Tính ưu việt của các công cụ kinh tế là chúng không những đưa ra được con số giới hạn tổ chức cho các quyết định về môi trường, mà còn cho phép định lượng riêng biệt từng trường hợp một
Trang 2Bảo vệ môi trường ngày nay trở thành cấp thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế giới ở Việt nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, phương pháp:
“Mệnh lệnh – kiểm tra” đã và đang được sử dụng để thực hiện các mục tiêu về môi trường Song, trong cơ chế mới - cơ chế kinh tế thị trường: “Mệnh lệnh – kiểm tra” chưa thể tạo điều kiện tốt để các doanh nghiệp lựa chọn được giải pháp tối ưu tuân thủ qui định của nhà nước về bảo vệ môi trường
Hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, qúa trình công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng đã và đang gây ô nhiễm ngày càng tăng đối với môi trường nói chung và môi trường đô thị của thủ đô nói riêng Do đó tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hoà các xung đột giữa phát triển kinh tế thị trường & bảo vệ môi trường Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động có kế hoạch đưa bảo vệ môi trường vào chi phí sản xuất, kinh doanh và hoạch toán giá thành sản phẩm
Công cụ kinh tế là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ môi trường, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong các nước công nghiệp phát triển (OEDC)
Tính ưu việt của các công cụ kinh tế là chúng không những đưa ra được con
số giới hạn tổ chức cho các quyết định về môi trường, mà còn cho phép định lượng riêng biệt từng trường hợp một cách linh hoạt, trong khi vẫn đảm bảo được yêu cầu chung về chất lượng môi trường trong toàn khu vực Bên cạnh đó các
Trang 3
công cụ kinh tế còn mang lại các lợi ích tiềm tàng như: Nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy sự đổi mới trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm và giảm bớt chi phí trong kiểm soát ô nhiễm Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi các hoạt động kinh tế được điều chỉnh theo cơ chế thị trường, trong đó chi phí để đảm bảo chất lượng môi trường rất khác nhau giữa các doanh nghiệp Sự giám sát chất thải hoặc mức độ khai thác tài nguyên của các doanh nghiệp không còn dễ dàng như trong
cơ chế quản lý theo kế hoạch hoá tập trung
Tuy nhiên, để công tác quản lý môi trường – cũng như các công cụ kinh tế được thực thi và đem lại hiệu quả đòi hỏi sự tham gia tích cực của các cá nhân và cộng đồng Đó là sự tham gia từ xây dựng đến thực thi chính sách môi trường là ngôi nhà chung của toàn nhân loại
Hơn nữa, nhà nước pháp quyền Việt nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên nhân dân vừa là chủ thể quản lý, vừa là khách thể quản lý Như thế có nghĩa là nhân dân vừa là người quản lý, vừa là người bị quản lý
Với suy nghĩ như vậy, em rất vui mừng và hân hạnh được các thầy cô giáo
giao cho nhiệm vụ nghiên cứu đề tài về “Bước đầu nghiên cứu áp dụng các công
cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội” Chuyên đề của em gồm các phần
chính như sau:
Chương I: Cơ sở khoa học của việc sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường Phần này trình bày các cơ sở phương pháp luận, cơ sở khoa học – Thực tiễn, cơ sở pháp lý của việc ứng dụng các công cụ kinh tế, bản chất nội dung, đồng thời giới thiệu sơ lược về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Chương II: Thực trạng sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội Chương này nêu lên thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý môi trường trên địa bàn Hà nội
Chương III: áp dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội Phần này đưa ra những cơ sở lý luận của những kiến nghị về chính sách và các giải pháp áp
Trang 4I khái niệm chung về quản lý môi trường, sự cần thiết phải quản lý môi trường
1 Khái niệm chung về quản lý môi trường
Trước tiên chúng ta hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài
Quản lý môi trường là một dạng của quản lý Đó là sự tác động liên tục, có
tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường nên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành
Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mội người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường
Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có hiệu quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trường trong điều kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống
Việc tuân thủ luật pháp và các thông lệ (Công ước quốc tế) hiện hành là việc tiến hành các hoạt động phát triển theo đúng những điều mà luật pháp trong nước và quốc tế không cấm, những công ước mà thế giới đã thoả thuận
Trang 5
2 Sự cần thiết phải quản lý môi trường
Xét về mặt tổ chức kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý môi trường chính là sự kết hợp mọi sự lỗ lực chung của con người hoạt động trong hệ thống môi trường và việc sử dụng tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của toàn hệ thống và mục tiêu riêng của cá nhân hoặc nhóm người một cánh khôn khéo và có hiệu quả nhất Quản lý môi trường phải trả lời các câu hỏi “ Phải tiến hành các hoạt động phát triển nào, để làm gì?”, “Phải tiến hành hoạt động phát triển đố như thế nào, bằng cách nào?”, “Tác động tích cực và tiêu cực nào có thể xảy ra?”, “ Rủi ro nào có thể gánh chịu và cách sử lý ra sao?”
Quản lý môi trường được tiến hành chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn so với hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm người Nói một cách khác, thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường
Là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, đảm bảo ch hệ thống môi trường tồn tại, hoạt động và phát triển lâu dài, cân bằng
và ổn định vì lợi ích về vật chất và tinh thần của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau, vì lợi ích của cá nhân, cộng đồng địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế
II Đối tượng, mục tiêu, nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường
1 Đối tượng của quản lý môi trường
Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu tố) tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,
có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo những qui luật khác nhau và có con người tham dự
Trang 6
2 Mục tiêu của quản lý môi trường
Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần tạo lập sự phát triển bền vững Đó là cách phát triển “Thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau” Và được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: Kinh tế, xã hội nhân văn, môi trường và kỹ thuật với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực Giữa bốn lĩnh vực này có mối quan hệ tương tác rất chặt chẽ
và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển Chẳng hạn néu muốn phát triển kinh tế theo kiểu bền vững, thì không thể không chú ý đến những khó khăn nan giải về môi trường hoặc dựa vào sự huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển cũng không thể thành công, nêu snhư không
có sự phát triển đồng thời tài nguên nhân văn, nó cũng đòi hỏi sự chuyển dịch cơ
sở công nghiệp hiện tại, phát triển và quảng bá những kỹ thuật và công nghệ thân thiện với môi trường, với hành tinh nói chung
3 Nội dung của quản lý môi trường
Quản lý môi trường được tiến hành ở cả cấp vĩ mô và vi mô
ở cấp vĩ mô, quản lý môi trường bao gồm các nội dung sau đây:
+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường
+ Xây dựng,chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng – chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường
+ Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường
+ Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường
Trang 7
+ Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ
sở sản xuất, kinh doanh
+ Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
+ Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường: giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
+ Đào tạo cán bộ về học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức – pháp luật về bảo vệ môi trường
+ Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
+ Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
4 Các nguên tắc quản lý môi trường
4.1 Khái niệm
Các nguyên tắc quản lý môi trường là các qui tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải tuân thủ trong suốt quá trình quản lý môi trường
4.2 Yêu cầu của các nguyên tắc quản lý môi trường
+ Thể hiện được yêu cầu của các qui luật khách quan
+ Phù hợp với mục tiêu quản lý
+ Phải phản ánh khách quan và đúng đắn tính chất và các mối quan hệ quản
Trang 8+ Bảo đảm tính tập trung dân chủ
+ Kết hợp quản lý theo nghành và quản lý theo lãnh thổ
+ kết hợp hài hoà các lợi ích
+ Tiết kiệm và hiệu quả
III Các công cụ quản lý môi trường
1 Khái niên chung về công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp và phương tiện giúp cho việc thực hiện những nội dung của quản lý môi trường được tốt hơn
Phân loại công cụ quản lý môi trường, theo chức năng có ba loại: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Theo bản chất gồm có các công cụ luật pháp chính sách, công cụ kinh tế và công cụ kỹ thuật quản lý
Xét trên giác độ kinh tế và quản lý môi trường về mặt nhà nước có thể phân thành hai loại công cụ cơ bản:
+ Công cụ pháp lý
+ Công cụ kinh tế
2 Cưỡng chế hành chính bằng luật pháp và tiêu chuẩn
2.1 Mệnh lệnh và kiểm soát (CAC)
Hai phương thức chính để kiểm soát và quản lý chất thải là mệnh lệnh và kiểm soát và các chiến lược kinh tế Kể từ khi khởi đầu các chính sách môi trường
ở phàn lớn các nước công nghiệp hoá, các chính sách đã có xu hướng sử dụng
Trang 9
mệnh lệnh và kiểm soát (Tức là qui định trực tiếp cùng với các hệ thống giám sát
và cưỡng chế) như một chiến lược chính thống trong kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải Phương cách này nói chung, đòi hỏi chính phủ phải đặt ra các mục tiêu môi trường lấy sức khoẻ con người hoặc sinh thái làm gốc, hoặc qui định các tiêu chuẩn, lượng các chất ô nhiễm được phép thải bỏ, hoặc công nghệ mà những người gây ô nhiễm có thể sử dụng để đạt được những mục tiêu ấy Trong phần lớn các trường hợp phương thức mệnh lệnh và kiểm soát còn qui định thời gian biểu cho việc đáp ứng tiêu chuẩn, các thủ tục cấp phép và cưỡng chế thực thi đối với các phương tiện, qui trach nhiệm pháp lý và những hình phạt đối với những người
vi phạm trách nhiệm xây dựng và buộc thực hiện các tiêu chuẩn cùng các yêu cầu khác, được chia sẻ, theo các qui định của pháp luật, giữa các cấp chính quyền quốc gia và địa phương
Mặc dù chiến lược mệnh lệnh và kiểm soát đã đạt được các tiến bộ đáng kể trong nhiệm vụ giảm bớt ô nhiễm, nhưng nó cũng đã bị phê phán là không hoàn thành được các mệnh lệnh và thời hạn cuối cùng pháp lý khác nhau, không hiệu quả kinh tế và khó thực thi Các chiến lược này không có hiệu quả đối với các cơ quan điều chỉnh cần có các thông tin chi tiết về các qúa trình sản xuất và về sự thích hợp của các thiết bị kiểm soát ô nhiễm khác nhau Đối với các nghành công nghiệp đa dạng, thì việc có được những thông tin và tri thức chuyên sâu cần thiết đối với từng nghành công nghiệp, là một công việc cực kỳ tốn kém tiền của và thời gian Chỗ yếu khác của phương thức này là chi phí cao cho việc kiểm soát ô nhiễm lên hiếm có cơ hội để tận dụng được qui mô kinh tế Mặc dù các tiêu chuẩn có thể được áp dụng khác nhau, tuỳ thuộc vào tuổi và loại phương tiện, phần lớn những người gây ô nhiễm sử dụng cùng một qúa trình sản xuất, lại cũng phải yêu cầu phải đáp ứng một tiêu chuẩn Những người gây ô nhiễm có khả năng giảm ô nhiễm với chi phí thấp hơn lại không có cơ hội để thực hiện Hơn nữa, có rất ít sự linh động đối với những người gây ô nhiễm đã đàu tư vào một kiểu hệ thống kiểm soát ô nhiễm nào đó Kết quả là, phương thức mệnh lệnh và kiểm soát ô nhiễm ít khuyến khích đổi mới trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm, một khi tiêu chuẩn đã
Trang 10
đạt được rồi Hơn nữa, phương thức này là không đủ và không hữu hiệu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải mà các nhà quản lý môi trường gần đây đã gặp phải như: ô nhiễm không khí nguồn điểm (Nonpoint source pollution) (Như nước thải Nông nghiệp và Đô thị), đổ bỏ chất thải rắn, các vấn đề môi trường toàn cầu như suy giảm tầng ôzôn và sự thay đổi khí hậu
Phương thức mệnh lệnh và kiểm soát để kiểm soát ô nhiễm mà quản lý chất thải, chủ yếu dựa vào các công cụ pháp lý (Các tiêu chuẩn, các giấy phép, kiểm soát việc sử dụng đất…)
2.2 Các tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn là phương tiện chính để trực tiếp điều chỉnh chất lượng môi trường ở hầu hêt các nước phát triển Chúng xác định các mục tiêu môi trường và đặt ra số lượng hay nồng độ của các chất thải vào khí quyển, đất, nước hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng Các loại tiêu chuẩn gồm: Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, tiêu chuẩn thải nước, khí, các tiêu chuẩn dựa vào công nghệ, các tiêu chuẩn vận hành, các tiêu chuẩn sản phẩm và các tiêu chuẩn về qui trình công nghệ Các tiêu chuẩn cũng có thể bao gồm các qui cách kỹ thuật và thiết kế của các kỹ thuật hoặc phương tiện và sự tiêu chuẩn hoá các phương pháp lấy mẫu hoặc phân tích Trong một số trường hợp, khi xây dựng các tiêu chuẩn môi trường hoặc giới hạn thải bỏ đã cân nhắc đến việc chuyển các chất thải từ một môi trường trung gian này sang sang một môi trường trung gian khác, cũng như sự đáp ứng môi trường đối với chất ô nhiễm Một loạt tiêu chuẩn được dùng làm qui chế cho việc đánh giá hoặc mục tiêu hành động và kiểm soát pháp
lý Nói chung, tiêu chuẩn là do Chính phủ trung ương xây dựng, tuy nhiên trong một số trường hợp Chính phủ trung ương chỉ đặt ra những qui định khung để chính quyền địa phương, khu vực thực hiện Các tiêu chuẩn cấp bộ nghành nói chung không kém chặt chẽ trừ các trường hợp thật đặc biệt, một số trường hợp có thể chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia
Trang 11
Việc xây dựng tiêu chuẩn dựa trên giả định đã có cơ quan giám sát để giám sát những hoạt động của những người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh phạt những người vi phạm nếu cơ quan phụ trách không có quyền cưỡng chế thi hành thì điều duy nhất khiến người gây ô nhiễm phải làm đúng tiêu chuẩn sẽ là lương tri xã hội
Do vậy, nói chung tiêu chuẩn phải gắn với hình phạt (Như phạt tiền đối với người
vi phạm, thu hồi giấy phép), những người gây ô nhiễm cũng có thể bị hoặc đe doạ
bị truy tố trước pháp luật
***
2.3 Các loại giấy phép
Việc cấp hoặc không cấp các loại giấy phép hoặc các loại uỷ quyền khác là một công cụ quan trọng để kiểm soát ô nhiễm Các loại giấy phép nói chung thường được gắn kết với các tiêu chuẩn về chất lượng nước hay không khí và có thể còn phải thoả mãn những điều kiện cụ thể như phù hợp với qui phạm thực hành, lựa chọn địa điểm thích hợp để giảm tới mức tối thiểu những ảnh hưởng kinh tế và môi trường, lắp đặt một nhà máy sử lý hay một thiết bị kiểm soát ô nhiễm trong vòng một thời gian nhất định, hoặc sử dụng các biện pháp bảo vệ môi trường khác một lợi thế chính của các loại giấy phép là chúng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các chương trình môi trường bằng cách ghi vào văn bản tất cả những kiểm soát ô nhiễm của cơ sở đó Những lợi thế khác có thể rút hoặc tạm treo các giấy phép, tuỳ theo nhu cầu của nền kinh tế quốc dân hay lợi ích xã hội khác, và thường yêu cầu phải trả lệ phí để trang trải các chi phí cho chương trình kiểm soát ô nhiễm
2.4 Công tác kiểm soát việc sử dụng đất và nước
Kiểm soát việc sử dụng đất (Như khoanh vùng, các qui định về chia nhỏ) chủ yếu là công cụ của chính quyền địa phương được áp dụng để bảo vệ môi trường Khoanh vùng có thể định nghĩa là sự phân chia lãnh thổhay một khu vực hành chính khác thành quận, huyện và những qui định về việc được phép sử dụng đất, chiều cao, qui mô của các toà nhà hay cấu trúc khác trong những quận, huện
Trang 12
đó (Ví dụ: Phần trăm tối đa diện tích mặt bằng có thể sử dụng được, so với tổng diện tích lô đất) kích thước tối thiểu của lô đất được cấp và mật độ dân số Do vậy, khoanh vùng có thể ngăn ngừa việc bố trí các nghành công nghiệp gây ô nhiễm tại các địa điểm không thích hợp làm ảnh hưởng tới địa phương
Các biện pháp kiểm soát đối với việc sử dụng nước đặc biệt có thể được tiêu dùng để giới hạn hoặc cấm việc phát triển năng lượng, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại bờ sông, đáy biển, các hoạt động giải trí (Câu cá, bơi, bơi thuyền)
và sử dụng có nhiều khả năng gây ô nhiễm khác, tại các vùng nước qui định Trong nhiều trường hợp, những qui định này tạo một bộ phận của các biện pháp qui hoạch khu vực, hoặc qui hoạch đặc biệt, nhằm mục đích quản lý vùng ven biển, các vườn quốc gia, các bờ biển và các khu bảo tồn
3 Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức
3.1 giáo dục
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của quần chúng, mang tính xã hội rộng lớn, đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ dân trí Thông qua giáo dục, ý thức bảo vệ môi trường của cá nhân và cộng đồng ngày một nâng cao Thực tế cho thấy rằng ở các quốc gia, các vùng, các địa phương khác nhau có những nhạn thức khác nhau
về môi trường và tầm quan trọng của nó Cho nên, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng khác nhau Môi trường là ngôi nhà chung của nhân loại, là tài sản vô giá của con người Để bảo vệ môi trường tốt hơn, nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống toàn diện của con người hướng tới một xã hội bền vững, cần phải tiến hành giáo dục thường xuyên, tuyên truyền sâu rộng ở khắp mọi nơi, mọi lúc
về môi trường và bảo vệ môi trường
Qua qúa trình đi thực tập vừa qua, theo ý kiến chủ quan của tôi thì việc giáo dục môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân ở Việt nam cần phải tập trung vào những hướng chính sau đây:
+ Giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường là môn khoa học bắt buộc đưa vào trong cơ cấu chương trình của môn học bậc phổ thông từ cấp tiểu học cho đến
Trang 13
hết cấp trung học ở bậc đại học, tuỳ theo đặc trưng của nghành học, mà xây dựng nội dung chương trình môn học cho phù hợp, nhưng về cơ bản có hai dạng chính là: Giáo dục môi trường cho giai đoạn đại cương và giáo dụcđào tạo môi trường chuyên nghành
+ Giáo dục môi trường cho các nhà quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và hoạch định chính sách Đối với đối tượng này, những kiến thức về kinh tế môi trường phải là bộ phận bắt buộc trong cơ cấu kiến thức chuyên môn
+ Đối với quảng đại quần chúng cần có những chương trình chuyên sâu, liên tục thông qua các chương trình, hoạt động bổ ích thiết thực, tránh hình thức Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình, hoạt động này phải được hỗ trợ đắc lực của pháp luật, các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường Nếu chương trình hoạt động tuyên truyền, giáo dục công chúng này có kết quả sẽ đạt được mục tiêu kép: một là, nâng cao được ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân, từ đó có thể tiết kiệm được những chi phí cho việc giám sát sử lý ô nhiễm môi trường; hai là, khi bảo vệ môi trường đảtở thành ý thức của nhân dân, có thể tạo ra được áp lực ngày càng mạnh
mẽ và sắc bén để bảo vệ môi trường, nhất là trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3.2 Truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái
độ hành vi của con người trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường từ đơn giản nhất cho đến phức tạp nhất, và không những chỉ tự mình tham gia vào mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia tạo ra các kết quả có tính đại chúng
Truyền thông môi trường là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các loại công
cụ khác trong quản lý môi trường Trong bối cảnh quốc gia nói chung và các tỉnh, thành phố nói riêng tại Việt nam hiện nay, khi mà công cụ kinh tế môi trường, công cụ kỹ thuật công nghệ môi trường… đang tìm cách thích ứng để thâm nhập vào đời sống xã hội một cánh không dễ dàng thì truyền thông môi trường cần phải
Trang 14
được sử dụng và khai thác tối đa hiệu quả các lợi thế của nó, ngay trước mắt cũng như thường xuyên, lâu dài để khơi dậy mọi nguồn lực trong cộng đồng cùng tham gia vệ sinh môi trường, tức xã hội hoá công tác môi trường Tuy nhiên, truyền thông môi trường rất đặc biệt vì:
+ Môi trường là một hệ thống phức tạp
+ Tác động và hậu quả của hành vi không phù hợp với môi trường không
dễ dàng thấy được ngay
+ Nhiều người gây tác động đến môi trường thường không mang lại lợi nhuận trực tiếp
+ Đối tượng truyền thông là những người có trình độ học vấn, chuyên môn, kinh nghiệm sống, vị trí xã hội… rất khác nhau
Do đó, mục tiêu của truyền thông môi trường phải gắn liền với cộng đồng qua các nội dung cụ thể sau:
+ Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạng của họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục
+ Huy động, các kinh ngiệm kỹ năng, bí quyết địa phương tham giavào các chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường
+ Thương lượng hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp môi trường giữa các cơ quan, trong nhân dân
+ Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường – xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
+ Thông qua đối thoại thường xuyên trong xã hội khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu hơn
Ta có sơ đồ diễn tả mối liên hệ truyền thông môi trường như sau:
Trang 15
Sau đây là sơ đồ của các bước truyền thông hữu hiệu:
3.3 Hiện nay, Ngân hàng thế giới đã phát triển và cổ vũ cho một cách tiếp cận mới: Sử dụng thông tin như là một công cụ quản lý để hỗ trợ cho các phương pháp
quản lý môi trường bằng công cụ pháp qui và công cụ kinh tế, đã trở lên quen thuộcvới doanh nghiệp và Chính phủ
Sự tham gia của cộng đồng địa phương
Tài liệu hoá và giám sát
Phân tích tình hình
và xác định vấn
Phân tích khâu thính giả và kiến thức, tập quán của họ
Mục tiêu truyền thông
Xây dựng chương trình truyền
Lựa chọn phương tiện truyền thông
Điều chỉnh
Cộng đồng
có liên quan
Truyền thông môi trường
Vấn đề
môi
trường
Trang 16Cộng đồng có ý thức về môi trường và hiểu biết về sử dụng thông tin từ đó chủ động tham gia vào các hoạt động tại địa phương tạo ra những thách thức cho các doanh nghiệp phải thay đổi hành vi về môi trường trong hoạt động kinh doanh của mình
Để hiểu rõ hơn và phù hợp với vai trò của công cụ kinh tế trong đề tài này
Ta đi tìm hiểu về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
I\/: Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
1 Công cụ kinh tế là gì? Tại sao phải áp dụng công cụ kinh tế?
1.1 Công cụ kinh tế là gì?
Công cụ kinh tế là những chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của những hành động của hoạt động kinh tế thường xuyên xảy ra tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường
Trang 17
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng sử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường
Công cụ kinh tế đơn giản là con đườngmà Chính phủ có thể thay đổi hành
vi ứng xử của mọi người Thông qua việc lựa chọn những phương thức kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trường nhằmđạt mục tiêu môi trường
Công cụ kinh tế là biên pháp cung cấp “Những tín hiệu thị trường để giúp cho những người ra quyết định ghi nhận hiệu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ”
Từ các địng nghĩa trên, ta có thể rút ra hai điểm làm sáng tỏ thêm nội dung của công cụ kinh tế của phương tiện chính sách
1) Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các hành động làm tổn hại đến môi trường hoặc hạ giá cả của các hành động bảo vệ môi trường xuống
2) Công cụ kinh tế dành khả năng lựa chọn cho các công ty và cá nhânhành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ
Như vậy, công cụ kinh tế tương phản thường xuyên với các qui định “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC” Đó là hai mặt của phương tiện chính sách “Mệnh lệnh
và kiểm soát – CAC” được tiến hành thông qua những cơ chế ra lệnh cho các hành động môi trường xử phạt nếu không tuân thủ các qui định của nhà nước Ngược lại, các công cụ kinh tế duy trì một tập hợp tương đối rộng rãi các hành động môi trường có tính pháp lý, nhưng có xác định những hậu quả khác nhau đối với những
sự lựa chọn khác nhau
Từ những trình bày trên ta thấy:
+ Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được sử dụng
để đạt tới mục tiêu môi trường thành công
Trang 18
+ Công cụ kinh tế không phải là phương tiện chính sách riêng biệt mà chúng được sử dụng thường xuyên cung với các phương tiện chính sách khác như
đã qui định pháp lý về “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC”
1.2 Tại sao phải sử dụng công cụ kinh tế?
ở Việt nam, quan niệm công cụ kinh tế như là một phương tiện chính sách quản lý môi trường là điều hoàn toàn mới mẻ Trước thời kỳ đổi mới, quản lý đất nước chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ huy từ một trung tâm gần giống như CAC ở các nước tư bản Từ khi đổi mới đến nay, mặc dù tàn dư của chế độ cũ còn khá nặng
nề nhưng chúng ta đã từng bước đổi mới, nhìn nhận khôn khéo và khách quanhơn trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế đất nước
Trong hoạt động bảo vệ môi trường, khoảng 30 năm trước đây các nước tư bản phương tây cũng chỉ áp dụng như công cụ quản lý “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC” để quản lý môi trường, nhưng thực tế cho thấy chỉ bằng “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC” đã không đạt được hiệu quả mong muốn Bởi vì sự cắt giảm dần năng lực quản lý môi trường, thêm vào đó là sự quan tâm tới môi trường mang tính cứng nhắc, thiếu linh hoạt, CAC trở thành ưu tiên cao hơn phương tiện chính sách thông qua giá cả
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao phương tiện chính sách thông qua cơ chế tài chính lại có linh hoạt và mềm dẻo để cho mọi cá nhân, các doanh nghiệp và các công ty
có thể hưởng ứng giá mong muốn Đó là vì ba điều thuận lợi chủ yếu:
+ Tăng hiệu quả đầu tư
+ Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới
+ Khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin tốt hơn
2 Các nguyên tắc
2.1 nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP)
Nguyên tắc PPP có nguồn gốc từ sáng kiến của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OEDC) đề ra năm 1972 và 1974
Trang 19Ví dụ: Giả sử có một công ty sản xuất giấy từ các vật liệu thô Trong qúa trình sản xuất, họ tự tiện thải các chất thải gây ô nhiễm vào sông dưới dạng các sản phẩm thải loại, mà không phải trả một đồng nào cả như vậy là công ty đã gây ra thiệt hại cho môi trường, nhưng lại không bị thu phí để bồi thường thiệt hại này Nguyên tắc PPP cho rằng công ty đó phải dặt thiết bị giảm thiểu ô nhiễm hoặc phải bồi thường cho những người sống ở cuối dòng sông, tức là những người bị thiệt hại do việc làm ô nhiễm dòng sông gây ra
Xuất phát từ những luận điểm của Pigou về kinh tế phúc lợi Nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hàng hoá và dịch vụ
có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả các chi phí môi trường (Chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên cũng nhưca dạng chi phí sản xuất và tiêu dùng hàng hoá dịch vụ Nếu không, sẽ dẫn đến viêc sử dụng bừa bãi các nguồn tài nguyên, làm cho ô nhiễm môi trường trở lên trầm trọng hơn so với mức tối ưu đối với xã hội Việc buộc người gây ô nhiễm phải trả tiền là một trong những cách tốt nhất để làm giảm bớt các tác động của ngoại ứng gây tác động xấu tới môi trường
Có những trường hợp nguyên tắc PPP bị phản đối Bởi vì:
+ Thứ nhất: Các tác nhân gây ô nhiễm có thể được cung cấp, trợ giúp về tài chính kỹ thuật, trong khi đó nguyên tắc PPP đòi hỏi phải được áp dụng nhằm đạt được các mục tiêu môi trường rộng rãi và sâu sắc
+ Thứ hai: Nếu thực hiện nguyên tắc PPP được dự kiến là dán đoạn quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một thời gian ngắn, thì những người gây ô nhiễm vẫn có thể được trợ giúp tương tự như trên
Trang 20
Mặc dù nguyên tắc PPP tự nó sẽ còn phát triển tiếp tục nhưng gần đây, nó
đã được củng cố bởi bốn nguyên tắc cơ bản khác nhằm tạo ra các nguyên tắc chủ đạo cho việc hoạch định các chính sách môi trường “ nguyên tắc phòng ngừa”, “ nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí”, “nguyên tắc cấp dưới” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp” Những nguyên tắc này đã bổ xung cho các thiếu sót của nguuyên tắc PPP
2.2 Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (BPP)
Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu
về môi trường Đối nghịch với việc trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí Nói cách khác là trong tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành, không bị ô nhiễm thì đều phải nộp phí
Nguyên tắc đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với cách nhìn nhận tương đối là việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cao chất thải gây ô nhiễm môi trường
Về thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như là một định hướng
hỗ trợ nhằm đạt được các mục tiêu môi trường, cho dù là mục tiêu bảo vệ hay là phục hồi môi trường Nếu mức phí có thể thu đủ để dành cho các mục tiêu môi trường, thì lúc đó chính sách này có thể coi là chính sách có hiệu quả về môi trường Mục tiêu của BPP là nhằm bảo vệ môi trường, do đó nó được công chúng ủng hộ rộng rãi
Xét về mặt hiệu quả kinh tế, thì nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao, ví rằng hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn lợi được sử dụng tối ưu Do vậy, hiệu quả kinh tế có thể đạt được nếu việc xác định mức phí,
lệ phí môi trường đưa ra ở mức tối ưu và khoản phí, lệ phí thu được chủ yếu phục
vụ cho các biện pháp cụ thể liên quan đến bảo vệ môi trường
Trang 213 Cơ sở pháp lý để áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam
3.1 Luật bảo vệ môi trường
Được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua 12/1993 là bộ luật
cơ bản và quan trọng nhất về bảo vệ môi trường ở Việt nam
Điều 7 chương I của luật bảo vệ môi trường tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, hoạch định các chính sách phù hợp nhằm áp dụng các công cụ kinh tế vào lĩnh vực bảo vệ môi trường
Luật bảo vệ môi trường đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho thực hiên chính sách môi trường có hiệu quả Công cụ kinh tế là loại công cụ linh hoạt, mềm dẻo hỗ trợ việc thực hiệnluật bảo vệ môi trường
3.2 Nghị định 175/CP về hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ môi trường
Điều 8(2) qui định, các cơ sở kinh doanh hoặc sản xuất chịu sự kiểm soát của luật bảo vệ môi trường cần có trách nhiệm: “… Đóng góp tài chính cho công tác bảo vệ môi trường, đền bù cho những người thiệt hại về môi trường phù hợp với điều khoản được nêu trong luật”
Điều 34 nêu rõ các đối tượng phải trả cho công tác bảo vệ môi trường
Trang 22
Các điều khoản của nghị định 175/CP đã chi tiết hoá và cụ thể hoá các điều khoản luật bảo vệ môi trường Đó là cơ sở cho việc nghiên cứu công cụ kinh tế và công tác bảo vệ môi trường ở Việt nam
3.3 Các văn bản liên quan khác
Liên quan đến việc thực hiện áp dụng các công cụ kinh tế vào quản lý môi trường ở Việt nam còn có nhiều văn bản khác của nhà nướcv các bộ liên quan như:
+ Quyết định số 276 ngày 28/7/1992nêu rằng tất cả các loại phí và lệ phí do các cơ quan nhà nước thu cần được đăng ký tại cục thuế
+ Thông tư 48TC/TCT về đăng ký thu phí và lệ phí ban hành 9/1992
+ Nghị định số 26/CP ra ngày 26/4/1996 của chính phủ qui định sử phạt vi phạm hành chínhvề bảo vệ môi trường
Trong điều kiện 1 về nguyên tắc sử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, tại mục 1 và 5 nêu rõ
“ Mọi hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui tấc quản lý nhà nước về bảo
vệ môi trường dưới đây gọi là vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu tách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật phải xử phạt hành chính”
“ Việc sử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường phải căn cứ vào tính chất mức độ thân nhân và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định hình thức xử phạt và các biện pháp xử lý thích hợp theo quyết định của nghị định này”
Các văn bản đã nêu trên tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, thực thi và áp dụng các công cụ kinh tế vào hoàn cảnh của Việt nam cho giai đoạn từ nay đến năm 2020
4 Các loại công cụ kinh tế
4.1 Tiền phí và tiền thuế.(Charges and taxes)
Trang 23
Làm tăng thêm cái giá phải trả cho những hoạt động có ảnh hưởng lớn (Tham gia và cản trở) đến mục tiêu bảo vệ môi trường và thu thập chung của xã hội Một cách tổng quát, ta có thể chia những khoản tiền nói trên thành các loại sau đây: Thuế đầu vào và đầu ra của sản phẩm, tiền thù lao (Hay tiền công) cho việc phân phối, vận chuyển hàng hoá, tiền khuyến khích người sử dụng (Khuyến mại) và lệ phí luân chuyển (Quay vòng), lệ phí đặt cọc trước
4.2 Các chương trình thương mại
Các chương trình thương mại có liên quan đến việc bảo vệ môi trường được phản ánh bằng nhiều cách khác nhau thông qua những hạn nghạch (Quotas) có thể trao đổi, mua bán đặt công việc thu gom đồ phế thải gây ô nhiễm môi trường
và qui định mức ô nhiễm cho mỗi cá nhân Trong giới hạn cho phép, những người chủ gây ra ô nhiễm có thể buôn bán, trao đổi mức độ ô nhiễm đã được qui định cho họ sao cho nó có thể đạt được tổng giá chi trả ít nhất (hay nhờ vào công cụ này
mà những người chủ gây ra ô nhiễm chịu mức chi phí thấp nhất cho việc bảo vệ môi trường)
Liên quan đến việc phát thải còn có cả việc phát tán lẫn việc thu gom, vận chuyển Nguồn phế thải ghi trong chương trình thương mại có thể là điểm, các nguồn di động hoặc cả hai nguồn đó
Ngoài việc buôn bán giấy phép thu gom, xử lý chất thải còn có thể bán nhiều loại giấy phép khác như: Giấy phép hoạt động tiêu thụ các chất độc hại, giấy phép vật nuôi…
Trang 244.5 Đầu tư cho bảo vệ môi trường
Đây là công cụ quan trọng tạo ra nguồn kinh phí cơ hội tốt nhất cho sự phát triển bền vững Thực tiễn cho thấy quốc gia nào nhìn nhận sớm vấn đề này sẽ tránh được những thiệt hại không đáng có do ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường gây ra
Đầu tư cho bảo vệ môi trường có thể được phân thành hai nhóm cơ bản: + Đầu tư quốc tế: Tức là đầu tư của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và cá nhân nước ngoài cho nước sở tại với mục tiêu bảo vệ môi trường Ví dụ như nguồn của UNDP, ODA, WB…
+ Đầu tư trong nước: Bao gồm việc huy động từ ngân sách nhà nước, vốn trong dân cho mục tiêu bảo vệ môi trường, vốn từ các tổ chức phi chính phủ ủng hộ cho mục tiêu bảo vệ môi trường Có thể lấy ví dụ như chương trình 327 của Việt nam là một hình thức sử dụng vốn của nhà nước cho bảo
Trang 25
chấp hành tốt chương trình bảo vệ môi trường Nừu công ty không thi hành đúng cam kết chương trình bảo vệ môi trường thì số tiền hoặc tài sản ký cược sẽ bị tịch thu và xung vào công quỹ Sau đó, có thể sử dụng tài sản ký cược này để chi trả cho những phí tổn nhằm khôi phục lại môi trường, khắc phục những tổn hại mà công ty đã gây ra, hoặc đền bù những thiệt hại cho nhân dân
Đây là việc làm hợp lý vì một công ty nào đó có thể không chịu thực thi chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường mà họ đã cam kết Ngoài ra, đảm bảo tài chính còn nhằm vào các mục đích:
+ Tăng cường sự thoả thuận giữa hai bên với những luật lệ kiểm tra nghiêm ngặt
+ Bảo vệ đất ngập nước ở gần đó khỏi sự buôn bán hoặc phát triển nhà ở + Đảm bảo sự cải tạo sau khi khai thác mỏ một cách thích hợp
+ Đảm bảo sự an toàn lao động, tăng cường quản lý đất hoang, đặc biệt là quản lý việc lập đất, khôi phục quĩ đất
4.6.2 Trách nhiệm pháp lý đối với môi trường
Trách nhiệm pháp lý trước hết, qui định những người gây ô nhiễm phải trả tiền do đã làm tổn hại đến môi trường, hoặc phải chi trả một số tiền để tu tạo lại cảnh quan môi trường Theo chế độ pháp lý này, những người gây ô nhiễm chỉ phải chi trả tiền khi mà trước toà họ đã nhận là có lỗi
Hai là, chế độ pháp lý gắn trách nhiệm bồi thường của bản thân người gây ô nhiễm với những rủi ro môi trường do hành vi phạm luật của họ gây nên
4.6.3 Cung cấp thông tin
Là một thứ công cụ nhằm khai thác sức mạnh của thị trường để đạt tới các
kế hoạch bảo vệ môi trường một cách cần thiết Bởi vì, việc cung cấp thông tin về
Trang 26+ Giấy chứng nhận về kỹ thuật môi trường: Những công ty chuyên bán các
kỹ thuật bảo vệ môi trường nhận được giấy chứng nhận này từ những khách hàng khi mà họ đã sử dụng và đánh giá tốt kỹ thuật đó
+ Đăng ký ISO14000: Đây là số ghi ý kiến của khách hàng, và là một phương thức chỉ rõ ch khách hàng biết công ty từ trước đến nay vẫn được công nhận là hoàn thành tốt các kế hoạch môi trường
4.6.4 Chuyển dịch thuế gây nản chí
Trong một số trường hợp, có những cách đánh thuế sẽ nhằm làm giảm bớt
sự hứng khởi trong công nghệ bảo vệ môi trường Nếu loại bỏ được cách đánh thuế này thì sẽ giải phóng được sức mạnh thị trường, từ đó có ảnh hưởng tốt đến công cuộc bảo vệ môi trường
4.7 Các khuyến khích cưỡng chế thực thi
Các khuyến khích buộc thực thi Là công cụ kinh tế gắn với sự điều chỉnh trực tiếp, chúng được thiết kế để khuyến khích những người xả thải làm đúng các tiêu chuẩn và qui định về môi trường Các khuyến khích thực thi bao gồm phí hoặc tiền phạt do không làm đúng, cam kết thực hiện đúng và qui trách nhiệm pháp lý Chúng cũng bao gồm từ chối các trợ cấp công cộng, tài trợ và đình chỉ một phần hoặc toàn bộ các hoạt động của một nhà máy
+ Phi không tuân thủ: Được đánh vào những người gây ô nhiễm khi họ xả thải ô nhiễm vượt quá mức đặt ra Các khoản phạt thực hiện không đúng cần phải gắn với vi phạm và thời hạn của sự vi phạm và phải lớn hơn các chi phí ước tính
để nguồn ô nhiễm đáp ứng yêu cầu của các qui định
Trang 27
+ Các cam kết thực hiện tốt: Là khoản tiền phải trả cho các cơ quan điều chỉnh trước khi tiến hành một hoạt động có tiềm năng gây ô nhiễm Khoản tiền này sẽ được trả lại khi biểu hiện môi trường của hoạt động này có thể chấp nhận được
+ Qui trách nhiệm pháp lý: Dành cho những người gây ô nhiễm tiềm năng hay thực tế những khuyến khích bảo vệ môi trường bằng cách buộc họ chịu trách nhiệm về những tổn thất do họ gây ra Điều này đảm bảo cho các nạn nhân tổn thất môi trường được đền bù và được dùng như biện pháp phòng ngừa
5 Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi trường
5.1 Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mục đích của thuế tài nguyên là:
+ Hạn chế những nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý + Hạn chế sử dụng các tổn thất tài nguyên thiên nhiên trong quá trình khai thác và sử dụng
+ Tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân
cư về sử dụng tài nguyên
Trong khai thác tài nguyên ở Việt nam có hai dạng thuế tài nguyên đang được sử dụng đó là: Thuế sử dụng đất và thuế tài nguyên thiên nhiên khoáng sản
+ Thuế sử dụng đất được thực hiện bằng các hợp đồng thuê đất Trong đó, tiền thuế đất của các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản tính theo diện tích đất và thời gian thuê đất, cách xác định này phù hợp với mức độ sử dụng đất
+ Thuế tài nguyên xác định khoản tiền doanh nghiệp khai thác và chế biến phải nộp cho ngân sách do được quyền khai thác khoáng sản trên diện tích đất thuê Số tiền phải nộp thuế tài nguyên khoáng sản theo điều 34 của luật khoáng sản được quốc hội thông qua ngày 20/3/1999 là:
Trang 28
T = M.X.G Trong đó:
T là tiền thuế doanh nghiệp phải nộp
M là sản lượng khoáng sản khai thác được
G là giá bán khoáng sản thương phẩm
X là thuế suất
Với cách tính này, thuế tài nguyên khoáng sản đã chuyển từ loại thuế tài sản (Trữ lượng khoáng sản doanh nghiệp được giao khai thác) thành thuế hàng hoá (Sản lượng khoáng sản được khai thác) Mục đích là để hạn chế tổn thất tài nguyên khoáng sản và hạn chế nhu cầu tài nguyên không hợp lý bằng thuế tài nguyên khoáng sản
Cách tốt nhất để tính thuế tài nguyên khoáng sản là kết hợp thuế đất và thuế tài nguyên khoáng sản thành một loại thuế địa tô với toàn bộ diện tích đất sử dụng cho khai thác lượng khoáng sản chứa trong lòng đất cho doanh nghiệp ngay từ giai đoạn cấp giấy phép khai thác
Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên sẽ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ kỹ thuật và năng lực quản lý, giảm tổn thất dạng tài nguyên không tái tạo quan trọng của đất nước
5.2 Côta gây ô nhiễm (Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng)
Côta gây ô nhiễm là một dạng giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí ngiệp… Được phép thải các chất ô nhiễm vào môi trường
Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép gọi là côta ô nhiễm và cách thức công nhận được quyền thải một lượng chất ô nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho các nguồn thải
Trang 29
Khi được mức phân bổ côta gây ô nhiễm ban đầu, người gây ô nhiễm có quyền mua và bán côta ô nhiễm Họ có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức phát thải gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất Mua côta ô nhiễm để được phát thải gây ô nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư xử lý ô nhiễm để đạt tiêu chuẩn cho phép Nghĩa là những người gây ô nhiễm sẽ thúc đẩy chi phí côta ô nhiễm thấp hơn thì họ sẽ lại bán lại côta cho người gây ô nhiễm ở mức cao hơn
Như vậy, sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm sẽ thúc đẩy quá trình chuyển nhượng Côta gây ô nhiễm Thông qua chuyển nhượng, cả hai người bán và người mua đều có thể giảm được chi phí đầu tư cho mục đích môi trường, đảm bảo được chất lượng môi trường
Việc chuyển nhượng côta gây ô nhiễm có thể diễn ra giữa các nguồn thải cùng một địa điểm, một công ty hay gữa các công ty trong cùng một khu vực, cùng một lưu vực, và cũng có thể diễn ra giữa các khu vực chuyển nhượng khác nhau Để hiểu được chuyển nhượng côta gây ô nhiễm diễn ra như thế nào, ta có thể xem xét ví dụ sau:
Giả sử có 2 xí nghiệp A và B đều thải SO2 vào môi trường Chi phí kiểm soát thải khí của 2 xí nghiệp (XN) khác nhau: XN A 20 USD/tấn SO2; XN B 30 USD/tấn SO2 Cả 2 đều thải vào môi trường một lượng là 5tấn (Tổng là 10 tấn)
Chính quyền chỉ cấp côta gây ô nhiễm cho phép thải 8 tấn SO2 và yêu cầu mỗi xí nghiệp giảm một lượng thải là 1 tấn SO2 Như vậy tổng chi phí thực hiện là
20 USD + 30 USD = 50 USD
Chính quyền coi A và B là những người gây ô nhiễm bình đẳng nên cấp 4 côta gây ô nhiễm cho mỗi xí nghiệp Côta gây ô nhiễm này được phép mua bán trên thị trường Giả sử là 24 USD/tấn SO2
Vì A cần chi phí 20 USD cho việc giảm 1 tấn SO2 cho nên so với việc mua giấy phép thì đầu tư xử lý chất thải đối với A là có lợi hơn Nếu giảm thải xuống còn 3 tấn SO2 (Xử lý 2 tấn) A sẽ dư 1 côta gây ô nhiễm để bán cho B, mà chi
Trang 30Chi phí cắt giảm 1 tấn SO2 không qua
chuyển nhượng
XN A (20USD/tấn SO2)
XN B (30USD/tấn
SO2) Chi phí kiểm soát ô nhiễm thực tế do
Thu lợi qua mua bán 20 – 16 = 4 30 – 24 = 6 Khoản lợi thu được từ sự chuyển nhượng côta gây ô nhiễm giữa A và B là:
4 + 6 = 10 USD
Các nhà sản xuất sẽ tự động chuyển nhượng những côta gây ô nhiễm nếu
họ thấy được lợi ích từ việc đó, do vậy tổng chi phí cho kiểm soát ô nhiễm là thấp nhất
Việc chuyển nhượng côta gây ô nhiễm là điều mà nhà nước và các nhà sản xuất đều mong muốn Nhưng quan trọng là phải có những nguyên tắc chuyển
Trang 31Có hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó là 2 dạng phí phục vụ môi trường
5.3.1 Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước thải
Đối tượng của loại hình dịch vụ này bao gồm các hộ gia đình, cơ sở kinh doanh dịch vụ và một số ít các nhà máy sản xuất công nghiệp qui mô nhỏ
Nguyên tắc chung của phí dịch vụ này là: Tổng các nguồn phí thu được phải đưa ra cho dịch vụ cung cấp nước và xử lý nước thải (Loại trừ phí xây dựng
cơ bản) Ngoài ra giá dịch vụ phải phản ánh được mức chi phí của dịch vụ và khuyến khích các hộ gia đình, sản xuất, kinh doanh sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
5.3.2 Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải
chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt, dịch vụ kể cả chất thải đô thị độc hại Dịch vụ liên quan đến chất thải rắn sẽ có tác dụng tích cực không chỉ riêng cho môi trường mà cho cả phát triển kinh tế Chính vì thế việc xác định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phải được nghiên cứu, xét kỹ trên cơ sở vừa đảm bảo bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển xử lý vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đình giảm thiểu rác thải
5.4 Hệ thống đặt cọc hoàn trả
Trên thực tế nhiều nước đã áp dụng hệ thống này như một biện pháp để thu hồi lại các chai lọ, thuỷ tinh trong công nghiệp đồ uống, sản xuất ôtô hay công nghiệp sản xuất pin… Ngoài ra, hệ thống đặt cọc hoàn trả cũng có thể xem xét để
Trang 32
áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất và lưu hành trên thị trường, nếu sản phẩm đó sau khi sử dụng có khả năng tái sử dụng dưới dạng nguyên liệu hoặc sản phẩm tái tạo
Trong một số trường hợp, việc sử dụng phí môi trường không phải là lúc nào cũng đạt hiệu quả tốt nhất Nhưng nói chung, phí môi trường được áp dụng có hiệu quả đối với các nguồn thải mà tác động chính đến môi trường phức tạp và có chiều hướng tăng dần độc tính đối với môi trường
Để đảm bảo tính công bằng và thuyết phục, cùng với việc xây dựng chương trình môi trường cần phải xác định cơ sở khoa học và thực tiễn cho phí môi trường, cần phải xác định được nội dung cần thiết kèm cơ sở cho việc thu phí là rất khó khi chưa có cơ sở khoa học, luận chứng môi trường và kinh nghiệm áp dụng thực tế phí môi trường có thể xác định theo 3 cách tiếp cận khác nhau:
+ Phí môi trường theo nguồn thải
+ Phí môi trường tính theo đầu vào của nguyên liệu
+ Phí môi trường tính theo sản phẩm cuối cùng
Trang 33
Chương II Thực trạng sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà
nội
i giới thiệu chung về Hà nội và sự cần thiết phải sử dụng công cụ kinh tế
1 Đặc điểm tự nhiên của Hà nội
1.1 Vị trí địa lý
Hà nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng có độ nghiêng 0,30 theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở vĩ độ 20,570 đến 21,250 vĩ tuyến Bắc, 105,350 đến 106,010kinh đông
Chiều dài Bắc – Nam 93 Km, Đông – Tây 30 Km Diện tích đất tự nhiên của Hà nội là 920,97 Km2
1.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 34
Hà nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Gió Đông – Nam vào mùa hè, gió Đông – Bắc vào mùa đông Độ ẩm trung bình 81% - 82%
Nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng từ 23,5 0C năm 1985 lên 24,4 0C năm
2000 Hàng năm chịu ảnh hưởng của 8 – 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua
Số ngày mưa trong năm từ 140 – 160 ngày, lượng mưa trung bình trong năm là 1480,6 mm
Về địa hình Hà nội có các sông chảy qua như: Sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Công, sông Cà Lồ với chiều dài 1250 Km độ cao địa hình trung bình 6 -9 m, thấp hơn mực nước sông Hồng (Mùa lũ lớn từ 12 – 13 m) Đây là một trở ngại lớn cho việc tiêu thoát nước của Hà nội
Hà nội có trên 100 ao, hồ, đầm với tổng sức chứa 15 triệu m3 nước, trong
đó nội thành có 16 hồ, tổng diện tích 592 ha chiếm 17% diện tích nội thành Các
ao hồ này ngoài việc tạo cảnh quan còn có tác dụng điều hoà khí hậu, nước mưa, nuôi thuỷ sản, tiếp nhận một phần nước thải và có khả năng tự làm sạch nhất định
Nước ngầm tầng sâu Hà nội khá phong phú và là nguồn nước sạch để cung cấp chính cho nước sinh hoạt,cũng như nước phục vụ cho một số nghành công nghiệp khác của thành phố với khả năng khai thác 800.000 – 900.000 m3/ngày đêm
2 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1 Đất đai, dân số
Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên của Thành phố là 920,97 Km2 được phân bố:
+ Diện tích nội thành: 84,3 Km2 chiếm 9,15%
+ Diện tích ngoại thành: 836,67 Km2 trong đó:
- Đất nông nghiệp 447,85 Km2 chiếm 48,63%
- Đất lâm nghiệp 66,3 Km2 chiếm 7,2%
Trang 35
- Còn lại 322,52 Km2 là các loại đất chuyên dùng cho công nghiệp, đất dân cư và chưa sủ dụng
Dân số: Dân số Hà nội tương đối lớn, đứng thứ 2 trên toàn quốc Theo số
liệu của tổng cục thống kê dân số Hà nội trong mấy năm gần đây như sau:
Đơn vị: nghìn người
( Nguồn: Tổng cục thống kê) mật độ dân số trung bình 2993 người/Km2 đứng đầu cả nước Tuy nhiên mật độ phân bố không đồng đều: Diện tích nội thành 9,2% nhưng lại chiếm 53% dân số đưa mật độ dân số lên 17489 người/Km2
Tốc độ tăng dân số tự nhiên có xu thế giảm dần từ 1,475% năm 1995 còn 1,087% năm 2000 Trong khi tốc độ tăng cơ học lại tăng rất nhanh do dòng người
từ nông thôn và các tỉnh tràn vào mỗi năm ngày một nhiều
2.2 Tổ chức hành chính
Hà nội được chia thành 7 quận nội thành gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống
ĐA, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy và 5 huyện ngoại thành gồm: Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm Hà nội có 220 phường xã và 8 thị trấn
2.3 Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội
Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng GDP: Tăng trưởng GDP của Hà nội trong những năm gần đây khoảng 7% - 10% Trong cơ cấu GDP thì kinh tế quốc doanh vẫn nắm vai trò chủ đạo Năm 1999, kinh tế quốc doanh trung ương chiếm 56,8%, kinh tế quốc doanh địa phương là 8,9% Còn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thay đổi từ 14,42% trong giai đoạn 1991 -1995 đến năm 1999 đã tăng lên19,7%
Trang 36
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài kể từ 1993 đã bắt đầu có vai trò trong nền kinh
tế của Thành phố tăng từ 4,6% năm 1993 lên 12,6% vào năm 1999
Về công nghiệp có tốc độ tăng trưởng đều năm 1996 là 34,9% GDP lên 38,5% GDP năm 2000, giữ vững được vị trí trung tâm công nghiệp lớn nhất phía Bắc với 400 cơ sở sản xuất vừa và lớn, 14000 cơ sở sản xuất nhỏ và 9 khu công nghiệp cũ đã hình thành và 5 khu công nghiệp mới đang xây dựng
Về nông nghiệp đang có xu thế giảm dần từ 8% GDP năm 1990 xuống còn 3,5% năm 2000 Mặc dù vậy nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực cung cấp thực phẩm và cân bằng sinh thái của Hà nội
Về giao thông: Là thủ đô của đất nước, Hà nội là đầu mối giao lưu của cả nước vì thế lưu lượng giao thông là rất lớn Số phương tiện giao thông vận tải các loại trên địa bàn tăng nhanh với tỉ lệ 10% - 12%/năm
Giáo dục y tế: Hà nội là nơi tập trung nhiều trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học với lượng học sinh, sinh viên ngày càng tăng, năm
2000 có:
+ 21 trường dạy nghề với 13600 học sinh
+ 25 trường trung cấp kỹ thuật với gần 15000 học sinh
+ 44 trường đại học, cao đẳng với 37000 học sinh, sinh viên
+ Ngoài ra còn có 340 trường mẫu giáo, 500 trường tiểu học, phổ thông và trung học
Y tế đến năm 2000 có tổng 36 bệnh viện và 228 trạm ytế xã phường, 4 nhà
hộ sinh quận với tổng số 7933 giường bệnh và 1396 bác sĩ, 622 y sĩ,687 dược sĩ, trên 1000 y tá
Văn hoá xã hội: Thành phố Hà nội, thủ đô nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học và kỹ thuật Đồng thời đây
là trung tâm giao dịch quốc tế, thường xuyên tổ chức các đại hội, hội nghị trong
Trang 37
nước và quốc tế Hà nội có nhiều truyền thống văn hoá lâu đời, nhiều di tích lịch
sử và gần nhất là hướng tới SEAGAME 22 sẽ được tổ chức vào 05/12/2003 tới
3 Sự cần thiết phải sử dụng công cụ kinh tế
Trước những năm 1954, Hà nội là một thành phố nhỏ bé Nội thành chỉ rộng 1.200 ha, trong đó chỉ có 120 ha (10%) có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Môi trường của Hà nội lúc bấy giờ nói chung chưa bị ô nhiễm như hiện nay, bởi vì công nghiệp và giao thông vận tải chưa phát triển, diện tích mặt nước
và cây xanh chiếm tỷ lệ tương đối cao, mật độ dân số còn thấp
Dân số nội thành Hà nội năm 1954 chỉ có 25 vạn người mà đến năm 2002 theo số liệu của tổng cục thống kê thì số dân của toàn thành phố là: 2.930.600 người (Trong đó dân số nội thành chiếm 53%) và mật độ dân số trong nội thành lên tới 17.489 người /Km2
Tương tự như nhiều thành phố khác, Hà nội có 3 nguồn chính gây ra ô nhiễm môi trường là: Sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt của dân cư Trong đó sản xuất công nghiệp là nguồn gây ra ô nhiễm cho môi trường lớn nhất
Kể từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm của Hà nội từ 7% - 10%, trong đó công nghiệp tăng từ 14% - 15%/năm Đã hình thành được 9 khu công nghiệp và 5 khoa học công nghiệp mới đang trong quá trình xây dựng và hoàn thành Các khu và điểm công nghiệp hiện nay đều được hình thành dần dần kể từ sau khi nước ta giành được độc lập, vì vậy trang thiết bị và công nghiệp sản xuất của chúng phần lớn là đã bị lạc hậu, nên chúng đã thải ra nhiều chất độc hại gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí Một số nhà máy trước đây nằm ở ngoại thành hay ven nội, nay do đô thị phát triển đã nằm gọn trong các khu dân cư đông đúc như: Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, cơ khí Mai Động, hoá chất Ba Nhất, Bia Hà nội, Rượu Hà nội
Còn rất nhiều những yếu tố khác gây ô nhiễm tới môi trường thành phố, nhưng qua phân tích sơ qua ở trên cũng đã đủ để cho chúng ta thấy sự cần thiết