1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi

24 743 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 242,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuynhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức.Hiện mới chỉ có khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, trong đó khoảng 10%chuồng trại chăn nuôi hợp v

Trang 1

Đề tài báo cáo Quản lý môi trường trong hoạt

động chăn nuôi

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

I.1. Tính cấp thiết của đề tài:

Thách thức về môi trường đối với sự phát triển chăn nuôi là thách thức chungcủa tất cả các nước trên thế giới Giải bài toán ô nhiễm môi trường cho hoạt động chănnuôi là con đường hướng tới ngành chăn nuôi “xanh”, phát triển bền vững ở nước ta

Cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trạichăn nuôi tập trung Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong nông nghiệp Tuynhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức.Hiện mới chỉ có khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, trong đó khoảng 10%chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh; hộ có công trình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi Tuy nhiên, tỷ lệ hộ

có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6% Đối với các trang trại chăn nuôi tậptrung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt

Trang 3

để Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí ởnông thôn Ước tính, hiện có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quantới nguồn nước bị nhiễm vi sinh vật như giun sán, tả, bệnh ngoài da, mắt… Bên cạnh

đó, bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi cònthiếu và sự phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng, thiếu hợp lý, thiếu số lượng

và hạn chế về năng lực Nhận thức của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội nóichung về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôichưa đầy đủ và đúng mức

Chính những vấn đề cấp bách trên, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài :” Nội dungquản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi”

I.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu:

I.2.1. Mục tiêu

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiện trạng vấn đề và tìm kiếm những giải pháp hữu hiệucho vấn đề quản lý môi trường trong chăn nuôi trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.Chúng ta cần có được một tầm nhìn rõ ràng hơn về vai trò của vật nuôi và các hệthống chăn nuôi bền vững trong tương lai Cụ thể:

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạtđộng chăn nuôi, bao gồm các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia, các tài liệu hướng dẫn

Trang 4

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

II Nội dung nghiên cứu

2.1.Hiện trạng

a. Hiện trạng chăn nuôi ở Việt Nam

Việt Nam với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tếnông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hếtsức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động pháttriển chăn nuôi Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh rấtnhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe của cộng đồng dân cư địaphương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên mà nguyên nhân chính là do sựphát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, cộng với trình độ quản lý các loại chất thảichăn nuôi của người dân thấp.Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới(FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớnnhất Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăngtrưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tớixuất khẩu

• Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh.Tổng số lượng đàn gia súc, gia cầm cũng tăng lên nhanh chóng: tổng số đàn lợntăng từ 26,6 triệu con năm 2007 lên 27,4 triệu con năm 2010 ; đàn gia cầm tăng

từ 226 triệu con năm 2007 lên 300,5 triệu con năm 2010

Bảng 1.Số lượng một số gia súc, gia cầm tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011

Trang 5

Nghìn con Triệu con

+ Đàn lợn lái khoảng 4,15 triệu con, tăng 8,7% so với cùng kỳ

Về tình hình nuôi gia cầm:

- Tổng đàn gia cầm tại thời điểm ngày 1/04 trên cả nước là 311,0triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2011

Trang 6

+ Hiện nay tổng đàn trâu bò của cả nước là 7,97 triệu con Trong đó,đàn bò là 5,31 triệu con và đàn trâu là 2,36 triệu con, giảm tương ứng so vớicùng kỳ năm 2011 là giảm 7% đối với đàn bò và 5% đối với đàn trâu.

Tuy nhiên đàn bò sữa hiện nay đạt khoảng 158,0 ngàn con tang 10,7% sovới cùng kỳ năm 2011

- Chăn nuôi các loại gai súc khác ( dê, cừu, thỏ…): ước tính tăngkhoảng 2-3%

• Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ gia đình vẫn còn phổ biến: nhìn chungthì hình thức chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, tập trung ở các hộ nông dân vẫn là chủyếu Các hộ nông dân thường nuôi từ 2 đến 3 con trâu bò, 5 đến 10 con lợn và

20 đến 30 con gia cầm/hộ Đây là hình thức chăn nuôi truyền thống đã có từ lâuđời ở nông thôn Việt Nam, việc chăn nuôi nhỏ lẻ theo hộ gia đình này có thể kếthợp được với trồng trọt, tận dụng các phế phẩm thừa của nông nghiệp, quy mônhỏ, ít gây ô nhiễm cho môi trường và hiệu quả kinh tế không cao

Bảng 2: Số lượng các trang trại chăn nuôi trên cả nước

Stt Tỉnh, thành phố Số lượng trang trại Tỉ lệ(%)

Nguồn: Cục chăn nuôi, 2010

Trang 7

Hình ảnh chăn nuôi lợn trong hộ gia đình

• Trong những năm gần đây việc phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại tập trung phát triển mạnh: xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán theo hộ gia đình dần chuyển theo chăn nuôi trang trại tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa diễn ra mạnh ở nước ta Trong giai đoạn 2006 đến 2010 thì số lượng các trang trại chăn nuôi ở nước ta phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như quy

mô Năm 2006 cả nước có khoảng 17.721 đến năm 2010 đã tăng lên 23.558 trang trại Việc tập trung chăn nuôi theo trang trại đem lại hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa nhưng những trang trại theo hướng chuyên môn hóa cao đã gây ra sự ô nhiễm môi trường

Trang 8

Chăn nuôi gia đình theo hộ gia đình

Do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi thức ăn

và sức khỏe con người Trong quá trình chăn nuôi gia súc và gia cầm, quá trình lưu trữ

và sử dụng chất thải tạo nên nhiều chất độc như là SO2, H2S, CO2, NH3,… Và các vi sinh vật có hại như Enterobacteracea, E.coli, Salmonella,… Hay các ký sinh trùng gâybệnh cho người Các yếu tố này có thể gây ô nhiễm khí quyển, nguồn nước thông qua các quá trình lan truyền độc tố và các nguồn gây bệnh hay quá trình sử dụng các sản phẩm chăn nuôi Những vấn đề này cần được giải quyết và quản lý chặt chẽ

b. Thực trạng về quản lý và xử lý trong chăn nuôi

Hiện nay ở nước ta, phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn Vì vậy,việc xử lý và quản lý chất thải vật nuôi ở nước ta gặp nhiều khó khăn Những năm qua,chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3 biện pháp chủ yếu sau đây:

- Chất thải vật nuôi thải trực tiếp ra kênh mương và trực tiếp xuống ao, hồ;

Trang 9

- Chất thải được ủ làm phân bón cho cây trồng;

- Chất thải chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas)

Bên cạnh đó còn có một số phương pháp khác, nhưng chưa được nhân rộng như

xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình ), xử lý bằng hồ sinh học

Theo kết quả thống kê năm 2010, cả nước có khoảng 8.500.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình; khoảng 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn phần lớn có hệ thống xử lý chất thải với các loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để Chăn nuôi hộ gia đình mới có khoảng 70% tương ứng với khoảng 5.950.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi, trong đó mới có khoảng 8,7% hộ chăn nuôi có công trình khí sinh học (hầm Biogas)

Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10% Còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi và chỉ có 0,6% số hộ

có cam kết bảo vệ môi trường Số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas khoảng 67% Trong đó chỉ có khoảng 2,8% có đánh giá tác động môi trường

Bảng 3: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi

%

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Trang 10

Nguồn: Báo cáo công tác BVMT trong chăn nuôi năm 2009.

Do nhiều nguyên nhân khiến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chănnuôi vẫn còn nhiều mặt tiêu cực, tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một số cơ sởchăn nuôi lớn và chăn nuôi trong khu dân cư vẫn chưa được khắc phục triệt để và cóchiều hướng gia tăng

2.2.Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường

Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho thấy ngànhchăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng như thoái hóa đất,biến đổi khí hậu ô nhiễm không khí, gây thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, mất đadạng sinh học Tổng diện tích dành cho ngành chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặtkhông phủ băng tuyết của trái đất, thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng được dành

để sản xuất thức ăn chăn nuôi Vì vậy việc mở rộng chăn nuôi dẫn đến mất rừng làmcho đất bị xói mòn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô

Trong quá trình chăn nuôi lượng khí CO2 thải ra chiếm 9% toàn cầu và lượngkhí CH4 (một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần CO2) chiếm37% Lượng khí CH4 chủ yếu được tạo ra ở thú nhai lại, những vi khuẩn phân hủyCellulose trong cỏ để tạo ra năng lượng là một quá trình yếm khí, tiến trình đó gây ra

sự thoát khí CH4 qua ợ hơi Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lượng khí NOx (cókhả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO2) và tạo ra 2/3 tổng lượng phátthải khí NH3 nguyên nhân chính gây mưa axit phá hủy các hệ sinh thái

Trang 11

Thế giới hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng, theo dự

đoán đến năm 2025 thì 64% dân số thế giới sẽ phải sống trong điều kiện căng thẳng về

nguồn nước Trong khi đó sự phát triển ngành chăn nuôi làm tăng nhu cầu sử dụng nước

chúng chiếm khoảng 8% tổng lượng nước loài người sử dụng, đồng thời lượng nước thải

từ chăn nuôi đã là ô nhiễm môi trường bởi các chất kháng sinh, hoocmon, hóa chất sát

trùng,…làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Ngoài ra ngành chăn nuôi còn làm giảm lượng nước bổ sung cho các mạch

nước ngầm do mất rừng và đất bị thoái hóa, chai cứng giảm khả năng thẩm thấu Tất

cả các tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi trường dẫn đến kết quả tất yếu

là làm suy giảm đa dạng sinh học

2.3 Nội dung quản lí môi trường trong chăn nuôi

2.3.1.Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về môi trường trong hoạt động

chăn nuôi

Hiện nay, cả nước có hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ươngđến các địa phương Ở Trung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) là cơ quanđầu mối chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ về công tác quản lý nhà nước về môitrường

Ngoài Bộ Tài nguyên & Môi trường có 12 bộ, ngành tham gia quản lý nhà nước vềmôi trường bao gồm Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng,

Bộ Công An, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thống kê Trong

đó các đơn vị được phân công theo dõi trực tiếp về môi trường như sau:

Tại Bộ Nông nghiệp và PTNT, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường là đầu mốigiúp Bộ kiểm tra, đôn đốc các hoạt động bảo vệ môi trường toàn ngành; chủ trì thẩm địnhcác báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đồng

Trang 12

thời tổ chức giám sát, kiểm tra việc triển khai kết quả thực hiện đánh giá môi trường chiếnlược và đánh giá tác động môi trường trong của các dự án đã được phê duyệt; chủ trì tổ chứcviệc nhập, phổ biến, chuyển giao công nghệ mới; nâng cấp hệ thống quan trắc môi trường;xây dựng trang Web cảnh báo môi trường nông nghiệp; tổ chức thực hiện công tác thông tintuyên truyền.

Các Cục chuyên ngành chịu trách nhiệm trước Bộ về quản lý Nhà nước công tác môitrường thuộc lĩnh vực được phân công; đề xuất các cơ chế chính sách; tổ chức các mô hìnhquản lý môi trường hiệu quả; tuyên truyền giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức về bảo vệmôi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm

Tại một số Cục có các phòng chuyên theo dõi về môi trường Tại Cục Chăn nuôi cóPhòng Môi trường Chăn nuôi chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường chăn nuôitrong phạm vi toàn quốc

Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trườngtrong hoạt động của ngành thú y Từ năm 2004 đến nay, Bộ đã giao cho cục Thú y chủ trìtriển khai một số nội dung xử lý chất thải trong các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, giacầm, cơ sở kinh doanh sản xuất thuốc thú y, xây dựng hướng dẫn quản lý chất thải, phươngpháp xử lý xác gia súc, gia cầm… Kết quả được hội đồng khoa học đánh giá cao, có tính khảthi, được ứng dụng vào sản xuất

Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành thú y được xây dựng từ trung ươngđến địa phương: cấp Trung ương có 5 Trung tâm Thú y chuyên ngành; 7 Cơ quan Thú yvùng; 17 Trạm Kiểm dịch động vật xuất khẩu, nhập khẩu đóng tại các cửa khẩu, cảng, sânbay quốc tế Cấp địa phương: 63/64 tỉnh, thành phố có Chi cục Thú y trực thuộc Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, 58/63 tỉnh, thành phố có tổ chức mạng lưới thú y cấp xã.Tổng số cán bộ trên 54 ngàn người Phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chặt chẽ Cơ sở vậtchất và nhân lực phục vụ cho công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng môi trường của CụcThú y khá tốt hai trung tâm chuyên ngành đều có phòng môi trường, có nhiều năm kinhnghiệm với trang thiết bị phân tích hiện đại như ELISA, HPLC, PCR

Trang 13

Hệ thống thú y Trung ương và các tỉnh thành phố có mối quan hệ chặt chẽ với với cáctrường đại học, các viện nghiên cứu, các cơ quan trong và ngoài ngành trong các hoạt độngnói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.

Hiện nay, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về môi trường tương đối nhiều, trong đó

có một số văn bản liên quan đến môi trường chăn nuôi Những năm qua, từ trung ương đếncác địa phương, công tác tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đã được chú trọng

và bước đầu đã đạt được một số tiến bộ

Với hệ thống tổ chức như trên, công tác quản lý môi trường nói chung và môi trườngtrong chăn nuôi nói riêng do rất nhiều cơ quan đơn vị ở trung uơng và địa phương đảmnhiệm Do đó để bảo đảm hiệu quả trong công tác quản lý cần có sự phối hợp chặt chẽ giữacác cơ quan nêu trên Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp còn nhiều bất cập Do hệ thống tổchức chưa thống nhất, nên công tác quản lý nhà nước về môi trường trong chăn nuôi tại hầuhết các địa phương vẫn còn nhiều bất cập Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngànhchăn nuôi và môi trường còn thiếu chặt chẽ và thường xuyên, chưa phân cấp rõ ràng giữacác tổ chức này để tránh sự chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ

2.3.2 Luật pháp và các chính sách hỗ trợ trong chăn nuôi

* Luật pháp

- Tại Hiến pháp 1992 có quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân có nội

dung: các chủ trang trại phải thực hiện và tuân theo các quy định về bảo vệ môi

trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan

- Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN số 15/199QH10 cụ thể tại chương 17 về

các tội phạm môi trường, đặc biệt tại các điều 186( tội làm lây lan dịch bệnh nguy

hiểm cho con người) và điều 187( tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật,

thực vật)

Trang 14

- QCVN01- 15:2010/BNNPTNT : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia điều kiện trại

chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học

* Chính sách hỗ trợ

Những năm qua, thông qua các dự án đầu tư của nhà nước và quốc tế, nhiều

biện pháp về xử lý chất thải chăn nuôi đã và đang được áp dụng có hiệu quả Trong đó

phải kể đến chương trình khí sinh học đã và đang mang lại nhiều lợi ích quan trọng về

môi trường, kinh tế xã hội Một số chương trình, dự án lớn đang triển khai sau đây:

- Chương trình vệ sinh nước sạch môi trường nông thôn: Tại Quyết định số277/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định trong giai đoạn 2006 – 2010, các trạichăn nuôi và chất thải gia súc phải được điều chỉnh để đạt các yêu cầu về giảm ô nhiễmnguồn nước và môi trường Trong quyết định này có chính sách hỗ trợ xây dựng các côngtrình khí sinh học, cải tạo, xây dựng mới chuồng trại chăn nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường

- Chương trình khí sinh học (KSH): Sản xuất KSH từ chất thải chăn nuôi được xemnhư là con đường đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất carbon thấp, góp phần hạn chế biếnđổi khí hậu toàn cầu Với những lý do đó lần đầu tiên Bộ Nông nghiệp và PTNT đề xuất và

đã được Chính phủ phê duyệt một Hợp phần phát triển chương trình KSH bằng vốn vay củaNgân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Hợp phần này thuộc Dự án Nâng cao chất lượng, antoàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình KSH (gọi tắt là dự án QSEAP-BD),đang được triển khai tại 16 tỉnh, thành phố

Theo đó dự án hỗ trợ tối thiểu 1,2 triệu/công trình KSH Dự kiến từ năm 2012 sẽ tănglên 2,5 triệu đồng/công trình KSH Đồng thời dự án còn hỗ trợ tín dụng ưu đãi để cho nôngdân vay xây dựng công trình khí sinh học Thông qua kênh tín dụng này người dân có thểvay từ 10 triệu đến hàng trăm triệu đồng để mở rộng quy mô chăn nuôi gắn với xây dụngcông trình xử lý chất thải

Ngày đăng: 11/03/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số lượng các trang trại chăn nuôi trên cả nước - quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi
Bảng 2 Số lượng các trang trại chăn nuôi trên cả nước (Trang 6)
Hình ảnh chăn nuôi lợn trong hộ gia đình - quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi
nh ảnh chăn nuôi lợn trong hộ gia đình (Trang 7)
Bảng 3: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi - quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi
Bảng 3 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi (Trang 9)
Bảng 4: Khối lượng chất thải rắn vật nuôi - quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi
Bảng 4 Khối lượng chất thải rắn vật nuôi (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w