chất lường, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất hoặc các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác Rõ ràng, hành vi quảng cáo so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi "lùa dôi" và hành vi "gây nhàm lẫn" bời thông thường, trong lĩnh vực thương mại, hành v i lừa dối và gây nhầm lẫn đều đườc truyền đạt qua quàng cáo Cũng cần nói thêm là việc so sánh sẽ không thể không thực hiện đườc nếu không có sự dẫn chiêu tới một nhãn hiệu đế đề cập tới một sàn phẩm, dịch vụ hay công việc kinh doanh cụ thể Bời vậy, nhìn chung, trước nguy cơ tiêm tàng của quàng cáo so sánh, pháp luật các nước, ví dụ như Chỉ thị cùa Cộng đông Châu  u năm 1997 về Quảng cáo so sánh đều không cho phép việc so sánh gây hiếu sai, có nguy cơ nhẩm lẫn, làm mất uy tín hay bôi nhọ đối thù cạnh tranh và sản phàm của họ, qua đó, mang lại lời thế bất chính cho danh tiếng của một nhãn hiệu, tên thương mại hay các nhãn hiệu phân biệt khác của một đối thù cạnh tranh Nói tóm lại, những quảng cáo với mục đích cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là quàng cáo không trung thực, sử dụng sản phẩm v i phạm quyền sờ hữu trí tuệ khi chưa đườc tổ chức, cá nhân đó cho phép gồm: quàng

28

Trang 36

cáo hàng hóa của mình trên cơ sở bắt chước, lạm đụng uy tín của một sàn phàm khác cùng loại, sử dụng sản phẩm quảng cáo hoặc thông tin có thể gây nhẩm lân lừa dối khách hàng để dụ dỗ khách hàng (quảng cáo không trung thực)

li M ố i quan hệ giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

1 Mối quan hệ giũa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh

Ra đệi trước pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện từ khi cơ chế thị trưệng mới hình thành với các hoạt động sơ khai với những hành vi vượt ngoài khuôn khố cân điều chỉnh Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh sau này được ban hành khi thị trưệng đã phát triển và tập trung hóa đến một mức độ nhất định nào đó đế có thế phát sinh những quyên lực chiếm lĩnh thị trưệng Tuy nhiên, điều chỉnh hạn chế cạnh tranh lại được xem là nền tàng cùa pháp luật cạnh tranh, vì đó là bảo vệ toàn bộ cơ chê cạnh tranh Nêu cạnh tranh bị thù tiêu, toàn bộ các hoạt động cạnh tranh trên thị trưệng, dù là lành mạnh hay không lành mạnh, sẽ không còn nữa"

Dù có sự phân chia thành hai lĩnh vực pháp luật thì cả pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chông hạn chế cạnh tranh đều hướng tới mục đích bảo vệ cơ chế cạnh tranh, bảo vệ môi trưệng cạnh tranh và qua đó, bào v ệ lợi ích cùa ngưệi tiêu dùng xã hội Hai bộ phận pháp luật trên đây bổ sung cho nhau, tạo thành khuôn khô pháp luật chung điêu chỉnh cạnh tranh trong nền kinh tế thị trưệng Thiêu một trong hai bộ phận cơ cấu thị trưệng cũng nhu tuông quan lợi ích của các chủ thể hoạt động trên đó sẽ không thể được bào vệ một cách đầy đủ và toàn diện

2 Phân biệt hành vì hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Đối tượng sở hữu trí tuệ là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại nên các đối thủ cạnh tranh có thể nghĩ đến việc xàm hại các đối tượng sệ hữu

19

Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh, trang 20,

www.vca.gov.vn/Modules/CMS/Upioad/31/2009_8_l l/Bai%2520viet%2520Toa%2520dam%252 0ve%2520CTK.LM%2520-%2520Mr%2520Phuoc.doc

29

Trang 37

công nghiệp bằng cách thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh để thu lợi bất chính trong kinh doanh Bòn cạnh đó, chủ thể quyền sờ hữu trí tuệ được trao độc

tổn hại cho người tiêu dùng

Vì vậy, khi phân biệt hai hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sớ hữu trí tuệ này, trước tiên, dễ nhận thấy là giữa chúng có vài điểm giống nhau

Thứ nhất, chúng đều là những hành vi xâm hại môi trường cạnh tranh lành

mạnh cõng bằna có thể gây thiệt hại hoặc có thể gầy thiệt hại cho các doanh nghiệp khác và cho người tiêu dùng; do đó đều chịu sự điều chỉnh cùa pháp luật liên quan, đặc biệt là pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về Sớ hữu trí tuệ

Thứ hai, chù thể tiến hành hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế

cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ là các doanh nghiệp tham gia hoạt độna kinh doanh trẽn thị trường Ở đây, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo

nhuận một cách thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Trên một phạm vi rộng hơn, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh còn có thể

áp dụng đối với hành vi của các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tô chức (hiệp hội)

và các cá nhàn hành nghề tự do (bác sỹ luật sư, kiến trúc sư )

Ngoài ra khi đề cập đến điểm chung giữa hai hành vi này, ta không thế không nhắc tới mối liên quan của chúng tới đôi tượng sờ hữu trí tuệ hoặc chuyến giao

Tuy nhiên, nếu ta hình dung hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sớ hữu trí tuệ là những hành vi cản trớ cạnh tranh, làm cạnh tranh vận hành dưới mức bình thường, dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh, thì cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyên sớ hữu trí tuệ là những hành vi đẩy cạnh tranh lên quá mức, khiến nó vận hành quá nóng, vượt khói các giới hạn vê thói quen và đạo đức kinh doanh Bời vậy, khi xem xét moi quan hệ của hai hành vi này, ta có thể thấy một số khác biệt cơ bản bát nguồn từ sự khác nhau giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh nói chung Cụ thể như sau:

• về bủn chất tác động của các hành vi: hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến

quyền sờ hữu trí tuệ có tác động và ảnh hướng tới nhiều doanh nghiệp sản xuất

30

Trang 38

kinh doanh ở trên cùng thị trường Tác động tiêu cực này có thể thấy rõ nhất qua hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Còn đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ, trong phạm vi của hợp dông, hành vi này thường

áp đữt đôi với bên nhận chuyển giao và bên thứ ba có liên quan, đẩy các bên vào

vị trí thụ động, bát lợi Tuy nhiên, trong phạm vi cùa môi trường chuyến giao còng nghệ, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ lại gày ra hậu quả không nhỏ trong việc hạn chế quá trình phổ biến khoa học kỹ thuật (phát minh sáng chế ), đồng thời kìm hãm sự khai thác thành quả cùa sở hữu trí tuệ Ngược lại, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền

sở hữu tri tuệ thông thường chi liên quan và nhắm cụ thể tới một hoữc một nhóm doanh nghiệp cụ thế như sứ dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được đăng

ký bào hộ cùa đối thù cạnh tranh

• về mức độ gãy thiệt hại: so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đến quyền sờ hữu tri tuệ hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyên sở hữu tri tuệ có khả năng gây thiệt hại cho thị trường cao hơn nhiều do chúng không chi đơn giản là xâm hại đến lợi ích chính đáng cùa doanh nghiệp khác m à qua đó

doanh nghiệp Trong chừng mực nào đó, nhiều hành vi lạm dụng còn có khả năng củng cố hình thành các thế lực độc quyền có khả năng làm lũng đoạn thị trường, chèn ép khách hàng và làm thay đổi nghiêm trọng cán cân cung cầu Như vậy trong chương ì, người viết đã chỉ ra vấn đề lý luận về hai hành v i cạnh tranh liên quan đến quyền sờ hữu trí tuệ chù yếu là quy định trong pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các quy định về hành v i cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu tri tuệ trong hai đạo luật này cần phải được hiểu theo nghĩa bô sung, hỗ trợ, tương tác lẫn nhau bởi biếu hiện của hành vi cạnh tranh này được quy định trong pháp luật cạnh tranh nhưng chưa chắc đã được đề cập trong pháp luật sở hữu trí tuệ và ngược lại; qua đó, bắt kịp sự thay đổi của thực tiễn phát triển kinh tế cũng như sự đa dạng, phong phú của hoạt động kinh doanh

31

Trang 39

C H Ư Ơ N G li : T H Ụ C TRẠNG H À N H VI HẠN C H É CẠNH TRANH V À CẠNH TRANH K H Ô N G L À N H MẠNH T R Ê N

THẺ GIỚI V À TẠI VIỆT NAM

1 Thực trạng về hành v i hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

/ Một số vụ việc điên hình trên the giới

Với những nước phát triển, nơi hệ thống pháp luật đã phát huy rất hiệu quá trong việc điều tiết hoạt động của các chủ thể tham gia, thực tiễn về hành v i cạnh tranh nói chung cũng như hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được phàn ánh nhiều qua các án lệ bời phân lớn các nước này, trong đó có E U

và Hoa KỲ đều thỳa nhận án lệ như một nguồn của pháp luật ngoài các văn bàn quy phạm pháp luật Vì vậy, nghiên cứu một vài án lệ liên quan đến hành v i hạn chế cạnh tranh tại EU và Hoa Kỳ là cơ sở quan trọng để một nước đang phát triển như Việt Nam tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm trong quá trinh lập pháp cũng như hành pháp

l.l.TạiEU

1.1.1. An lệ liên quan đến hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường

Tại EU, hành v i hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có thể thấv rõ nhát qua các án lệ liên quan đến BBCGQSD đối với quyền sỡ hữu trí tuệ khi chù thê quyên sở hữu trí tuệ vi phạm pháp luật cạnh tranh vì một trong những biện pháp kiêm soát hành v i hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là BBCGQSD đối với quyền sớ hữu trí tuệ Á n lệ Magill chính là vụ án đầu tiên Tòa

Vì vậy, dưới đây, người viết sẽ phân tích rõ hơn về án lệ này

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=349:bbc gqsdvqshttvplct&catid=I03:ctc20061&ltemid=l09 (ngày đăng: 12/12/2008)

Trang 40

• Tên đầy đủ của vụ việc: Radio Teleíìs Eireann (RTE) and Independent

Television Publications Ltd (ITP) V Commission o f the European Communities

(Joined cases C-241/91 p and C-242/91 p - hai vụ việc m ã hiệu C-241/91 p và C-242/91 p cùng kết hợp giải quyết);

European Communities) ;

• Thòi gian đưa ra phán quyết: ngày 06 tháng 4 năm 1995;

• T ó m tắt vụ việc: Vụ việc liên quan đến cạnh tranh, cụ thế là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trẽn thị trường

Trong án lệ này Radio Teleíĩs Eireann (RTE), một công ty có trụ sở tại Dublin

và Independent Television Puhlications Ltd (ITP), một công ty có trụ sờ đăng ký tại London đã kháng cáo lên Tòa án Tư pháp Châu  u hai quyết định của Tòa án Sơ

thâm Châu Ẩ u đưa ra vào ngày 10 tháng 7 năm 1991 trong vụ T-68/89 RTE V Commission và vụ T-76/89 ITP V Commission RTE và I T V là các đài truyền hình

RTE tự mình còn I T V thòng qua ITP xuất bán danh sách các chương trình phát sóng hàna tuân của mình Dựa trên chương trình phát sóng đó, các báo tạp chí chậ được phép đăna chương trinh phát sóng cùa RTE và I T V hàng ngày hay chương trình phát sóna trong hai ngày nếu ngày tiếp theo là ngày lễ, cũng như chậ có thể đăng các chương trình nôi bật trong tuần Magill, một công ty T N H H về truyền hình (Magill T V Guide Ltd) muốn xuất bản một danh sách đầy đủ tổng hợp các chương trinh phát sóng hàng tuân của các đài truyền hình nhưng bị RTE, ITP ngăn cản vì việc xuât bản như vậy vi phạm quyền tác giả đối với danh sách các chương trình phát sóng hàng tuần riêng lẽ m à RTE, ITP đã xuất bản Magill cho ràng việc không cho phép Magill xuất bản một danh sách tổng hợp trên cơ sở các danh sách các chương trình phát sóng riêng lè như vậy là hành vi lạm dụng vị thế độc quyền cùa RTE, ITP, vi phạm Điều 86 Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu  u (TEC) nên

đã khiếu nại lên úy ban Châu  u vào ngày 04 tháng 4 năm 1986

Hệ thống tòa án của cộng đồng chung châu Âu bao gồm tòa án Sơ thẩm Chầu Âu (Court of First Instance -CFI) và tòa án Tư pháp Châu Âu (EO) Phán quyết cùa CFI có thể bị kháng cáo lên ECJ

"Magill, đoạn 9-10, http://www.bailii.org/eu/cases/EUECJ/1995/C24191.html

Ngày đăng: 11/03/2014, 20:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w