Tìm hiểu chuỗi giá trị toàn cầu (Global, Valuf, Chain) và khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam
Trang 2T R Ư Ờ N G ĐẠI H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TÉ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐÓI NGOẠI
SO ta ca
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
(GLOBAL VALUE CHAIN) VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ CỦA VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện Lớp
Khóa Giáo viên hướng dẫn
Lã Thị Thanh Huyền Anh 4
45A PGS.TS.
TWtf VỉKM
Hà Nội - 05/2010
LU orư^
' ĩũ\o ị
Trang 31.2 Phương pháp phân tích của Michael Porter 4
1.3 Phương pháp tiếp cận toàn cầu 6
2 Chuỗi giá trị toàn cầu 7
2.1 Khái niệm về giá trị toàn cầu 7
2.2 Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu 9
2.1.1 Chuỗi giá trị do nhà sản xuất chi phối (producer - driven value
chain) lo
2.1.2 Chuỗi giá trị do người mua chi phối (buyer - driven value chain)10
2.2 Hình thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu 11
3 Các nhân tổ ảnh hưởng tới chuỗi giá trị toàn cẩu 12
4 Lợi ích của việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 14
4 Ì Nâng cao tính chuyên môn trong từng công đoạn sản xuất 14
4.2 Tăng hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp 15
4.3 Tăng thu nhập cho các chủ thể trong chuỗi 16
5 Tầm quan trọng của việc phân tích chuỗi giá trị 77
17
Trang 45.2 Phân tích chuỗi giá trị giúp các quốc gia xác định được cách thức hội
nhập vào thị trường quốc tế và kết nối với nền kinh tế toàn cầu 18
li C ơ sử lý luận về ngành công nghiệp phụ t r ợ 18
1 Khái niệm về ngành công nghiệp phụ trợ / 8
2 Đặc diêm của ngành công nghiệp phụ trợ 22
2.1 Công nghiệp phụ trợ là ngành phức tạp và rộng lớn 22
2.2 Công nghiệp phụ trợ - góp phần tạo nên "chuỗi giá trị" 22
2.3 Công nghiệp phụ trợ không bao hàm ý nghĩa "không phải là ngành
công nghiệp chính" 23
2.4 Sự phát triồn của công nghiệp phụ trợ là tất yếu của quá trình phân
công lao động 23
3 Các yếu tố ảnh hường đến công nghiệp phụ trợ 23
3 Ì Thị trường của khu vực hạ nguồn 24
3.2 Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ 24
3.3 Nguồn lực tài chính 25
3.5 Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn
xuyên quốc gia 26
3.6 Cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triồn công nghiệp phụ
trợ 27
4.1 Công nghiệp phụ trợ là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và
nâng cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm của khu vực hạ
nguồn 27 4.2 Ngành CNPT phát huy ảnh hưởng của tác động "lan toa" trong phát
triồn hệ thống công nghiệp 28
4.3 M ở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triồn
công nghiệp 28
Trang 54.4 Ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những yếu tố quan trọng tạo
nên lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp, góp phần đẩy mạnh thực
hiện chiến lược hướng về xuất khẩu 29
C H Ư Ơ N G l i : T H Ự C T R Ạ N G N G À N H C Ô N G NGHIỆP P H Ụ T R Ợ V I Ệ T
N A M V À K H Ả N Ă N G T H A M GIA C Ủ A N G À N H C Ô N G N G H I Ệ P P H Ụ
T R Ợ T R O N G C H U Ỗ I G I Á TRỊ T O À N C Ầ U 30
ì Sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam 30
ỉ Sự hình thành ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam 30
2 Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam 32
2.1 Năng lực sản xuất của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam 33
2.2 Sản phẩm công nghiệp phụ trợ Việt Nam 36
2.3 Các doanh nghiệp phụ trợ ở Việt Nam 39
2.3.1 Doanh nghiệp nhà nước 39
2.3.2 Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam 39
2.3.3 Các doanh nghiệp FDI 40
2.4 M ố i quan hệ giữa doanh nghiệp lờp ráp và ngành công nghiệp phụ trợ41
3 Sự cần thiết tì-ong việc nghiên cứu khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam 43
3.1 Công nghiệp phụ trợ có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân 43
3.2 Phát triển công nghiệp phụ trợ tác động tích cực đến phân công lao
động trong nước, giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống 43
3.3 Tăng dần kim ngạch xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu 44
3.4 Phát triển chuỗi giá trị toàn cầu ngành công nghiệp phụ trợ là giải pháp
phát triển bền vững đối ngành công nghiệp Việt Nam 45
li Khầ năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của một số sần phẩm trong
ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam 45
1 Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp phụ
trợ dệt may 45
1.1 Những kết quả đã đạt đựơc 45
1.2 Thực trạng một số ngành phụ trợ dệt may cụ thể 47
Trang 61.2.1 Ngành sản xuất bông 48
Ì 2.2 Trồng dâu - tơ tằm, kéo sợi 49
1.2.3 Ngành dệt, nhuộm và hoàn tất vải 49
Ì 2.4 Ngành phụ kiện may 51
1.3 Phân tích khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành
CNPT dệt may Việt Nam 53
2 Đánh giá khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ điện tử vào
chuỗi giá trị toàn cầu So
2.1 Đánh giá chung 56
2.2 Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp
phụ trợ điện tử Việt Nam 62
3 Đánh giá khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ xe máy vào
chuỗi giá trị toàn cẩu 63
3.1 Đánh giá chung của ngành công nghiệp phụ trợ xe máy của Việt Nam
63 3.2 Quy m ô ngành sản xuất - lắp ráp xe máy 64
3.3 Tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp sản xuất - lắp ráp xe máy 65
3.4 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng xe
máy 67 3.5 Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành CNPT xe máy
4 Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp phụ
trợ ngành sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam 71
4.1 Khái quát chung 71
4.3 Loại hình phụ trợ 72
4.4 Trình độ công nghệ 73
4.5 Chất lượng và giá thành của các sản phẩm phụ trợ nội địa 73
4.6 Tiến trình "nội địa hoa" 74
4.7 Đánh giá khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công
nghiệp phụ trợ ô tô của Việt Nam 76
Trang 7C H Ư Ơ N G III: M Ộ T S Ớ GIẢI P H Á P V À K H U Y Ể N NGHỊ N H Ằ M T Ă N G
K H Ả N Ă N G T H A M GIA V À O C H U Ỗ I G I Á TRỊ T O À N C À U C Ủ A N G À N H
CNPT V I Ệ T N A M 77
ì Đánh giá những hạn chế của khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
của ngành công nghiệp phừ trợ việt nam và những nguyên nhân 77
/ Những hạn chế của khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành
công nghiệp phụ trợ Việt Nam 77
Sở dĩ khá năng tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp
phụ trợ Việt Nam thấp như vậy bời ngành công nghiệp phụ trợ trong nước còn
rát nhiều hạn chế Các hạn chế cụ thể như sau: 77
l i Bài học kinh nghiệm từ thành công của Thái Lan & Malaỵxia trong việc
phát triển ngành công nghiệp phừ trợ 80
1 Kinh nghiệm của Thải Lan trong phát triển công nghiệp phụ trợ 80
2 Kinh nghiệm của Malaixia trong phát triển công nghiệp phụ trợ 81
HI Định hướng phát triển ngành công nghiệp phừ trợ Việt Nam 82
IV Giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng khả năng tham gia vào chuỗi giá
trị toàn cầu của ngành CNPT Việt Nam 84
/ Giải pháp 84
1.1 Các giải pháp từ phía Nhà nước 84
1.1.1 Giải pháp nâng cao các yếu tố đầu vào 84
1.1.2 Thúc đẩy các chiến lược, cơ cấu, môi trường cạnh tranh lành mạnh
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẤT
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương
H Đ H
T N H H
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 S ự cần thiết nghiên c ứ u đề tài
Các học giả thế giới cho rằng chu trình sáng tạo ra giá trị tăng thêm của một ngành công nghiệp được chia thành ba khu vực Đ ó là: khu vực thượng nguồn, khu vực trung nguồn và khu vực hạ nguồn
Giá trị gia tăng thêm tạo ra ờ 2 khu vực thượng nguồn & hạ nguồn là rất cao còn khu vực trung nguồn là tương đẩi thấp Trong điều kiện hội nhập hiện nay, mỗi sản phẩm được tạo ra đều bao gồm một xâu chuỗi mắt xích nhiều giá trị kết nẩi thể vượt ra ngoài biên giới một quẩc gia - lãnh thổ Quá trình này tạo nên chuỗi các khâu được chuyên môn hoa mang tính hai mặt, vừa độc lập, vừa phụ thuộc lẫn nhau trong sản xuất và tiêu dùng một sản phẩm hàng hoa, bao gồm: Khâu nghiên cứu, triển khai, thiết kế; Khâu sàn xuất chế tạo, gia công, lắp ráp ; Khâu Phân phẩi, tiếp thị
Khi các D N Việt Nam tiến sâu vào hội nhập quẩc tế, cùng với tiến trình hội nhập của đất nước thì việc doanh nghiệp xác định họ đang ở bậc thang nào trong chuỗi giá trị m à họ sẽ tham gia là rất quan trọng, không chỉ đẩi với các D N Việt Nam, m à còn đẩi với nền kinh tế Việt Nam
Thế nhưng dưới góc độ tiếp cận về khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thì hàng hoa xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế Việt Nam hiện nay có chừng gần 30 ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến CNPT, trong đó có nhiều ngành sản xuất hàng XK Tuy vậy CNPT của ta mới ở giai đoạn "thường thường bậc trung", được gắn với quá trình nội địa hoa Việt Nam chì là người lắp ráp, gia công thuần tuy, hường tiền công rẻ mạt, còn chuỗi giá trị gia tăng tạo được lại vào các nhà đầu tư nước ngoài
Từ nhận thức được vấn đề của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong
chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay là lý do tôi lựa chọn đề tài: Tim hiểu chuỗi giá trị
toàn cầu (global value chain) và khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam để làm khóa luận tẩt nghiệp của mình
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm tìm hiểu và chuỗi giá trị toàn cầu và thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam để qua đó có thể đánh giá được khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu để qua đó đề xuất các giải pháp để nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam cũng như nhồng khuyến nghị
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu chuỗi giá trị toàn cầu và nghiên cứu thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đe hoàn thành khóa luận, các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu chủ yếu bao gồm: phương pháp thống kê, phân tích và so sánh
5 Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
• Chương Ì: Một số lý luận cơ bản về chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và ngành công nghiệp phụ trợ
• Chương 2: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam và khả năng tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
• Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Hồng, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện nội dung của bài khóa luận này
Một lần nồa xin trân trọng cảm ơn!
Trang 11C H Ư Ơ N G ì
M Ộ T SÒ L Ý LUẬN C ơ BẢN V È CHUỖI GIÁ TRỊ T O À N
C À U V À N G À N H C Ô N G NGHIỆP PHỤ TRỢ
Ị Tìm hiểu về chuỗi giá tri toàn cầu
1 N h ữ n g khái n i ệ m liên quan t ớ i c h u ỗ i giá trị
Chuỗi giá trị là một loạt hoạt động m à doanh nghiệp đã thực hiện nhằm tạo
ra một sản phẩm từ khi ý tưởng sản phẩm được thai nghén cho đến khi sản phẩm đi vào sử dụng Quá trình này bao gờm các khâu như thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và hỗ trợ tới người tiêu dùng cuối cùng Các hoạt động nằm trong một chuỗi giá trị có thể được thực hiện bởi một doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng cũng có thể diễn ra sự phân chia lao động giữa các doanh nghiệp với nhau Các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị m à tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, có thể diễn ra trong một khu vực địa lý duy nhất hoặc trải dài tại nhiều khu vực địa lý khác nhau
Chuỗi giá trị là một khái niệm được đề cập nhiều trong thời gian gần đây bởi
ý nghĩa to lớn đối với các quốc gia trên con đường hội nhập Phân tích chuỗi giá trị cho chúng ta một bức tranh sinh động về việc tạo ra giá trị gia tăng của ngành tham gia vào chuỗi cũng như của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, khái niệm này đã được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu từ lâu nhằm tìm ra con đường, cách thức thương mại hóa sản phẩm của ngành Hiện nay, có ba luờng nghiên cứu chính về chuỗi giá trị:
- Phương pháp Filiere
- Phương pháp phân tích của Michael Porter
- Phương pháp tiếp cận toàn cầu
/./ Phương pháp Filiere
Vào thập niên 60, các học giả Pháp dựa trên nghiên cứu về quá trình tạo ra giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp M ỹ đã phân tích mối liên kết dọc trong sản xuất nông nghiệp tại Pháp và đưa ra khái niệm Filiere Khái niệm này miêu tả dòng
Trang 12vận động của các yếu tố đầu vào vào và đầu ra, các lợi thế kinh tế nhờ qui mô, chi phí giao dịch và vận chuyển và sau đó được áp dụng trong chính sánh nông nghiệp tại các nước thuộc địa của Pháp và được sử dụng để nghiên cứu cách tổ chức hệ thống sặn xuất nông nghiệp trong bối cặnh các nước đang phát triển Trong bối cặnh này khung Filiere chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sặn xuất địa phương được kết nối với công nghệ chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng Nhu vậy, khái niệm chuỗi Filiere được sử dụng để lập sơ đồ dòng vận chuyển của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động Tính hợp lý của chuỗi hoàn toàn giống với khái niệm chuỗi giá trị hiện nay Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng có nhược điếm là chỉ nghiên cứu chuỗi giá trị ở trạng thái tĩnh và phặn ánh mối quan hệ tại một thời điểm nhất định chứ chưa phân tích trong điều kiện chuỗi vận hành, trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho sặn phẩm qua từng khâu, từng công đoạn Chuỗi Filiere mới chỉ dừng ở việc phân tích chuỗi giá trị được tạo ra trong phạm v i một quốc gia chứ chưa mở rộng ra bên ngoài
1.2 Phương pháp phân tích của Mìchael Porter
Theo Micheal Porter, giáo sư của trường đại học Harvard, một chuyên gia về chiến lược cạnh tranh đã cho ràng công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị lớn hơn dành cho khách hàng chính là chuỗi giá trị về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sặn xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sặn phẩm của doanh nghiệp Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị dành cho khách hàng Trong đó, chia ra 5 họat động chủ chốt và 4 hoạt động hỗ trợ
N h ó m hoạt động chính bao gồm dãy năm loại hoạt động (Đậy là nhóm tạo ra
giá trị gia tăng cho sản phẩm) :
Ì - Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh;
2- Vận hành, sặn xuất- kinh doanh;
3- Vận chuyển ra bên ngoài;
4- Marketing và bán hàng;
5- Cung cấp các dịch vụ liên quan
Trang 13N h ó m hỗ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm:Hạ tầng, Quản trị nhân lực, Công nghệ và Mua sắm
Có thể khái quát chuỗi giá trị của doanh nghiệp qua sơ đồ sau:
Hình 1: Chuỗi giá trị của Michael Porter
Theo Michael Porter nếu quản lý tốt chuỗi giá trị, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu, doanh nghiệp có thể tối đa hỏa giá trị, tối thiểu hóa chí phí từ đó tạo ra lợi thế canh tranh cho riêng mình Nói cách khác thông qua chuỗi giá trị
1 http://bearqtkdth 1907 wordpress.com/2008/09/27Aialue-chain-chu%E1 %BB%97i-gia-tr%El
%BB%8B-michael-porter/
Trang 14doanh nghiệp tạo ra sản phẩm dịch vụ với giá trị ưu việt khiến cho khách hàng sẵn sàng trả mức giá cao hơn chi phí thực tế để có được sản phẩm dịch vụ đó
Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng giá trị cỗa một sản phẩm không chỉ do một doanh nghiệp tạo ra Thực tế cho thấy, hiếm có doanh nghiệp nào tự mình đảm nhận tất cả các khâu trong chuỗi giá trị, từ khâu thiết kế cho đến phân phối sản phẩm, thay vào đó họ chỉ đóng góp một phần vào giá trị sàn phẩm thông qua việc thực hiện khâu m à mình có thế mạnh và chuyển giao phần còn lailj cho doanh nghiệp khác Xuất phát từ đó Michael Porter đã phát triển quan điểm chuỗi giá trị vượt qua phạm vi một doanh nghiệp và gọi là hệ thống giá trị ( value system) Hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ, thực hiện bắt đầu từ nguyên liệu thô đến khi phân phôi tới người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn khái niệm chuỗi giá trị và về tính hợp lý thì gần giống với chuỗi giá trị theo phương pháp tiếp cận toàn cầu hiện nay Tuy nhiên, dù là chuỗi giá trị hay hệ thống giá trị, phân tích cỗa Michael Porter cũng chi dừng ở việc đề xuất công cụ giúp quản lý điều hành và hoạch định chiến lược tối đa hóa giá trị gia tăng thu về nhờ tối thiểu hóa chi phí chứ chưa làm sáng tỏ được vị thế cỗa doanh nghiệp trong chuỗi giá trị và mối quan hệ cỗa doanh nghiệp với đối tác trong việc tạo ra giá trị, giá trị gia tăng và lợi nhuận thu về
1.3 Phương pháp tiếp cận toàn cầu
Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, xuất hiện nhiều nghiên cứu
về chuỗi giá trị nhằm tìm hiểu cách thức các doanh nghiệp và các quốc gia hội nhập
và đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu
N ă m 1994 Gereffi và Korzeniewicz đã đưa ra khái niệm chuỗi hàng hóa toàn cầu trong cuốn Commodity Chains and Global Capitalism Đ ó là "mạng lưới tập trung liên kết các tổ chức xung quanh một hàng hóa hoặc sản phẩm, liên kết các
hộ sản xuất, các doanh nghiệp, các nhà nước trong nền kinh tế thế giới" [59, trang2] Hai ông đã lập luận rằng mỗi khâu cụ thể trong chuỗi giá trị được coi là một mắt xích và chúng được liên kết với nhau để hình thành nên các mạng lưới Gereffì đã xác định và chúng được liên kết với nhau để hình thành nên các mạng
Trang 15lưới Gereffí đã xác định ba đặc điểm của chuỗi hàng hóa, đó là : hệ thống đầu vào
- đâu ra ( input - output structure ), phạm v i lãnh thổ ( phân công hoạt động sản xuât và hoạt động phân phôi cho các doanh nghiệp tại các nước khác nhau ) và việc điều hành chuỗi
Trong tác phẩm " Evolving from Value Chain to value Grid, M Í T Sloan Management Review, 2006" Frits K Pil and Matthias Holvveg đã đưa ra một khung phân tích giá trị mới cho phép doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và thu lợi nhuận Hai ông gấi đó là mạng giá trị (value grid) Nếu trong chuỗi giá trị truyền thống các doanh nghiệp chỉ chú trấng đến việc tối đa hóa giá trị gia tăng và lợi nhuận tại khâu m à mình đảm nhiệm thì mạng giá trị với cách tiếp cận đa chiều
sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp vượt khỏi khuôn khổ ngành nghề của mình, tìm kiêm
cơ hội kinh doanh và lợi nhuận mới Cách tạo ra giá trị của mạng rất phong phú và
đa chiều, doanh nghiệp không chỉ tham gia liên kết dấc, liên kết ngang m à thậm chí
cả liên kết chéo Hạn chế của lý thuyết này là chủ yếu phục vụ cho mục đích quản trị, tìm ra kẽ hở thị trường để kinh doanh và thu lợi nhuận tối đa
Gần đây, Raphael Kaplinsky và Mike Morris trong " A handbook for value chàm research" đã định nghĩa " Chuỗi giá trị là toàn bộ quy trình tạo ra giá trị, làm gia tăng giá trị hàng hóa : từ khi còn là ý tưởng thiết kế đến những dịch vu sau bán hàng, thanh lý và tái chế sau khi sử dụng" Trên cơ sở đó, khóa luận sẽ sử dụng thuật ngữ này để tiếp cận và phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
2 C h u ỗ i giá trị toàn cầu
2.1 Khái niệm về giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị toàn cầu ra đời chính là kết quả của xu thế toàn cầu hóa khi m à hàng loạt rào cản đối với các dòng chảy thông tin, ý tưởng, các yếu tố sản xuất (đặc biệt là vốn và lao động), công nghệ và hàng hóa được dỡ bỏ trên phạm v i toàn cầu Toàn cầu hóa tác động đến mấi mặt của cuộc sống như kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội nhưng có lẽ tác động về mặt kinh tế là rõ nét nhất Trong dòng chảy của hội nhập và toàn cầu hóa, các nước, các doanh nghiệp không chì tập trung phát triển sản
Trang 16xuất trong nước m à còn không ngừng tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, đầu tư trên phạm v i toàn cầu
Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng trở nên quan trọng N ó không chỉ giúp các quốc gia tìm ra thế mạnh của mình đặ hội nhập vào nền kinh tế quốc tế một cách chủ động m à còn nâng cao hiệu quả sản xuất, năng lực cạnh tranh của cả hệ thống khi cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại các quốc gia có khả năng đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Tham gia vào chuôi giá trị toàn cầu cũng đồng nghĩa với việc tránh được các rào cản thương mại thông qua hình thức "xuất khẩu tại chỗ" Vậy chuỗi giá trị toàn cầu có thặ được định nghĩa như là sự quốc tế hóa của quá trình sản xuất m à trong đó có một số nước tham gia vào các màng khác nhau đặ sản xuất ra những hàng hóa cụ the
Phân tích về chuỗi giá trị toàn cầu trên cho thấy quá trình sản xuất bao gồm nhiều khâu khác nhau không chỉ là quá trình biến đổi vật chất thông thường m à còn bao gồm các công đoạn tạo giá trị gia tăng khác, đòi hỏi người gia nhập phải có trình độ như : nghiên cứu và phát triặn, marketing và xây dựng thương hiệu Đây mới là nhưng công đoạn tạo ra giá trị tăng cao, rào cản gia nhập cao, do đó giúp doanh nghiệp tránh được cạnh tranh từ bên ngoài và đảm bảo mức tăng doanh thu bền vững Chuỗi giá trị tiếp cận dưới quan điặm này chính là chuỗi giá trị gia tăng của một loạt các hoạt động nhằm đưa một sản phẩm từ ý tưởng cho đến người tiêu dùng cuối cùng Tiếp cận khái niệm chuỗi giá trị theo phương thức toàn cầu hóa trên thực tế cũng có một số học giả nhu Raphael Kaplinsky, Gereffí, Kozeniewicz Vào năm 1994, trong tác phẩm "Comodity Chain và Global Capitalism", Gereffi và Korzeniewicz đã đưa ra khái niệm chuỗi hàng hóa toàn cầu ( Global commodity chain) và được coi như là một bước tiến bởi đây là lần đầu tiên chuỗi giá trị được tiếp cận trên phạm v i toàn cầu
Trong cuốn Handbook for value chain của Raphael Kaplinsky và Mike Morris thỉ chuỗi giá trị toàn cầu được hiặu là: " Một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng"
Trang 172.2 Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu
Theo xu hướng hiện nay thì các công ty thường tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa thông qua hai chuỗi giá trị toàn cầu Một là chuỗi giá trị do người sản xuât chi phối và hai là chuỗi giá trị do người mua chi phối
Bảng 1 Đặc trưng của chuỗi giá trị do người mua và người sản xuất chi
phối Chuối giá trị do người sản xuất chi phối
Chuỗi giá trị do người mua chi phối
tế
Hàng hóa trung gian, hàng hóa tài chính ; Hàng tiêu dùng lâu bền
Hàng tiêu dùng, mau hỏng
Các ngành điển
hình
Ó tô, máy tính, máy bay May mặc, da giầy, đồ chơi
Chủ sở hữu Các công ty xuyên quốc gia Các công ty nội địa ở các
nước đang phát triển Liên kết mạng lưới
Trang 182.1.1 Chuỗi giá trị do nhà sản xuất chi phối (producer - driven value chain)
Các công ty có quy m ô lớn như TNCs, MNCs đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối và điều phối mạng lưới sản xuất (bao gồm
cả việc phát triển thượng nguồn và hạ nguồn) đồng thời họ cũng là những tác nhân kinh tế quan trọng trong việc tìm kiếm lợi nhuận và kiểm soát các liên kết yếu hơn gôm những nhà cung cấp nguyên liệu thô, và liên kết mạnh gồm những hãng phân phối và bán lẫ
Đây chính là các ngành thâm dụng vốn và công nghệ như ô tô, máy bay, máy tính, ngành công nghiệp nặng và sản xuất chất bán dẫn V a i trò chủ đạo trong chuỗi giá trị này thuộc về các công ty đa quốc gia và lợi nhuận thu được chù yếu dựa vào quy m ô sản xuất, doanh số và việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến cùa thế giới để đạt được những giá trị vô hình và những khoản lợi nhuận khống lồ Các công ty hàng đầu trong chuỗi giá trị do người sản xuất chi phối thường là các tập đoàn sản xuất
2.1.2 Chuỗi giá trị do người mua chi phối (buyer - driven value chain)
Các tập đoàn bán lẫ, các hãng sản xuất trực tiếp, gián tiếp là những tác nhân kinh tế quan trọng và điển hình trong chuỗi giá trị do người mua chi phối Những chủ thể này đóng vai trò chủ đạo trong việc thiết lập nên mạng lưới sản xuất phi tập trung ở nhiều nước xuất khẩu đặc biệt ở các nước đang phát triển Do các nước đang phát triển thường theo đuổi chiến lược đẩy mạnh sản xuất hướng về xuất khẩu nên nhiên ngành công nghiệp của những quốc gia này đòi hỏi nhiều lao động đặc biệt là những ngành sàn xuất hàng tiêu dùng công nghiệp như ngành may mặc, da giầy đồ chơi, thủ công mỹ nghệ và điện tử gia dụng Các nhà thầu phụ ở những nước đang và chậm phát triển đảm nhận khâu hoàn thiện sàn phẩm cho những người mua nước ngoài H ọ phải cam kết sản xuất theo thiết kế, yêu cầu kỹ thuật của các hãng bán lẫ, các nhà sản xuất gián tiếp lớn trên thế giới
Các tập đoàn bán lẫ điển hình đang áp dụng m ô hình sản xuất và kinh doanh này phải kể đến như Wal-Mart , Sears, JC Penny ; một số hãng sản xuất giầy thể thao nổi tiếng như Nike và Reebok và các công ty sản xuất hàng may mặc thời trang
Trang 19như Liz Claibome, Gap Các hãng này chủ yếu đảm nhận khâu thiết kế thời trang và tìm kiêm thị trường tiêu thụ m à không ừực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất Vì vậy họ thường được gọi là những nhà sản xuất m à không có nhà máy
Lợi nhuận thu được từ những ngành sản xuất này là do việc kết hợp giữa các khâu gia tăng giá trị như nghiên cứu phát triốn, thiết kế, bán hàng, marketing
và các dịch vụ tài chính Các nhà bán lẻ, hãng sản xuất gián tiếp đóng vai trò như những nhà môi giới chiến lược kết nối nhà sản xuất, thương mại nước ngoài v ớ i thị trường tiêu thụ cuối cùng L ợ i nhuận là mục tiêu lớn nhất trong chuỗi giá trị toàn câu và chúng tạo nên những rào cản vô hình cho những công ty nào mới tham gia thị trường
Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối trái ngược với chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối là do chuỗi giá trị này được đặc trưng bởi cạnh tranh mạnh và hệ thống các nhà máy sản xuất tập trung toàn cầu với rào cản nhập ngành thấp Các công ty có thương hiệu nổi tiếng kiốm soát hệ thống sản xuất trên phạm v i toàn cầu, hơn nữa họ còn tác động đến lợi nhuận là bao nhiêu trong mỗi giai đoạn trong chuỗi giá trị Cũng trong chuỗi giá trị toàn càu do người mua chi phối l ợ i nhuận lại phụ thuộc chủ yếu vào các giá trị gia tăng cao trong nghiên cứu và phát triốn, thiết kế marketing và chiến lược kết nối các nhà sản xuất trên phạm v i toàn cầu và bán các sản phẩm ở thị trường tiêu dùng chính
Dòng chảy giá trị gia tăng toàn cầu theo đó chỉ có thế nhảy một chiều từ các quốc gia nghèo lên các quốc gia giàu chứ không có chiều ngược lại Nếu các nước đang phát triốn như Việt Nam không lựa chọn mục tiêu sống còn là phải vươn lèn cạnh tranh ờ hai phân khúc tạo giá trị gia tăng cao nói trên thì khoảng cách với các nước phát triốn ngày càng xa
2.2 Hình thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
Trong hệ thống sản xuất hàng hóa quốc tế có thố tham gia vào chuỗi bằng các phương thức khác nhau phù hợp với năng lực sản xuất hoặc chiến lược tiếp cận của doanh nghiệp đó là :
- Assembly (gia công lắp ráp thuần túy): Đây là loại hình sản xuất hàng hóa dưới dạng các hợp đồng phụ trong đó các nhà máy sản xuất hàng điện tử nhập khẩu
Trang 20toàn bộ linh kiện để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh Hình thức tham gia này đem lại giá trị gia tăng thấp nên chủ yếu được thực hiện bởi các quốc gia có trình độ phát triển thấp
- OEM (Original equipment manufacturing - sản xuất bồng thiết bị của nước ngoài): Đây cũng là một loại hình sản xuất dưới dạng các họp đồng phụ Theo hình thức này một công ty sẽ nhận các họp đồng của các công ty khác để sản xuất sản phẩm của mình, hoặc nhận phân phối sản phẩm của công ty khác dưới thương hiệu của mình
- ODM (Original design manufacturing - sản xuất theo thiết kế riêng): Là hình thức công ty nhận sản xuất những sản phẩm để phân phối theo thương hiệu của công ty khác Công ty cung cấp thương hiệu không bắt buộc phải tham gia vào quá trình sản xuất Do công ty ODM chịu trách nhiệm thiết kế nên mang lại nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm hơn so với OEM Đ ố i với hình thúc ODM, quyền sở hữu trí tuệ về sản phẩm thiết kế thuộc về nhà sản xuất ODM cho tới khi người mua chọn mua toàn bộ quyền sử dụng những thiết kế này, cho tới khi người mua nắm toàn quyền sử dụng thì nhà sản xuất ODM không tự sản xuất các bộ thiết kế tương tự nếu không được bên mua ủy quyền
- O B M (Original brandname manufacturing - sản xuất theo thương hiệu riêng): Đây là loại hình sản xuất được cải tiến dựa trên hình thức OEM m à ở đó các hãng sàn xuất sẽ tự thiết kế, ký các hợp đồng sản xuất với nhà cung cấp nước ngoài
và tự tiến hành phân phối sản phẩm Là hình thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở mức độ cao nhất
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị toàn cầu
3.1 Yêu tố môi trường, thể chế, chỉnh sách
Chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm nhiều công đoạn, mỗi công đoạn được tiến hành bởi một công ty, một doanh nghiệp hay một quốc gia khác nhau Vì vậy các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn của chuỗi không chỉ nồm trong một nước, một khu vực m à có sự tham gia của các đối tượng ờ nhiều quốc gia hay châu lục
Do đó bất cứ một sự điều chỉnh, thay đổi nào trong thể chế chính sách, từ cấp độ doanh nghiệp tới cấp độ quốc gia đều có những ảnh hưởng quan trọng đến chuỗi giá
Trang 21trị toàn cầu Trong giai đoạn ngày nay, rất nhiều những hiệp định quốc tế, khu vực, song phương, đa phương đã được ký kết tạo nền tảng cho việc mở rộng các hoạt động thương mại quốc tế Sự hình thành và tham gia vào các tổ chức thương mại cũng đang trở thành xu hướng chung của toàn cầu K h i tham gia và các tố chức thương mại, việc tuân thủ thắ chế của các tổ chức này rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sản xuất, từ đó làm thay đổi các mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu Ngoài
ra, trong việc điều chinh môi trường và chính sách, Nhà nước cũng đóng vai trò rất quan trọng Do vậy, mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào chuỗi đều phải thích ứng với các yêu cầu về môi trường, thắ chế, chính sách nhằm đưa được sản phàm đến được khâu tiêu thụ hay đến tay người tiêu dùng cuối cùng
3.2 Yếu tổ khoa học công nghệ và khả năng quản lý
Đây là một trong những nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng tạo ra những thay đổi trong chuỗi giá trị toàn cầu Công nghệ thông tin phát triắn cho phép dòng chảy thông tin thông suốt trên phạm vi toàn thế giới Dòng chảy thông tin là yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích trong chuỗi Từ đó, hoạt động sản xuất trong toàn chuỗi được vận hành liên tục và hiệu quả Ngoài ra,
K H C N phát triắn còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cao Thực tế cho thấy ngày nay đắ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, các quốc gia không thắ chỉ ỳ lại vào lợi thế về tài nguyên có sẵn, nguồn nhân lực rẻ m à cần phải đáp ứng được những yêu càu về công nghệ, chế biến Muốn vậy, các quốc gia là mắt xích trong chuỗi cần phải tập trung nghiên cứu phát triắn dần dần về K H C N đắ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao đồng thời đảm bảo và nâng cao vị trí của mình trong chuỗi
Việc tập trung phát triắn khoa học công nghệ của riêng một công đoạn đó làm tăng giá trị gia tăng ở khâu đó, từ đó làm tăng tổng giá trị sản phẩm Hơn nữa
sự phát triắn của khoa học công nghệ, mạng lưới thông tin làm cho hàng hóa, dịch
vụ được lưu thông một cách xuyên suốt, kịp thời, đàm bảo sự phối họp chặt chẽ đồng bộ giữa các mắt xích trong chuỗi, cơ sở hình thành chuỗi giá trị toàn cầu với liên kết chặt chẽ hơn giữa các nước phát triắn Đây là yếu tố có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu
Trang 223.3 Yếu tố khách hàng quốc tế
Thỏa mãn nhu cầu khách hàng luôn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp cũng như của tất cả các hoạt động trong chuỗi Khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, khách hàng m à doanh nghiệp hướng dẫn là khách hàng quốc tế, những doanh nghiệp có tiềm năng lớn Vì vậy khách hàng quốc tế đóng vai trò quan trẩng, là nhân
tố chi phối toàn bộ các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu Khách hàng chính là trung tâm của quy trình nâng cấp Nhu cầu của khách hàng là động lực để các công
ty sản xuất ra những sản phẩm có độ cá biệt cao hơn, tạo ra một cơ cấu phân công lao động mới và phức tạp hơn Ngày nay, với sụ xuất hiện của những công ty có thương hiệu nổi tiếng, những nhà máy bán lẻ, mạng lưới siêu thị làm cho quá trình phân phối sản phẩm ngày càng được đẩy mạnh
Một sản phẩm có thể được sản xuất tại một nước nhưng lại phục vụ cho khách hàng tại thị trường toàn cầu với văn hóa, thị hiếu, yêu cầu khác hẳn so với nhu cầu nội địa Vì vậy, bất kì chuỗi giá trị nào cũng phải tổ chức và điểu hành theo hướng thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng quốc tế
4 L ẩ i ích của việc t h a m gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Cùng với sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và tính chuyên m ô n hóa trong hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp thì cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết Hiệu quả sản xuất là điều kiện cần thiết trong việc thâm nhập thành công thị trường toàn cầu.Việc tham gia vào thị trường toàn cầu cho phép doanh nghiệp duy trì thu nhập, gia tăng giá trị qua các công đoạn để từ đó nàng cao năng lực cạnh tranh của mình
4.1 Nâng cao tính chuyên môn trong từng công đoạn sản xuất
Khi sự phân công lao động phát triển vượt ra khỏi biên giới quốc gia của một nước, các quốc gia có thể đảm nhiệm những công đoạn nhất định khi tham gia vào chuỗi giá trị của một ngành sản xuất nào đó Adam Smith cho rằng sự phân công lao động được quyết định bởi quy m ô của thị trường Theo quan điểm này thì những thị trường có quy m ô nhỏ sẽ rất khó đạt được sự chuyên môn hóa cao Chẳng hạn nếu một doanh nghiệp chỉ sản xuất một lượng nhỏ thì hẩ sẽ không phải thuê nhiều lao động và bản thân doanh nghiệp đó sẽ phải thực hiện tất cả các khâu sản xuất cần
Trang 23thiết để hoàn thiện sản phẩm Nhưng một khi thị trường được mở rộng thì nhà sản xuất sẽ có cơ hộ gia tăng lợi nhuận và mức sản lượng lớn đòi hỏi họ phải thuê nhân công đặc biệt là nhỗng thợ có tay nghề cao để chuyên môn hóa vào công đoạn sản xuất Sự chuyên môn hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp gia tăng giá trị một cách có hiệu quả hơn khi tham gia vào chuỗi bởi vì người lao động sẽ không phải mất thời gian cho quá nhiều thao tác công việc m à họ chi phải tập trung vào nhỗng công đoạn sản xuất nhất định phù hợp với chuyên môn của họ Lý thuyết này cũng chính là nền tảng cho sự phát triển ngành cơ khí hóa bởi vì phương thức sản xuất tự động đòi hỏi rất cao cách thức sản xuất chuyên nghiệp Việc sử dụng thành công hệ tự động hóa trong sản xuất tăng khả năng điều phối máy móc thông qua EDI (Electroic Data Interchange - trao đỗi dỗ hiệu điện tử) giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện sản phẩm
và tăng khả năng liên kết giỗa các khâu như phát triển sản phẩm, thiết kế, sản xuất
và marketing
Việc doanh nghiệp của một quốc gia nào đó trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu và đảm nhận nhỗng khâu nhất định cũng đồng nghĩa v ớ i việc doanh nghiệp đó phải đối mặt với sự cạnh tranh trong toàn bộ hệ thống Việc lựa chọn các yếu tố đầu vào - hàng hóa và dịch vụ - trong chuỗi sản xuất cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được vai trò và khả năng tạo giá trị của mình trong toàn chuỗi Và khi doanh nghiệp không thể tạo ra được nhiều hoặc hầu hết giá trị trong hoạt động sản xuất thì nỗ lực nâng cấp chuỗi thường không mấy phát huy tác dụng
4.2 Tăng hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp
Việc đánh giá hoạt động kinh doanh và thương mại của doanh nghiệp theo từng công đoạn (phương pháp chuỗi giá trị) sẽ giúp hiểu được nhỗng thuận lợi và khó khăn của một doanh nghiệp hoặc quốc gia trong việc chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa hơn là cung cấp dịch vụ M ố i liên hệ giỗa các công ty và nhỗng khách hàng cuối cùng sẽ có ảnh hưởng nhất định đến khả năng đạt được nhỗng lợi ích nhất định khi tham gia thị trường toàn cầu
Có thể nói rằng thước đo hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp
là lợi nhuận và nếu theo quan điểm của chuỗi giá trị thì hiệu quả kinh doanh của
Trang 24doanh nghiệp được đo bằng lượng giá trị gia tăng ở những khâu nhất định Giai đoạn sau chiến tranh đặc biệt là ở hai thập kỷ cuối của thế kỉ 20, có rất nhiều doanh nghiệp tăng hiệu quả sản xuất của mình bằng cách mở rộng hoạt động tìm kiêm nguển nguyên liệu sản xuất và giảm chi phí sản xuất ở quy m ô toàn cầu Ớ một sô quốc gia như Mexico, Brazil, Hongkong, Malaysia, Singapore và Thái Lan, hoạt động sản xuất ngày càng phát triển do sự mở rộng phạm v i hoạt động và bành trướng thị trường của các MNCs hay TNCs Hơn nữa, các MNCs hay TNCs lại nắm giữ một lượng lớn công nghệ và thiết kế của thế giới, họ có thể thu được lợi nhuận dựa trên việc ký kết các hợp đểng mua bán giấy phép cho các công ty con hoặc chi nhánh ở nước ngoài Nhờ những lợi thế ấy, các MNCs và TNCs có thể đáp ứng các đòi hỏi của thị trường về tiêu chuẩn chất lượng, chi phí và khả năng cung cấp hàng hóa lớn Chính vì những luận điểm trên m à các MNCs, TNCs có khả năng chi phối những khâu quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, trở thành những tác nhân quan trọng chi phối và thúc đẩy hiệu quả sản xuất cho toàn chuỗi
Việc chuyên môn hóa sản xuất theo từng công đoạn của chuỗi giá trị sẽ giúp điều chỉnh tốt hơn toàn bộ chu kỳ sản xuất và cả sự liên kết với thị trường tiêu dùng cuối cùng để từ đó làm cho quy trình sản xuất một sản phẩm nào đó sẽ trở nên hoàn thiện hơn Kết quả là nó sẽ ảnh hưởng đến cả việc tham gia của những tập đoàn sản xuất nhất định ở thị trường tiêu dùng cuối cùng
4.3 Tăng thu nhập cho các chủ thể trong chuỗi
Khi tiến trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển, thì m ô hình phân phối thu nhập giữa các quốc gia và các công ty đã ngày càng trở nên phức tạp M ố i liên hệ giữa các hoạt động kinh tế phát triển ở quy m ô toàn cầu với khả năng đáp ứng nhu cầu và thu nhập phát sinh từ những hoạt động kinh tế này đã ngày càng ưở nên lỏng lẻo Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang rất năng động hiện nay, sự chuyên môn hóa vào từng khâu của công đoạn trong chuỗi sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất của các chủ thể và tù đó giúp gia tăng thu nhập của doanh nghiệp Tuy nhiên, thu nhập của doanh nghiệp tùy thuộc vào việc doanh nghiệp đó có khả năng chiếm lĩnh khâu nào ừong chuỗi Sự chuyên m ô n hóa cao sẽ giúp tăng thu nhập của tất cả các chủ thể được liên kết trong chuỗi giá trị toàn cầu Trong chuỗi giá trị của một ngành
Trang 25kinh doanh nào đó, các doanh nghiệp, khu vực hoặc quốc gia đều có khả năng liên
2
k ế t và hoạt động như một mạng lưới toàn cầu Nhìn ở phạm vi toàn cầu thì sự liên kết giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau sẽ ảnh hưởng đến mức thu nhập của toàn bộ hệ thống và là cơ sở của những nỗ lực gia tăng giá trị của các chủ thấ Hơn nữa, việc tham gia vào chuỗi giá trị sẽ tạo động lực gia tăng thu nhập của các chủ thấ trong chuỗi
Việc gia tăng thu nhập của doanh nghiệp khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cũng bị ảnh hường bởi các rào cản thương mại bởi vì rào cản cũng làm hạn chê năng lực cạnh tranh nhưng rào cản càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng tăng lợi nhuận Vì vậy, lợi nhuận phản ánh hình thức thu nhập của doanh nghiệp trong mạng lưới sản xuất toàn càu
Thu nhập được phân phối trong chuỗi giá trị toàn cầu có thấ được thực hiện bằng các nguồn vốn đầu t u khác nhau như vốn đầu tư mạo hiấm, vốn công nghệ, vốn lao động, nguồn tài nguyên và các nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình gia tăng giá trị Việc tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp sẽ giúp gia tăng thu nhập ở các công đoạn Mức sản lượng do lao động tạo ra chính là nhân tố quan trọng duy trì thu nhập của doanh nghiệp khi tham gia chuỗi Tuy nhiên giá trị gia tăng (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí đầu vào ) được thực hiện trong các công đoạn của chuỗi giá trị sẽ quyết định đến thu nhập của doanh nghiệp Chỉ cần một phần nhỏ giá trị tăng thêm của một khâu m à doanh nghiệp đang chiếm lĩnh cũng sẽ làm tăng doanh số của doanh nghiệp
5 T ầ m q u a n t r ọ n g của việc phân tích c h u ỗ i giá trị
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay phân tích chuỗi giá trị có ý nghĩa quan trọng, đưa ra lời giải đáp cho một số vấn đề nóng hổi về hội nhập, về phân phối thu nhập
5.1 Mô tả và giải thích việc phân chia lợi ích giữa các chủ thể tham gia chuỗi
Nhờ toàn càu hóa thì những doanh nghiệp, những quốc gia có sức mạnh chi phối, giàu lên nhanh chóng Trong khi đó, những nước -VA -ahóm-.xã hội yếu thế
Trang 26thường bị thua thiệt do tác động từ những mặt trái của toàn cầu hóa Bằng cách lập
sơ đồ một loạt các hoạt động trong chuỗi, một phân tích chuỗi giá trị nhất trí phân tách tổng thu nhập trong chuỗi thành các khoựn m à các tác nhân trong chuỗi nhận được, từ đó có thể thấy phân tích chuỗi giá trị là cách duy nhất để hiểu được sự phân phối thu nhập Các cách xem xét khác như sử dụng sò liệu thống kê chỉ cho ta biết một phần về các hiện tượng này
5.2 Phân tích chuỗi giá trị giúp các quốc gia xác định được cách thức hội nhập vào thị trường quốc tế và kết nối với nền kinh tế toàn cầu
Hiện nay, toàn cầu hóa là xu thế chung, cuốn các nền kinh tế vào dòng chựy của nó Ngay cự những nước quốc gia kém phát triển nhất cũng bước vào con đường hội nhập Nhưng hội nhập như thế nào để đựm bựo sự phát triển bền vững, hội nhập thế nào cho có lợi nhất luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Phân tích chuỗi giá trị toàn cầu có thể giúp sáng rõ vấn đề này Bằng việc phân tách quá trình sựn xuất ra thành các công đoạn nhỏ, phân tích chuỗi giá trị toàn cầu trước tiên giúp các doanh nghiệp, các quốc gia xác định được những khâu, những công đoạn mình
có lợi thế để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đó Bên cạnh đó, phân tích chuỗi giá trị còn chi ra công đoạn nào tạo ra nhiều giá trị gia tăng, công đoạn nào rào cựn gia nhập cao, mức độ cạnh tranh ít để doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình con đường hội nhập hiểu quự nhất
l i C ơ sử lý luân về ngành công nghiệp phu trơ
1 Khái niệm về ngành công nghiệp phụ t r ợ
Khái niệm công nghiệp phụ trợ (Supporting Industry) bắt đầu xuất hiện từ những năm 60, phổ biến ở Nhật bựn và sau này là các nền kinh tế mới Công nghiệp hoa ( N I C s ) ở Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ
Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sựn xuất đầu vào (manufactured inputs) Hàng hóa, sựn phẩm sau cùng được tạo ra từ
Trang 27những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sàn xuất các sản phẩm đầu vào, gồm:
- Các sàn phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods)
- Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods)
Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phàm cuối cùng Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bỞ sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tàng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh, ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bỞ hay những yếu tố vật chất nào khác góp phân tạo thành sản phẩm Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt Hai ngành công nghiệp hay sử dụng nhiều khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành ô tô và điện tử Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sàn xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ
Có ba cách thể hiện chính thức đỞnh nghĩa về công nghiệp phụ t r ợ trong các văn bản cấp quốc gia, gồm:
- ĐỞnh nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp phụ trợ được Bộ Kinh
tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra vào vào năm 1993: Công
nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ổ tô điện và điện từ)
Trang 28- Phòng Năng lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi "Các ngành công nghiệp phụ trợ: công nghiệp của tương lai", đã định nghĩa công nghiệp phụ trợ là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết đe định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp
sử dụng cuểi cùng (end-use indutries) Tuy khái niệm của Phòng Năng lượng Hoa
Kỳ đưa ra rất tổng quát nhưng cơ quan này, trong phạm v i chức năng của mình, tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm năng lượng Do đó, công nghiệp phụ trợ theo quan điểm của cơ quan này là những ngành tiêu tổn nhiều năng lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn, đúc
- Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp phụ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID): Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch
vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng).3
Nếu tiếp cận theo chuỗi giá trị t ừ góc độ doanh nghiệp, công nghiệp phụ trợ được hiểu gồm ba dạng doanh nghiệp:
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài (import)
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nước ngoài ờ thị trường trong nước (íòreign suppliers)
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa (dosmetic suppliers)
Một cách căn bản và có cơ sở hơn, theo chúng tôi, khái niệm công nghiệp phụ trợ phải được đặt trong khung phân tích về chuỗi giá trị, trước khi chọn lựa một cách hiểu thích họp về công nghiệp phụ trợ Công nghiệp phụ trợ không thể nhìn theo ngành hay sản phẩm vì không thể bao quát hết tính phức tạp và đa dạng của sản xuất Quá tổng hợp hay quá chi tiết đều không phải cách lý giải thích họp về vai trò của công nghiệp phụ trợ cũng như không đem lại nền tảng vững chắc cho việc xây dựng các chính sách, chiến lược phù hợp với xu hướng của luồng F D I và tạo
3 http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=5153&cap=4&id=5161
Trang 29lực đẩy phát triển công nghiệp Công nghiệp phụ trợ tập trang vào các mối kết nối
và m ô hình chia sẻ, do vậy thích họp trong khung phân tích về chuỗi giá trị Từ đây
sẽ thấy rõ hơn vai trò, vị trí, tác động của công nghiệp phụ trợ trong các phảm v i khác nhau của liên kết chuỗi giá trị, tảo cơ sở và tầm nhìn cho các chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp Như vậy, các nội dung cụ thể của công nghiệp phụ trợ theo ngành hay theo sản phẩm, tổng quát hay cụ thể, doanh nghiệp hay khách hàng
sẽ gắn kết với phảm vi của chuỗi giá trị tương ứng
Ở Việt Nam, quan niệm về công nghiệp phụ trợ xuất hiện trong các chương
trình họp tác kinh tế với Nhật Bản Khái niệm này được du nhập vào nước ta thông qua vai trò của Diễn đàn kinh tế Việt Nam (VDF) và ảnh hưởng của các luồng F D I Nhật Bản, đặc biệt gắn với việc chọn lựa địa điểm đặt các nhà máy sản xuất của những tập đoàn đa quốc gia Thuật ngữ công nghiệp phụ trợ được sử dụng chính thức từ năm 2004, chủ yếu trong các chỉ thị, công văn chỉ đảo của Thủ tướng Chính phủ Chỉ thị số 47/2004/CT-TTg ngày 22/12/2004 về các giải pháp nâng cao sức cảnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có đề ra nhiệm vụ trong năm
2005: "Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đế tăng cường khả
năng cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phàm, phụ liệu đâu vào trong nước cho sản xuất hàng công nghiệp xuất khấu và thú: đấy mối quan hệ bố trợ liên ngành giữa các ngành công nghiệp " Một vài công văn và chỉ thị sau đó cũng lặp lải nội
dung này (Chỉ thị 27/2006/CT-TTg ngày 07/08/2006) Đặc biệt, nội dung phát triển phát triển công nghiệp đã được đề cập trong Quy hoảch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam (Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg ngày 04/04/2006 về phê duyệt Quy hoảch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020) Công nghiệp phụ trợ trở thành một trong những nội dung chính đối với Ke hoảch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 (Quyết định số 75/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007) Tuy nhiên, trong các văn bản này vẫn chưa xuất hiện một định nghĩa chính thức về công nghiệp phụ trợ
Trang 30ĩ. Đ ặ c điểm của ngành công nghiệp p h ụ t r ợ
v ề cơ bản đối với Việt Nam, công nghiệp phụ trợ vẫn là ngành mới mẻ Việc xác định đúng đắn các đặc điểm của công nghiệp phụ trợ là vấn đề quyết định đèn nhận thức của Nhà nước và các doanh nghiệp đối với sỹ quan trọng của công nghiệp phụ trợ, và cũng là để tận dụng được lợi ích m à công nghiệp phụ trợ mang lại
2.1 Công nghiệp phụ trợ là ngành phức tạp và rộng lớn
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm sản xuất ra ngày càng tinh v i hơn, mỗi sản phẩm lại có vô số các chi tiết hợp thành Một doanh nghiệp dù lớn đến mức nào cũng không thể và không nên tỹ mình sản xuất khép kín một sản phẩm
Do đó, để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh cần sỹ tham gia của nhiều doanh nghiệp, của nhiều ngành khác nhau Điều đó dẫn đến công nghiêp phụ trợ có phạm vi rất rộng, cả về mặt liên kết ngành hay địa lý
2.2 Công nghiệp phụ trợ - góp phần tạo nên "chuỗi giá trị"
Khái niệm công nghiệp phụ trợ được xây dỹng dỹa trên mức độ phức tạp của
ba công đoạn sản xuất chính: chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng linh kiện và lắp ráp hoàn chinh Công nghiệp phụ trợ theo thứ tỹ này đứng thứ 2 N ó không sử dụng nhiều kỹ thuật cơ bản sâu như các ngành hóa chất và vật liệu cơ bản (sắt, thép), và cũng không sử dụng kỹ thuật tích hợp phức tạp từ nhiều lĩnh vỹc chuyên ngành khác nhau như các ngành lắp ráp (máy móc, ôtô)
Đặc điểm của việc tạo nên "chuỗi giá trị" nằm ở chỗ: khi một ngành công nghiệp sản xuất hay lắp ráp Ì sản phẩm nhất định phát triển, nó cần có một hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ để cung cấp các chi tiết sản phẩm đó Mặt khác, các doanh nghiệp được coi là phụ trợ cho sàn phẩm đó lại cần các doanh nghiệp khác
"phụ trợ" Vì vậy để có hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ, ngoài việc phải phát triển các ngành công nghiệp cơ bản (cao su, nhỹa, cơ khí, năng lượng ) lại cần có sỹ phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ khác nữa Như vậy, chỉ với
Ì sản phẩm, chuỗi giá trị đa kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành công nghiệp
cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều ngành công nghiệp khác Trong nhiều trường hợp
Trang 31xuất hiện hẳn một ngành công nghiệp có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm "gốc"
2.3 Công nghiệp phụ trợ không bao hàm ý nghĩa "không phải là ngành công nghiệp chính"
về mặt lý luận công nghiệp phụ trợ có thể được hiểu là ngành đối xứng vựi các ngành công nghiệp lắp ráp, có vai trò như các ngành công nghiệp khác Cũng chính từ đặc điểm này, khi bàn tựi công nghiệp phụ trợ trong thực tế thường được
đề cập tựi các lĩnh vực sản xuất phụ tùng cung cấp cho các ngành lắp ráp như ô tô,
xe máy, máy móc thiết bị cơ khí điện, điện tử Công nghiệp phụ trợ không bao hàm
ý nghĩa "không phải là ngành công nghiệp chính" như thực tế đã bị hiểu lầm
2.4 Sự phát triển của công nghiệp phụ trợ là tất yếu của quá trình phân công lao động
Quá trình hình thành công nghiệp phụ trợ liên quan chặt chẽ hay chính là một khía cạnh của sự thay đổi trong phân công lao động theo hưựng chuyên môn hòa Trong quá khứ, quá trình hình thành này đã diễn ra khác vựi hiện tại Có thể thấy qua ngành ô tô của các nưực đi trưực, điển hình là Nhật Bản, quá trình lựn lên
về quy m ô sản xuất của một công ty cùng mức độ phát triển về sự phức tạp hóa của sản phẩm đã làm phát sinh sự phân ly các hoạt động lắp ráp và sản xuất linh kiện thành những công đoạn độc lập Hệ thống công ty con, hiện thân của công nghiệp phụ trợ đã ra đời từ những công ty thế hệ trưực Công nghiệp phụ trợ trong hiện tại
được hình thành sau khi công nghiệp lắp ráp đa xuất hiện Ví dụ rõ của sự hình
thành công nghiệp phụ trợ trong hiện tại là trường hợp của Thái Lan Những xí nghiệp đầu tư nưực ngoài trong các ngành công nghiệp lắp ráp như ô tô, xe máy, máy móc thiết bị đồ điện, điện tử từ Nhật Bản và các nưực  u M ỹ phát triển khác
từ khá sựm đã tạo tiền đề cho sự phát triển của công nghiệp phụ trợ tại Thái Lan
3 Các yếu tổ ánh hưởng đến công nghiệp phụ t r ợ
Việc phát triển công nghiệp phụ trợ là một vấn đề rất phức tạp trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia V ự i các nưực đang trong quá trình công nghiệp hoa, khi các nguồn lực còn hẹp, quy m ô các
Trang 32ngành kinh tế còn nhỏ bé, việc giải quyết bài toán quan hệ giữa phát triển công nghiệp phụ trợ và khu vực hạ nguồn lại càng khó khăn và phức tạp hơn Do đó, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển công nghiệp phụ trợ sẽ tạo luận
cứ khoa học nhằm lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp thích họp, cụ thể:
3.1 Thị trường của khu vực hạ nguồn
Khả năng đảm bảo sự tương thích giữa qui m ô cờa các ngành phụ trợ và khu vực hạ nguồn phải đờ lớn để tạo ra thị trường ổn định phát triển có hiệu quả các ngành phụ trợ Nếu khu vực hạ nguồn có qui m ô nhỏ, sản xuất những sản phẩm có chờng loại đa dạng và sản lượng không lớn thì khối lượng sản xuất cờa các ngành phụ trợ cũng sẽ nhỏ, do đó, giá thành chế tạo sẽ tăng cao Điều này sẽ vấp phải sự từ chối cờa chính khu vực hạ nguồn trong nước và gặp khó khăn khi muốn xuất khấu sản phẩm phụ trợ ra nước ngoài
Thêm vào đó, cần chú trọng đến khả năng đảm bảo yêu cầu về chờng loại, chất lượng và thời hạn cung ứng các sản phẩm phụ trợ cho các ngành hạ nguồn vì thông thường, yêu cầu cờa các doanh nghiệp ở khu vực hạ nguồn rất khắt khe do họ phải đảm bảo những cam kết với khách hàng, đặc biệt là những đom hàng xuất khẩu
3.2 Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Đây là nhân tố quan trọng không chỉ đối với các ngành công nghiệp nói chung m à còn cả với công nghiệp phụ trợ nói riêng do tính chất thường xuyên thay đổi để thích ứng với xu hướng phát triển cờa thế giới Vì thế, một mặt, việc áp dụng thành tựu mới cờa khoa học và công nghệ trong các ngành phụ trợ ảnh hưởng có tính chất "dẫn dắt" sự phát triển khu vực hạ nguồn nhờ tạo ra những chi tiết, bộ phận hoặc vật liệu mới, góp phần tạo ra sự thay đổi căn bản trong thiết kế và chế tạo sàn phẩm ở khu vực hạ nguồn; mặt khác, việc thiết kế và chế tạo các sản phẩm mới
ở khu vực hạ nguồn yêu cầu công nghiệp phụ trợ phải nghiên cứu và chế tạo những vật liệu, phụ liệu, bộ phận hay chi tiết sản phẩm phù hợp
Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử cho phép "làm các bên có cung và có cầu gần lại với nhau" và giảm thời gian giao dịch giữa họ Điều
đó cho phép mở rộng không gian tồ chức quan hệ giữa khu vực phụ trợ và khu vục
hạ nguồn
Trang 333.3 Nguồn lực tài chính
Việc giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp phụ trợ và khu vực hạ nguôn cũng chính là việc giải quyết mối quan hệ liên ngành công nghiệp Đầu tư vào các ngành phụ trợ bất lợi hem so với đầu tư vào khu vực hạ nguồn do khối lượng vốn đầu
tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài, độ rủi ro trong đầu
tư cao Tỏ đó cho thấy việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển công nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy có vai trò hết sức to lòn trong việc bảo đảm các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển có hiệu quả và bền vững
Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một vấn đề quan trọng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện để thấy được vai trò cũng như tác động của nó đến sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ M ố i liên hệ giữa FDI và công nghiệp phụ trợ có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, nhiều công ty trong nước đã sản xuất sản
phẩm và công nghiệp phụ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, gia công sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa K h i có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp phụ trợ sẽ phát triển mạnh hơn nếu đựơc tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI Sự liên kết này không phải tự nhiên hình thành m à các công ty công nghiệp phụ trợ phải tỏ ra có tiềm năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được v ớ i hàng nhập
Giai đoạn 2: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp trong
nước ra đời trong các ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của ngành công nghiệp chính thông qua các doanh nghiệp FDI Những doanh nghiệp này sớm hình thành sự liên kết với doanh nghiệp F D I để được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển một cách nhanh chóng
Giai đoạn 3: Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp F D I với qui m ô
sản xuất ngày càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày lớn cho công nghiệp phụ trợ, nhiều công ty vỏa và nhỏ ở nước ngoài sẽ đến đầu tư
Như vậy, mối liên hệ giữa công nghiệp phụ trợ và FDI có thể được hiểu: chỏng nào các công ty nước ngoài không thấy Chính phủ đưa ra các chính sách cụ thể và dài
Trang 34hạn để phát triển công nghiệp phụ trợ theo hướng giai đoạn Ì và 2 cũng như không tạo điều kiện môi trường kinh doanh ổn định như giai đoạn 3 thì môi trường thu hút FDI ở nước đó sẽ không được đánh giá cao
3.4 Mức độ bảo hộ thực tế
Mức độ bảo hộ thực tế là tỷ lệ % giữa thuế quan danh nghĩa với phốn giá trị gia tăng nội địa Chính tỷ lệ này sẽ nâng cao thêm giá của một đơn vị sản phẩm cuối cùng Tỷ lệ này nói lên mức bảo hộ thực tế cao hay thấp cho các ngành sàn xuất trong nước
3.5 Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia
Việc bảo đảm quan hệ giữa khu vực phụ trợ và khu vực hạ nguồn không thê chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, m à cốn được thực hiện trong phạm vi khu vực và toàn cốu Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải cân nhắc thận trọng việc quyết định mức độ đốu tư vào khu vực công nghiệp phụ trợ trong nước Khuynh hướng cốn tránh là đốu tư khép kín theo kiểu khu vực hạ nguồn cốn gì thì đốu tư phát triển khu vực phụ trợ sản xuất cái đó
Trong phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các tập đoàn xuyên quốc gia có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế quốc tế V ớ i nguồn lực to lớn về tài chính, khoa học và công nghệ, các tập đoàn này có mạng lưới sản xuất và phân phối rộng rãi với chiến lược phát triển và thương hiệu thống nhất, các bộ phận trong mạng lưới đó được chuyên môn hoa họp lý nhàm khai thác lợi thế ở mỗi quốc gia
và mỗi khu vực, có những chi nhánh chuyên sản xuất một số loại chi tiết, bộ phận nhất định cung cấp cho các chi nhánh khác ở phạm vi khu vực, thậm chí toàn cốu Trong việc hoạch định chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, cốn có các chính sách thu hút đốu tư trực tiếp nước ngoài và kết hợp hợp lý giữa sản xuất trong nước với các chi nhánh của các tập đoàn xuyên quốc gia ấy
Trang 353.6 Cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát ừiến công nghiệp phụ
trợ
Sự ảnh hưởng của nhân tố này thể hiện trên hai mặt chủ yếu Một mặt, quan điểm của Nhà nước về phát triển công nghiệp phụ trợ trong định hướng chiến lược phát triển công nghiệp Mặt khác, các chính sách hỗ trợ phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ như chính sách nội địa hoa, chính sách đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ, chính sách thuế đánh vào khâu nhập khọu và khâu sản xuất các sản phọm phụ trợ, mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên cứu khoa học và công nghệ ở khu vực công nghiệp phụ trợ
4 V a i trò công nghiệp p h ụ t r ợ đối vói sự phát t r i ể n k i n h tế
Mỗi quốc gia có cách thức riêng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khu vực hạ nguồn và công nghiệp phụ trợ Nếu được phát triển một cách hợp lý, công nghiệp phụ trợ sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Vai trò ấy thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
4.1 Công nghiệp phụ trợ là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phàm của khu vực hạ nguồn
Công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp, gia công và những công ty sản xuất các thành phọm cuối cùng khác phụ thuộc nhiều vào nhập khọu D ù những sản phàm này có thế được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí chuyên chở, bảo hiểm sẽ tăng lên làm tăng chi phí đầu vào Đ ó là chua kể đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khọu Vì vậy, công nghiệp phụ trợ thiếu sẽ làm giá trị gia tăng thấp đi, ngành công nghiệp chính thiếu sức cạnh tranh Việc phát triển CNPT không phải là tiêu chí tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp chính, nhưng lại
có tác động gián tiếp, cụ thể như sau :
Thứ nhất, ngành CNPT phát triển sẽ tạo được nguồn cung đầu vào ổn định,
chất lượng,từ đó đảm bảo được khả năng giao hàng cho các D N trong các ngành công nghiệp chính Các D N lắp ráp hay các D N sản xuất sản phọm cuối cùng, dù là
Trang 36D N trong nước hay các D N MNCs, đù bán sản phẩm tại thị trường nội địa hay xuất khẩu, đều có nhu cầu rất lớn về mua sắm các sản phẩm phụ trợ như phụ tùng nhựa, khuôn kim loại, linh kiện, phụ tùng từ các nhà cung cấp trong nước
Thứ hai, CNPT giúp giảm giá thành sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng
cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng Sự phát triỗn của CNPT trong nước sẽ tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho các D N lắp ráp sản phẩm cuối cùng, hạ giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Do đó, đỗ phát triỗn công nghiệp, mỗi quốc gia không những cần xác định các ngành công nghiệp chủ đạo, mũi nhọn m à song song với nó là phát triỗn các ngành CNPT
4.2 Ngành công nghiệp phụ trợ phát huy ảnh hưởng của tác động "lan toa" trong phát triển hệ thống công nghiệp
Hệ thống này có thỗ liên kết theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tạo thành các cụm công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ mật thiêt với nhau Do vậy, sự phát triên của một ngành công nghiệp trong hệ thống đó sẽ có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác, kích thích các ngành này cũng phát triỗn theo sao cho đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới
4.3 Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp
Từ những nhận định trên có thỗ thấy công nghiệp phụ trợ phải phát triỗn mới thu hút FDI, đặc biệt là F D I trong những ngành sử dụng nhiều máy m ó c hiện đại Tỷ lệ của chi phí công nghiệp phụ trợ cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng công nghiệp phụ trợ không phát triỗn sẽ làm cho môi trường đàu tư kém hấp dẫn.Tuy nhiên, cũng không phải công nghiệp phụ trợ phát triỗn đồng bộ rồi mới có FDI C ó nhiều trường hợp F D I đi trước và kéo theo các công ty khác (kỗ cả công ty trong và ngoài nước) đầu tư phát triỗn công nghiệp phụ trợ, do đó có sự quan hệ tương h ỗ 2 chiều giữa F D I và công nghiệp phụ trợ
Trang 374.4 Ngành CNPT là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp, góp phần đẩy mạnh thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu
Theo quan niệm của M Porter năm 1990, khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp là khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Khả năng này được hình thành bởi 4 yếu tố, bao gồm: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện cầu, (3) các ngành công nghiệp phụ trợ và các ngành liên quan, (4) chiến lược,
cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành Cả 4 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành "mô hình kim cương Porter" nhàm để chờ khả năng chịu "va đập" của một quốc gia trước môi trường cạnh tranh gay gắt Trong đó, mối quan hệ 2 chiều giữa các yếu tố được thể hiện qua m ô hình sau:
M ô hình 1: Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh ngành công
nghiệp
Trang 38C H Ư Ơ N G li THỰC TRẠNG N G À N H CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA N G À N H CÔNG
NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẢU
ĩ Sư hình thảnh và phát triển ngành công nghiệp phu trơ Việt Nam
1 Sự hình thành ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
ở các nước đang phát triển, quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ thường qua 5 giai đoạn: 4
Giai đoạn 1: Việc sản xuất được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các cụm
linh kiện nhập khẩu sổ lượng các nhà cung cấp các chi tiết, linh kiện đơn giản sản xuất trong nước có rất ít
Giai đoạn 2: Nội đữa hóa thông qua sản xuất tại chỗ, các nhà lắp ráp chuyển
sang sử dụng linh, phụ kiện sản xuất trong nước Thường những linh, phụ kiện này
là những loại thông dụng, dùng chung Tỷ lệ nội đữa hóa trong các sản phẩm công nghiệp trong nước có tăng lên nhưng thường ít tăng số lượng các nhà sàn xuất phụ trợ, tính cạnh tranh trong sản xuất các sản phẩm này không cao
Giai đoạn 3: Xuất hiện các nhà cung ứng các sản phẩm phụ trợ chủ chốt như
sản xuất động cơ, hộp số đối với ngành ôtô - xe máy, chíp l e điện tử, nguyên vật liệu cao cấp một cách độc lập không theo yêu cầu của các nhà lắp ráp Giai đoạn này phát triển mạnh mẽ việc gia công tại nước sở tại các chi tiết phụ tùng có độ phức tạp cao, khối lượng hàng hóa nhập khẩu để lắp ráp giảm dần
Giai đoạn 4: Giai đoạn tập trung các ngành công nghiệp phụ trợ, phần lớn
các chi tiết, phụ tùng, linh kiện đã được tiến hành sản xuất tại nước sở tại, kể cả một phần các sản phẩm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm linh kiện đó Giai đoạn này,
số lượng các nhà cung cấp sản phẩm phụ trợ tăng lên cho mỗi chủng loại sản phẩm, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất phụ trợ trở nên gay gắt hem X u thế chung của
4 http://www vnep.org vn/w eb/Content.aspx?distid=8840&lang=vi-VN
Trang 39cạnh tranh lúc này là hạ giá thành sản xuất trong khi vẫn duy trì phát triển chất lượng sản phẩm
Giai đoạn 5: Giai đoạn nghiên cứu phát ứiển và xuất khẩu Đây là giai đoạn
cuối cùng của quá trình nội địa hóa Các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu dịch chuyển các thành tựu nghiên cứu, phát triển tới nước sữ tại Năng lực nghiên cứu, phát triển nội địa cũng đã được củng cố và phát triển Bắt đầu giai đoạn sản xuất phục vụ xuất khẩu triệt để
M ô hình 2 : M ô hình the hiện cấu trúc quan hệ giữa công nghiệp chính
yếu và công nghiệp phụ trợ:
Nguồn: Người viết tự tống hợp
Đ ố i với các nước NICs, ngành công nghiệp phụ trợ thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất các sản phẩm công nghiệp cuối cùng Còn đối với các nước phát triển như ASEAN và Việt Nam, do thiếu vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, ngành công nghiệp phụ trợ hình thành sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sữ tại và sau đó, tùy theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sữ sản xuất phụ trợ, có thể vươn ra xuất khẩu các sản phẩm phụ trợ sang các thị trường khác
Trang 40Thực tế khó tách bạch từng giai đoạn, vì giữa các giai đoạn đều làm tiền đề
và kế thừa lẫn nhau Và, sự ngắn dài của mỗi giai đoạn tùy thuộc vào sự phát triển của chính kinh tế nước đó cộng với sự hỗ trợ cùa các nền kinh tế phát triển Theo đánh giá của các chuyên gia thì Việt Nam đang ở cuối giai đoạn 2 và đầu giai đoạn
3 tùy từng loại sận phẩm (trong khi đó, các nước trong khu vực như Thái Lan hiện
đã tiến tới giai đoạn 5, giai đoạn đỉnh cao cùa CNPT) Chính vì vậy, những thông tin hay nhận định rằng ngành CNPT ở Việt Nam không tồn tại hay chỉ là mới tồn tại
ở mức sơ khai là không có cơ sở M à sự thật là ngành CNPT ở Việt Nam đang thai nghén và bắt đầu phát triển
Công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay được hiểu là ngành sận xuất nền tậng của các ngành công nghiệp chính yếu (các ngành công nghiệp chủ yếu), nó bắt đầu từ việc sàn xuất nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các linh kiện, phụ tàng, nguyên phụ liệu bàng các công nghệ chuyên môn hoa phục vụ cho ngành sận xuất lắp ráp sận phẩm cuối cùng (công cụ, tư liệu sận xuất, sận phẩm tiêu dùng) Do đó, công nghiệp phụ trợ là một lĩnh vực hết sức rộng Nếu coi tỷ trọng chi phí nguyên
vật liệu để sận xuất trong giá thành sận phẩm là chỉ số đánh giá "hàm lượng công
nghiệp phụ trợ" để xác định các chuyên ngành công nghiệp ưu tiên phát triển
CNPT, thì về lý thuyết các ngành có hàm lượng phụ trợ cao theo thứ tự đó là: (1) Sận xuất lắp ráp ô tô - xe máy (2) Sận xuất thiết bị điện - điện tử, (3) Công nghiệp dệt, may và giày dép
2 Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam
Đất nước đã qua hai thập kỷ phát triển theo hướng công nghiệp hóa, thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập sâu rộng vào sân chơi lớn như APTA, WTO của thế giới Tuy nhiên, nhìn lại công nghiệp phụ trợ (CNPT) - ngành "xương sống" để sận xuất thành phẩm chính - vẫn chưa thấy hình hài, mặc dù B ộ Công nghiệp (nay là B ộ Công thương) đã có quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
hỗ trợ (gọi chung là CNPT - PV) giai đoạn đến năm 2010, tàm nhìn đến 2020 Đ ế n nay công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn ở trong tình trạng kém phát triển với những biểu hiện rõ ràng là chất lượng sận phẩm kém, giá thành cao và chủng loại rất nghèo nàn, không đáp ứng được một cách ổn định và có hiệu quậ các yêu cầu