ĐẶT VẤN ĐỀ Điều kiện môi trường bất lợi trong trồng trọt, đặc biệt sự thiếu nước là một trong những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng ở hầu hết các nước trên thế giới và cải tiến năng s
Trang 1¶NH H¦ëNG CñA Sù THIÕU N¦íC TRONG GIAI §O¹N SINH TR¦ëNG SINH THùC
§èI VíI §ËU T¦¥NG TRONG §IÒU KIÖN NHμ L−íI
Effect of water stress during soybean reproductive stages under nethouse conditions
Vũ Ngọc Thắng, Trần Anh Tuấn, Vũ Đình Hoà
Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
SUMMARY
This study was carried out to examine the effect of water stress on three reproductive stages of two soybean cultivars, DT 84, and M103 in a pot experiment under nethouse environment in comparison with full irrigation For water stress treatments, irrigation was withheld at three developmental stages: beginning
of flowering (R 1 ); full bloom to beginning of pod (R 2-3 ) and beginning of seed to full seed (R 5-6 ) Water stress was imposed until 70 % of plants or 75 % of leaves per plant withered and afterward relieved by re-watering for recovery and yield assessment (watered as control) Under water stress, the rate of photosynthesis, leaf water deficit, chlorophyll content and individual grain yield were all adversely affected Grain yield reductions (seed weight and seed yield) were greatest when water deficit occurred at the beginning of seed
to full seed Both soybean cultivars appeared susceptible to water stress
Key words: Chlorophyll content, individual grain yield, leaf water deficit, photosynthetic rate,
soybean (Glycine max (L.) Merill.), water stress
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều kiện môi trường bất lợi trong trồng trọt,
đặc biệt sự thiếu nước là một trong những yếu tố
hạn chế năng suất cây trồng ở hầu hết các nước
trên thế giới và cải tiến năng suất trong điều kiện
thiếu nước hay hạn luôn là mục tiêu chính của
chọn giống Đậu tương sử dụng trung bình 450
-700 mm nước (Doorenbus và Kassam, 1979) Các
nghiên cứu cho thấy cây đậu tương rất mẫn cảm
với sự thiếu nước và đậu tương cần được cung cấp
nước thường xuyên để tránh sự thiệt hại về năng
suất (Constable và Hearn, 1980) Khi nghiên cứu
ảnh hưởng của tần số tưới tới sinh trưởng, phát
triển và năng suất của đậu tương, Trần Đình Long
và cộng sự (2001) cũng thấy rằng đậu tương là
cây trồng có khả năng chịu hạn kém Thiếu nước
trong quá trình sinh trưởng làm giảm sự tăng
trưởng thân lá, ảnh hưởng quá trình ra hoa và
năng suất hạt (Boyer và cộng sự, 1980) Giai đoạn
xung yếu nhất của cây đậu tương đối với sự thiếu
nước là giai đoạn ra hoa và các giai đoạn sau khi
ra hoa (Doorenbus và Kassam, 1979; Constable và
Hearn, 1980) Fouroud và cộng sự (1993) cho
biết, đậu tương mẫn cảm với sự thiếu nước nhất
vào thời kỳ bắt đầu ra hoa (R1) đến thời kỳ bắt đầu
làm hạt (R5) Meckel (1984) cho rằng thiếu nước rút ngắn giai đoạn làm hạt và làm giảm năng suất Dogan và cộng sự (2007) bằng thí nghiệm đồng ruộng kiểm soát tưới vào các thời kỳ bắt đầu ra hoa và ra hoa rộ (R1-2), thời kỳ làm quả (R3), thời
kỳ làm hạt (R5) và thời kỳ vào chắc (R6) kết luận rằng điều kiện bất lợi về nước ở các giai đoạn sinh thực đều làm giảm năng suất đáng kể, đặc biệt ở giai đoạn vào chắc (R6) và giai đoạn làm hạt (R5)
Vì vậy để phát triển và mở rộng diện tích, đặc biệt
ở vụ đông khi độ ẩm tồn dư đã sử dụng hết và những vùng khó khăn về nước tưới, tăng cường khả năng chịu hạn cho đậu tương là cần thiết Nghiên cứu này nhằm đánh giá phản ứng của
2 giống đậu tương đang trồng phổ biến, DT84 và M103 với sự thiếu nước thông qua một số chỉ tiêu sinh trưởng và chỉ tiêu sinh lý trong điền kiện nhà lưới và qua đó xác định phương pháp đơn giản, nhanh để xác định khả năng chịu hạn ở đậu tương phục vụ cho chương trình chọn giống
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu gồm 2 giống đậu tương M103, DT84 Thí nghiệm được tiến hành tại nhà
Trang 2lưới khoa Nông học, trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội Quy trình thí nghiệm được tiến
hành như mô tả sau (Trần Anh Tuấn và cộng sự,
2007):
Hạt đậu tương được gieo trong chậu vại (cao
40 cm, đường kính 30 cm), chậu chứa 7 kg đất
phù sa Đất được phơi khô, đập nhỏ, sàng kỹ rồi
trộn với phân bón lót (0,03g N; 0,64 g P2O5; 0,43
g K2O) Sau khi mọc mỗi chậu để lại 5 cây; chậu
được đặt trong nhà lưới có mái che bằng ni lông
trắng Nhiệt độ, ẩm độ không khí phụ thuộc vào
môi trường Ẩm độ đất được kiểm tra bằng máy
đo độ ẩm Aquater Instruments T300 (USA) Ảnh
hưởng của hạn được đánh giá ở ba thí nghiệm
riêng biệt tương ứng với 3 thời kỳ: thời kỳ bắt
đầu ra hoa (R1), thời kỳ ra hoa rộ-làm quả (R2-3)
và thời kỳ làm hạt - vào mẩy (R5-6) Mỗi thí
nghiệm gồm 2 công thức: công thức 1 tưới nước
đầy đủ trong suốt thời gian trồng (ẩm độ đất luôn
được duy trì từ 75 – 80%); công thức 2 được tưới
nước đầy đủ (ẩm độ đất luôn được duy trì từ 75 –
80%) Ở công thức 1 khi cây bắt đầu vào thời kỳ
đánh giá (R1, R2-3 hoặc R5) thì dừng tưới cho
đến khi xuất hiện 70% số cây bị héo hoặc 75%
số lá/cây bị héo) thì tưới nước trở lại
Cường độ quang hợp Iqh biểu thị bằng μmol
CO2/m2/s được đánh giá vào ngày thứ 9 sau khi
gây hạn và đo bằng máy PP – System (USA) Từ
11 -13 h hàng ngày, 9 cm2 lá thứ 3 tính từ trên
xuống được đưa vào curvet; dòng không khí đưa
vào máy là không khí nhà lưới được chuẩn hóa
với nồng độ CO2 là 360 ppm; độ ẩm và nhiệt độ
của curvet không được điều chỉnh, phụ thuộc vào
không khí trong nhà lưới
Để xác định hàm lượng diệp lục tổng số, 3
lá từ trên xuống ở mỗi công thức được thu thập
ngẫu nhiên, sau đó đem cắt nhỏ trộn thật đều, cân
0,1 gam lá đã cắt nhỏ cho vào bình chứa 10ml
aceton bịt thật kín nút, bọc ni lông đen Mẫu được đặt trong tủ lạnh khoảng 30 ngày, sau đó đo
độ hấp thụ trên quang phổ kế ở 2 bước sóng λ = 642,5 nm và λ = 660 nm
Độ thiếu hụt bão hoà nước được xác định bằng cách lấy một cây ngẫu nhiên ở mỗi lần lặp lại vào ngày cuối cùng của thời kỳ gây hạn trong khoảng thời gian từ 12 – 14h, cân nhanh khối lượng lá tươi (P1), sau đó ngâm trong bình trụ 20 phút, lấy lá ra thấm khô bề mặt lá và cân nhanh khối lượng lá bão hoà (P2) Cuối cùng mẫu được sấy khô ở nhiệt độ 1050C trong 6 giờ rồi cân khối lượng (P3)
Công thức tính độ thiếu hụt bão hoà nước là:
P2 - P1 ĐTHBHN = - x 100
P2 - P3
Số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình Excel và chương trình IRISTAT 4.0
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Ảnh hưởng của hạn đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
Tổng thời gian sinh trưởng của hai giống, DT84 và M103 chênh lệch không đáng kể trong điều kiện hạn và có tưới đầy đủ (Bảng 1) Tuy nhiên, tưới đủ nước hay gây hạn làm thay đổi thời gian từ khi bắt đầu ra hoa đến khi quả mẩy tùy theo thời kỳ gây hạn (Bảng 1) Ở cả hai giống DT84 và M103 khi gây hạn vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, thời gian từ ra hoa đến quả mẩy đều chậm hơn 2 ngày so với công thức tưới nước đầy đủ Ngược lại, gây hạn thời kỳ ra hoa rộ có
xu hướng rút ngắn thời gian từ khi bắt đầu ra hoa đến khi quả mẩy, tuy không đáng kể so với tưới nước đầy đủ
Bảng 1 Ảnh hưởng của hạn đến thời gian (ngày) từ thời kỳ bắt đầu ra hoa đến thời kỳ quả mẩy
ở 2 giống đậu tương DT84 và M103
Mọc - Bắt đầu ra hoa Bắt đầu ra hoa - quả mẩy Thời kỳ gây hạn Giống
Tưới Hạn Tưới Hạn
Bắt đầu ra hoa
Ra hoa rộ - làm quả
Làm hạt - quả mẩy
Trang 33.2 Ảnh hưởng của hạn đến sinh trưởng chiều
cao và số đốt
Chiều cao thân chính trong cùng giống khi
có tưới cao hơn hẳn so với điều kiện hạn (Bảng
2) Tương tự, thiếu nước cũng ảnh hưởng rõ rệt
tới số đốt trên thân chính
Cụ thể là trong điều kiện hạn số đốt giảm đáng kể so với cây được tưới nước đầy đủ phụ thuộc vào thời kỳ gây hạn, nhưng giống DT84 phản ứng mạnh hơn so với giống M103
Giống DT84 có số đốt hữu hiệu/thân chính
bị ảnh hưởng rõ nhất khi gặp hạn ở thời kỳ cây cây bắt đầu nở hoa trong khi đó giống M103 lại
bị ảnh hưởng rõ nhất ở thời kỳ quả vào mẩy
Bảng 2 Ảnh hưởng của hạn đến sinh trưởng chiều cao và số đốt trên thân chính
Chiều cao thân chính (cm) Số đốt hữu hiệu/thân chính
Tưới Hạn Tưới Hạn
Bắt đầu ra hoa
Ra hoa rộ - làm quả
Làm hạt - quả mẩy
3.3 Tỷ lệ héo và khả năng phục hồi sau gây
hạn của 2 giống đậu tương
Héo là dấu hiệu bên ngoài biểu thị sự cân
bằng nước trong cây bị phá hủy Sự hấp thu nước
không đủ bù đắp cho sự thoát hơi nước, các tế
bào lá và các phần non của thân mất sức trương,
xẹp xuống gây nên sự héo rũ Héo lâu dài và
không thuận nghịch xảy ra khi đất thiếu nước, rễ
không đủ cung cấp nước cho các bộ phận trên
mặt đất thường xuyên Trong trường hợp này cây
không thể quay trở về trạng thái bão hòa được
nữa, mặc dù ban đêm sự thoát hơi nước không
đáng kể Sự héo lâu dài gây ảnh hưởng sâu sắc
đến các hoạt động sống của cây: cây ngừng
quang hợp, rối loạn trao đổi chất, ngừng sinh
trưởng và gây hiện tượng rụng hoa, rụng quả làm
giảm năng suất (Hoàng Minh Tấn và cộng sự,
2000) Sau 9 ngày gây hạn ở thời kỳ bắt đầu ra
hoa 48,11% số cây của giống DT84 bị héo, trong
khi đó giống M103 chỉ có 40,70%, tuy nhiên khi
được tưới nước trở lại thì sau 5 ngày toàn bộ số cây bị héo hồi phục hồi bình thường (Bảng 3) Bước sang thời kỳ ra hoa rộ sau khi để hạn 9 ngày 77,77% số cây của giống DT84 và 74,01%
số cây của giống M103 bị héo, nhưng sau 5 ngày khi được tưới nước trở lại chỉ có 74,01% số cây hồi phục đối với giống DT84 và 81,47% đối với giống M103 Ở thời kỳ quả mẩy sau 9 ngày gây hạn tỷ lệ héo của cây tăng lên rất nhanh, giống DT84 có 85,11% số cây bị héo và giống M103 có 81,40% số cây bị héo Đặc biệt sau 5 ngày tưới nước trở lại số cá thể hồi phục thấp hơn rất nhiều
so với hai thời kỳ gây hạn nêu trên, giống DT84
và giống M103 tương ứng chỉ có 62,93% và 66,66% số cá thể hồi phục trở lại Rõ ràng các giai đoạn khác nhau của đậu tương mẫn cảm khác biệt với sự thiếu nước, trong đó giai đoạn tích lũy vào hạt có lẽ là giai đoạn xung yếu nhất Thiếu nước ảnh hưởng mạnh nhất thời kỳ quả mẩy bị, tỷ lệ
héo đạt cao nhất và khả năng phục hồi chậm nhất
Bảng 3 Tỷ lệ héo và khả năng phục hồi sau gây hạn của 2 giống đậu tương
Thời kỳ gây hạn Thời kỳ bắt đầu ra hoa Thời kỳ ra hoa rộ - àm quả Thời kỳ làm hạt - quả mẩy
Giống Tỷ lệ héo sau 9
ngày gây
hạn
(%)
3 ngày sau tưới nước trở lại
5 ngày sau tưới nước trở lại
Tỷ lệ héo sau 9 ngày gây hạn (%)
3 sau ngày tưới nước trở lại
5 ngày sau tưới nước trở lại
Tỷ lệ héo sau
9 ngày gây hạn (%)
3 ngày sau tưới nước trở lại
5 ngày sau tưới nước trở lại
Trang 43.4 Ảnh hưởng của hạn đến một số chỉ tiêu
sinh lý của 2 giống đậu tương
Khi gặp hạn, thực vật có khả năng đóng khí
khổng để giảm sự thoát hơi nước và mở ra khi
tiếp tục được cung cấp nước Tuy nhiên khi đóng
khí khổng thì kéo theo giảm lượng CO2 xâm
nhập vào lá do đó đã ảnh hưởng đến cường độ
quang hợp Nghiên cứu của Earl (2002) cho rằng
sự liên quan chặt chẽ này thể hiện là cây có khả
năng quang hợp cao khi độ ẩm đất thuận lợi và
khả năng này giảm khi gặp điều kiện hạn
Cường độ quang hợp của 2 giống khác biệt
nhau, nhưng ở cả điều kiện có tưới và gây hạn
đều giảm dần qua các thời kỳ từ khi cây bắt đầu
ra hoa và đạt giá trị thấp vào thời kỳ quả mẩy
Tuy nhiên, giữa công thức để hạn và có tưới
trong cùng 1 thời kỳ thì cường độ quang hợp
chênh lệch rõ rệt (Bảng 4) Ở thời kỳ cây bắt đầu
ra hoa, sau 9 ngày để hạn, cường độ quang hợp
của 2 giống giảm rất rõ biểu hiện ở giống DT84
chỉ đạt 1,98 μmol/m2/s so với 10,47 μmol
CO2/m2/s trong điều kiện có tưới (Bảng 4a) Giá
trị tương ứng đối với giống M103 là 2,25
μmol/m2/s và 11,50 μmol CO2/m2/s Bước sang
thời kỳ hoa nở rộ, ở công thức để hạn cường độ
quang hợp đã giảm xuống chỉ còn 0,81 (μmol
CO2/m2/s s) đối với giống DT84 và 1,13 (μmol
CO2/m2/s s) đối với giống M103, trong khi đó ở
công thức tưới nước đầy đủ cường độ quang hợp
cũng có xu hướng giảm xuống thấp hợp so với
thời kỳ cây bắt đầu ra và đạt khá cao, 9,57 μmol
CO2/m2/s với giống DT84 và 10,13 μmol
CO2/m2/s với giống M103 Đến thời kỳ quả vào
chắc, cường độ quang hợp của 2 giống ở cả 2
công thức để hạn và có tưới đều giảm xuống thấp hơn so với 2 thời kỳ cây bắt đầu ra hoa và ra hoa
rộ, biểu hiện ở công thức tưới nước đầy đủ cường độ quang hợp của giống DT84 đạt 8,17 (μmol CO2/m2/s) và giống M103 đạt 8,67 (μmol
CO2/m2/s) cũng tương tự như công thức tưới nước đầy đủ công thức để hạn thời kỳ này cũng
có cường độ quang hợp đạt thấp nhất chỉ đạt 0,18 (μmol CO2/m2/s) đối với giống DT84 và 0,37 (μmol CO2/m2/s) đối với giống M103 Kết quả trong thí nghiệm này tương tự như thí nghiệm trước đây (Trần Anh Tuấn và cộng sự, 2007)
Độ thiếu hụt bão hoà nước (THBHN) khác nhau ít giữa giống nhưng khác biệt khá cao giữa điều kiện đủ nước và điều kiện hạn trong cùng giống (Bảng 4) Nhìn chung trong điều kiện hạn
độ thiếu hụt bão hòa nước tăng từ 2 lần ở thời kỳ bắt đầu ra hoa lên 3 lần ở thời kỳ ra hoa rộ và thời kỳ quả mẩy so với tưới nước đầy đủ Điều
đó chứng tỏ thời kỳ quả mẩy nhu cầu nước của cây cao nhất, thiếu nước sẽ làm giảm năng suất hạt
Hàm lượng chlorophyll tổng số trong lá có
xu hướng giảm dần qua các thời kỳ ở cả điều kiện hạn và tưới nước đầy đủ (Bảng 4) Tuy nhiên, ở điều kiện hạn hàm lượng chlorophyll trong lá thấp hơn rất nhiều so với điều kiện tưới nước đầy đủ Mức độ ảnh hưởng cũng tăng dần
từ thời kỳ bắt đầu ra hoa và đạt cao vào thời kỳ quả mẩy Giữa 2 giống tham gia thí nghiệm, giống M103 có hàm lượng chlorophyll trong lá luôn cao hơn giống DT84 trong cả 3 thời kỳ ở công thức gây hạn và công thức tưới nước đầy
đủ
Bảng 4 Ảnh hưởng của thiếu nước ở 3 thời kỳ gây hạn
đến một số chỉ tiêu sinh lý của 2 giống đậu tương DT84 và M103
I qh (μmol CO 2 /m 2 /s)
THBHN (%) Chlorophyll tổng số (mg/100g lá) Giống
Tưới Hạn Tưới Hạn Tưới Hạn
Thời kỳ bắt đầu ra hoa
Thời kỳ ra hoa rộ - làm quả
Thời kỳ quả mẩy
Trang 53.5 Ảnh hưởng của hạn đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của 2 giống
đậu tương
Ảnh hưởng của hạn tới các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất hạt ở mức cá thể được thể
hiện trong bảng 5
Giống DT84 có các yếu tố cấu thành năng
suất cao hơn M103 chút ít ở cả hai điều kiện có
tưới và không có tưới Ở cả hai giống các yếu tố
cấu thành năng suất chịu ảnh hưởng tương đối
khác biệt nhau và biến động theo giai đoạn mà
cây thiếu nước
Thiếu nước ở thời kỳ bắt đầu ra hoa ảnh
hưởng mạnh tới tổng số quả trên cây nhưng
không đáng kể đến khối lượng hạt với thiếu
nước ở giai đoạn sau (Bảng 5) Ngược lại khối
lượng hạt giảm rõ rệt khi cây bị hạn ở giai đoạn
ra hoa rộ - làm quả (P < 0,05) và giai đoạn quả
mẩy (P < 0,01) so với tưới nước đầy đủ, làm cho
năng suất cá thể bị ảnh hưởng đáng kể (P < 0,01)
Nếu xét theo thời kỳ gây hạn, khối lượng hạt
và năng suất cá thể đều giảm khác nhau ở mức tin cậy (P < 0,05), được xếp theo thứ tự R5 rồi đến R2-3 và R1 Ở thời kỳ quả mẩy, năng suất cá thể giảm mạnh nhất tới 61,6 % và 58,4 %, tương ứng ở giống DT84 và M103 Tương tự như những nghiên cứu trước đây (Doorenbos và Kassam, 1979; Constable và Hearn, 1980; Fouroud và cộng sự, 1993; Dogan và cộng sự, 2007; Trần Anh Tuấn và cộng sự, 2007), kết quả năng suất trong thí nghiệm này cho thấy đậu tương mẫn cảm nhất ở giai đoạn làm hạt (R5) Sự giảm năng suất trong thí nghiệm này cao hơn nhiều so với một số nghiên cứu khác trên điều kiện đồng ruộng (Karam và cộng sự, 2005; Dogan và cộng sự 2007)
Cả hai giống DT84 và M103 tương đối mẫn cảm với sự thiếu nước
Bảng 5 Ảnh hưởng của hạn đến đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất cá thể của 2 giống đậu tương
Tổng số quả /cây (quả)
Khối lượng 100 hạt (g)
Năng suất cá thể (g) Thời kỳ gây hạn Giống
Tưới Hạn Tưới Hạn Tưới Hạn
Mức suy giảm (%) DT84 9,18 6,55 16,98 16,82 2,81* 1,57 40,13 Bắt đầu ra hoa
M103 8,75 7,67 17,5 16,33 2,75* 1,80 34,55
Ra hoa rộ - làm quả
DT84 9,10 8,99 16,98** 10,97 2,92** 1,12 61,64 Làm hạt - quả mẩy
M103 8,96 8,25 17,16** 10,53 3,05** 1,27 58,36
Ghi chú : * Sai khác giữa hạn và tưới nước đầy đủ ở mức ý nghĩa P < 0,05
** Sai khác giữa hạn và tưới nước đầy đủ ở mức ý nghĩa P < 0,01
4 KẾT LUẬN
Ảnh hưởng của sự thiếu nước ở ba thời kỳ
trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực ở hai giống
đậu tương DT84 và M103, tuy không đáng kể
đến thời gian qua các thời kỳ nhưng làm giảm rõ
rệt cường độ quang hợp, hàm lượng chlorophyll
tổng số, tăng sự thiếu hụt nước bão hòa lá, làm
giảm khối lượng hạt và năng suất cá thể so với
điều kiện tưới đủ nước Nếu hạn ở giai đoạn đầu
của thời kỳ sinh thực cây có khả năng phục hồi
nhanh hơn và ảnh hưởng tới năng suất nhẹ hơn ở các giai đoạn sau Sự suy giảm năng suất mạnh nhất khi thiếu nước ở thời kỳ làm hạt, theo thứ tự
R5, R2-3 và R1 Tổng thể kết quả cho thấy hai giống đậu tương thí nghiệm DT84 và M103, khá mẫn cảm với sự thiếu hụt nước ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực bắt đầu từ khi ra hoa tới khi hạt mẩy Gây hạn trong chậu vào thời kỳ này có thể đánh giá và xác định nhanh các mẫu giống trong nguồn gen có khả năng chịu hạn phục vụ cho chương trình chọn giống
Trang 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Andrew James (2001) Looking for drought
tolerance in Soybean National Soybean
Conference in Vietnam 22-23 March 2001,
Hanoi, tr 146-147
Boyer, J S., Johnson, R R., Saupe, S G (1980)
Afternoon water deficit and grain yields in
old and new soybean cultivars Agron J 72:
981-985
Constable, G A., Hearn, A B (1980) Irrigation
for crops in sub-humid environment: the
effect of irrigation on the growth and yield of
soybean Irrigat Sci 2: 1-12
Doorenbos, J , Kassam, A H (1979) Yield
response to water Paper No 33 FAO,
Rome
Dogan, E, Kirnak, H., Copur Osman (2007)
Deficit irrigations during soybean
reproductive stages and CROPGRO-soybean
simulations under semi-ard climatic
conditions Field Crops Research 103:
154-159
Earl, H G (2002) Stomatal and non-stomatal
restrictions to carbon assimilation in soybean
(Glycine max) lines differing in water use
efficiency Enviromental and Experimental
Botany 48 (2002): 237-246
Fouroud, N, Mudel, H H., Saindon, G Entz, T
(1993) Effect of level and timing of moisture stress on soybean yield components Irrigat Sci 13: 149-155
Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần
Văn Phẩm (2000) Giáo trình sinh lý thực vật
NXB Nông nghiệp, tr.85 – 180
Meckel, L W., Egli, D B., Phillips, R E.,
Radcliffe, D and Leggett, J E (1984) Effect
of moisture stress on seed growth in soybeans Agron J 76:647- 650
Trần Đình Long, Andrew James, Ngô Quang
Thắng, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2001) Ảnh hưởng của tần số nước tưới lên sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương vụ đông
2000 tại Vasi Nation soybean Conference in
Vietnam 22-23 March 2000, Hanoi, tr.146 –
15
Trần Anh Tuấn, Vũ Ngọc Thắng, Vũ Đình Hòa
(2007) Ảnh hưởng của điều kiện hạn đến một
số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của một số giống đậu tương trong điều kiện nhà lưới
Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, Tập V, số 3:17-22
Trần Thị Phương Liên, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Đăng Tôn, Cao Xuân Hiếu, Nông Văn Hải, Lê Thị Muội, Trần Đình Long
(2003) Nghiên cứu sự đa dạng gen Chaperonin CCTδ ở cây đậu tương Tạp chí
Sinh học 3: 77 - 82