BÀI TIỂU LUẬNĐề tài: Thông qua diễn biến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ 1954, hãy làm rõ sức mạnh đoàn kết của dân tộc.. Sức mạnh đoàn kết dân tộc trong chiến dịch Điện Biên P
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Thông qua diễn biến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ (1954), hãy làm rõ sức mạnh đoàn kết của dân tộc Liên hệ với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay?
BỘ XÂY DỰNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
BỘ MÔN : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Cô Nguyễn Thị Lan Chiên
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Kim Phượng
Mã số sinh viên: 19510801715
TP Hồ Chí Minh, 14/01/2022
Trang 2Lời cảm ơn!
Ngoài những kiến thức hữu ích cô đã truyền tải qua môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đề tài tiểu luận này đã giúp em có thêm nhiều kiến thức mới qua việc tìm tòi, học hỏi
để hoàn thành tốt tiểu luận
Thông qua trang viết này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô trong khoảng thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Bên cạnh đó, trong quá trình học tập và nghiên cứu, do kiến thức em còn hạn chế nên bài tiểu luận khó có thể tránh được những sai sót, mong cô bỏ qua và em cũng rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ cô để có thể học thêm nhiều kinh nghiệm và hoàn thành tốt hơn trong tương lai
Em xin chân thành cảm ơn cô!
Em chúc cô và gia đình năm mới gặp nhiều may mắn, luôn vui vẻ và bình an ạ
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
PHẦN NỘI DUNG 1
Chương 1 Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 1
1.1 Bối cảnh 1
1.2 Kế hoạch Nava của địch và chủ trương của Đảng 2
1.2.1 Kế hoạch Nava của địch 2
1.2.2 Chủ trương của Đảng ta 2
1.3 Sự chuẩn bị của địch và ta 3
1.3.1 Sự chuẩn bị của địch 3
1.3.2 Sự chuẩn bị của ta 3
1.4 Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ 4
1.5 Kết quả của chiến dịch Điện Biên Phủ 7
7
1.6 Ý nghĩa lịch sử 8
Chương 2 Sức mạnh đoàn kết dân tộc trong chiến dịch Điện Biên Phủ 8
2.1 Sự viện trợ về lực lượng chiến đấu 8
2.2 Sự viện trợ về vật chất 9
2.3 Tinh thần bất khuất, kiên cường, đồng lòng chống giặc 10
Chương 3 Vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay 11
3.1 Thực trạng vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay 11
3.2 Những yêu cầu, thách thức 13
3.3 Định hướng của Đảng ta 13
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4PHẦN DẪN LUẬN
1 Lý do nghiên cứu
Từ thời điểm lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử Đảng cùng hòa quyện với lịch sử dân tộc Việt Nam Đảng đã lãnh đạo và đưa sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, “có được cơ đồ và vị thế như ngày nay”
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Chiến thắng Điện Biên Phủ, đó là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, với một bộ chỉ huy thao lược, tài ba gồm những cá nhân xuất sắc; về vai trò tiên phong, gương mẫu hy sinh của những người đảng viên
Trong các bài học ấy, chiến thắng Điện Biên Phủ đã để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc to lớn, đó là: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, “cả nước đồng lòng, toàn dân chung sức”, “tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” Việc giáo dục cho các thế hệ trẻ thấy được những cống hiến mà Đảng và quần chúng nhân đã mang lại trong chiến dịch Điện Biên Phủ cũng như bài học kinh nghiệm về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, từ đó kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc là việc làm cấp thiết và vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu diễn biến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ và phân tích sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta trong trận chiến khốc liệt này
Tìm hiểu và phân tích vấn đề phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay Từ đó, vận dụng các kiến thức Lịch sử Đảng đã học để tìm nhìn nhận về những định hướng mà Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện trong thời kỳ đổi mới
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 1.1 Bối cảnh
Sầm Nưa và những địa bàn rộng lớn ở Thượng Lào đã được giải phóng gây nên một thế uy hiếp đối với địch
Năm 1947 Pháp thất bại trong chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh”, ta thay đổi vị thế trên chiến trường từ thế bị động sang thế chủ động
Pháp buộc phải chuyển sang chiến lược “đánh lâu dài”
Trang 5 Trên chiến trường Bắc Bộ từ mùa đông năm 1950 trở đi quân ta luôn luôn giữ thế chủ động, quân địch ngày càng lâm vào thế bị động Đến năm 1953 thực dân Pháp lâm vào thế bị động trên các chiến trường
Pháp ra sức cầu cứu đế quốc Mĩ khiến cho Mĩ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc
chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.
Về mặt chính trị, vì là cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa nên địch gặp phải sự phản đối của nhân dân Pháp và thế giới Phía Việt Nam nhận được sự ủng hộ của bạn
bè quốc tế, các nước XHCN
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc có ý nghĩa rất quan trọng đối với kháng chiến của nhân dân ta
Nội bộ thực dân Pháp ngày càng bị chia rẽ, mâu thuẫn giữa phái chủ hòa và chủ chiến thêm trầm trọng
Cuối năm 1953, Mỹ cấu kết với Pháp, kế hoạch Nava ra đời
Tháng 8/1953, ta lập ra kế hoạch Đông - Xuân, thành công phân tán lực lượng địch
Ngày 3/12/1953, Nava quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Bộ chính trị họp thông qua phương án mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
1.2 Kế hoạch Nava của địch và chủ trương của Đảng
1.2.1 Kế hoạch Nava của địch
Ngày 24/7/1953, Nava trình bày kế hoạch trước Hội đồng Quốc phòng do Tổng thống Pháp chủ tọa “Kế hoạch Nava” với mục tiêu tìm kiếm một chiến thắng quân
sự quyết định làm cơ sở cho một cuộc đàm phán hòa bình
Ngày 02/11/1953, Na-va gửi chỉ lênh cho tướng Coonhi (chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ) phải chiếm đóng Điện Biên Phủ
Ngày 03/12/1953, Na-va quyết định rút khỏi Lai Châu cho lực lượng về bảo vệ Điện Biên Phủ Tăng cường lực lượng xây dựng nơi đây thành một pháo đài bất khả xâm phạm
Kế hoạch Na-va dự kiến chia làm hai bước và hoàn thành trong 18 tháng:
Bước thứ nhất: Thu Đông 1953 và Xuân 1954
+ Giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc vĩ tuyến 18
+ Ngăn chặn Việt Minh tiến công ở đồng bằng Bắc Bộ
+ Tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm đóng 3 tỉnh ở đồng bằng Liên khu 5
+ Xây dựng đội quân cơ động lớn mạnh đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của Việt Minh
Bước thứ hai: Từ Thu Đông 1954 trở đi
+ Tiến công chiến lược ở phía Bắc Đèo Ngang
+ Nava đặt tiến công làm tư tưởng chủ đạo và cốt lõi trong quá trình thực hiện chiến tranh Đông Dương
1.2.2 Chủ trương của Đảng ta
Trang 6 Ngày 22/02/1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị “Ra sức phá tan mưu mô đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và Mỹ.”
Ngày 26/01/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang phương án “đánh chắc, tiến chắc”
Ngày 06/12/1953, Bộ chính trị TW Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng
Tây Bắc đã trở thành hướng tác chiến chính của ta
Giải phóng Lai Châu, Phong Xa Lỳ, uy hiếp Luông Pha Băng
Ngày 20/12/1953, Bộ chính trị thông qua chủ trương chọn Điện Biên Phủ thành một Cuối năm 1953,ta sử dụng 9 trung đoàn bộ binh cùng công binh, pháo binh, cao xạ Chia làm 2 đợt:
Đợt 1: Đại đoàn 316 đánh Lai Châu (cuối tháng 01/1954) Sau đó, bộ đội nghỉ ngơi, củng cố, tập trung bố trí đội hình khoảng 20 ngày
Đợt 2: Tiến công Điện Biên Phủ, thời gian ước tính 45 ngày Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4
Ngày 20/12/1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và
quyết định chọn Điện Biên Phủ làm tập đoàn cứ điểm lớn Hướng tác chiến của ta là đánh công kiên tập đoàn cứ điểm trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
1.3 Sự chuẩn bị của địch và ta
1.3.1 Sự chuẩn bị của địch
Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105mm (24 khẩu, sau đợt 1 được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155mm (4 khẩu), 2 đại đội súng cối 120mm (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng)
Lực lượng gồm khoảng 16.200 quân, được tổ chức thành 3 phân khu có công sự, trận địa kiên cố, vững chắc, liên hoàn với 49 cứ điểm, 8 trung tâm đề kháng
Ngoài ra hậu Pháp còn có lực lượng không quân mạnh của Mỹ hỗ trợ thường xuyên, rất nhiều máy bay, xe tăng, phương tiện chiến đấu, 200 xe tải cùng 4000 tấn hàng tiếp
tế
1.3.2 Sự chuẩn bị của ta
Lực lượng ta có 9 trung đoàn bộ binh, gồm 27 tiểu đoàn, 1 trung đoàn sơn pháo 75 ly,
2 tiểu đoàn lớn pháo 105 ly, 4 đại đội súng cối 120 ly, 1 trung đoàn cao xạ pháo 37 ly
và 2 tiểu đoàn công binh
Trang 7 Về lực lượng pháo yểm hộ trực tiếp cho bộ binh, ta hơn địch ít nhiều về số lượng (64/48 khẩu), nhưng đạn pháo dự trữ của ta rất hạn chế Ta hoàn toàn không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn cao xạ 37 ly để đối phó với toàn bộ không quân địch
Với tinh thần tất cả dồn sức cho Điện Biên Phủ, trong chiến dịch, nhân dân các địa phương đã đóng góp 25.560 tấn gạo, 266 tấn muối, 1.909 tấn thực phẩm, 26.453 lượt dân công, 20.991 xe đạp thồ, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con ngựa thồ và 3.130 chiếc thuyền
Lực lượng Công an bảo vệ các đoàn dân công vận chuyển lương thực phục vụ
chiến dịch Điện Biên Phủ
Bộ binh của ta đông gấp rưỡi địch nhưng trang bị yếu hơn nhiều Ta hơn địch về số lượng pháo nhưng dự trữ đạn rất ít Ta không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn pháo cao xạ đối phó với toàn bộ không quân địch Tuy nhiên, lợi thế của ta ở Điện Biên Phủ khá rõ: Ta chủ động tiến công, địch bị động phòng ngự; ta là lực lượng bao vây, địch là lực lượng bị bao vây Lợi thế này cho phép ta tự quyết định: Đánh hoặc không đánh, lựa chọn địa điểm thời gian mở cuộc tiến công
1.4 Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong 55 ngày đêm, nhưng các trận đánh không diễn
ra liên tục mà được chia thành 3 giai đoạn:
Đợt 1: từ 13/03 đến 17/03/1954
16 giờ ngày 13/03/1954, Ta đánh chiếm các cứ
điểm khống chế cửa ngõ tập đoàn cứ điểm ở
phía Bắc
Đến 17 giờ cùng ngày, chiến dịch Điện Biên
Phủ bắt đầu ngay sau khi Đại tướng Võ
Nguyên Giáp: “Chiến dịch lịch sử bắt đầu
Pháo binh, bắn” Quân ta bắt đầu tiến công các
cụm cứ điểm Him Lam
23 giờ 30 phút cùng ngày, quân ta làm chủ trận
địa
Trang 8 Trận đánh mở màn đã phá vỡ phòng tuyến ngoại vi của địch, tạo thế uy hiếp trung tâm Mường Thanh từ phía Bắc và Đông Bắc
Ngày 14/03, quân ta tiến lên tiêu diệt đồi Độc Lập
Ngày 17/03, quân ta chiếm được cứ điểm Bản Kéo Quân địch tháo chạy vào rừng
Kết thúc đợt 1, ta tiêu diệt toàn bộ phân khu Bắc
và đồi Him Lam, uy hiếp sân bay Mương Thanh;
Pi rốt – tư lệnh Pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ
dùng lựu đạn tự sát.
Anh hùng Phan Đình Giót, lúc đó đang thương
nặng đã cảm tử Lấy thân mình lấp lỗ châu mai,
dập tắt hỏa lực của địch.
Đợt 2: từ 30/03 đến 30/04/1954
Từ 19/03 đến 28/03, ta củng cố lực lượng, hậu cần, đào hào xuống núi
17 giờ ngày 30/03/1954, mở màn chiến dịch đợt 2, tiến công vào sườn Đông Sau 5 ngày, ta đã chiếm được các cứ điểm E, D1, D2, C1, 106 và 311
Ta vẫn chưa tiêu diệt được các cứ điểm A1, C2 ở phía Đông Nậm Rốn và cứ điểm
105 phía Bắc sân bay Mường Thanh
Đến ngày 08/04, địch tăng viện lên Điện Biên Phủ tiểu đoàn dù thứ 4 và tổ chức phản kích chiếm lại C1
Ngày 10/04, ta và địch mỗi bên kiểm soát một nửa đồi
Ngày 16/04, chiến hào của Đại Đoàn 312 và 308 nối liền nhau, chia đôi sân bay Mường Thanh
Ngày 18/04, ta tiến công làm chủ cứ điểm 105
Đêm 22/04, ta tiêu diệt cử điểm 206 và đánh chặn các đợt phản công của địch
Ngày 23/4/, quân ta tấn công sân bay Mường
Thanh, cắt đứt nguồn tiếp tế chính của Pháp
Ngày 24/04, quân ta chặn đợt phản kích lớn
nhất của Pháp vào sân bay
Ngày 28/04, sân bay Mường Thanh bị vô hiệu
hóa, chặn đường tiếp tế của địch, quân ta tiếp
tục vây hãm, tiến đánh, gây cho địch nhiều
thiệt hại
Trang 9Quân ta tấn công đồi C1
Kết thúc đợt 2, đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go
nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào Đặc biệt, tại
đồi C1, ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày và nơi đây
trở thành chốt phòng ngự cuối cùng của địch Sau đợt tấn công thứ 2, Điện Biên Phủ
đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.
Đợt 3: từ 01/05 đến 07/05/1954
23 giờ ngày 01/05, ta bắt đầu tấn công đợt 3 Bộ
đội ta đồng loạt tiến đánh nhiều vị trí, tiêu diệt
gọn cứ điểm C1, vây lấn và chuẩn bị tiến công
tiêu diệt C2
Sáng 02/05, ta vây lấn các cứ điểm 505 và
505A, tiêu diệt cứ điểm 311A ở phía Tây +
Quân địch ở phân khu Hồng Cúm tiếp tục bị
tiêu diệt
Đêm 03/05, ta tiêu diệt cứ điểm 311B, uy hiếp
Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Ngày 04/05 toàn bộ tuyến phòng ngự của địch ở
phía Tây sụp đổ
17 giờ ngày 06/05, ta tiến công cứ điểm đồi A1,
cho nổ khối bộc phá 1000kg đặt dưới đường
hầm đào sâu vào cứ điểm địch, bộ đội từ 3
hướng đồng loạt xung phong
Ngày 07/05, quân ta tấn công sở chỉ huy 17 giờ 30 phút cùng ngày tướng de Castries cùng toàn vộ Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm bị bắt sống, lá cờ giải phóng tung bay trên nóc hầm de Castries, toàn bộ quân Pháp đầu hàng, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng
1.5 Kết quả của chiến dịch Điện Biên Phủ
Trang 10Số người chết 4.020 1.747 tới 2.293
Phi cơ và máy bay bị phá
buỷ
62
Tiêu diệt:
17 tiểu đoàn bộ binh và quân nhảy dù
3 tiểu đoàn pháo binh và súng cối
Thu giữ 2 chiếc xe tăng M24 Chaffee, 28 khẩu đại bác và súng cối các loại, 5.915 khẩu súng bộ binh các loại (súng cá nhân và súng cộng đồng), 20.000 lít xăng dầu cùng rất nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng khác
Đập tan âm mưu của Pháp, buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơ – ne – vơ (21/7/1954)
1.6 Ý nghĩa lịch sử
Đối với sự nghiệp cách mạng Việt
Nam:
Cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Buộc Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ – ne – vơ, chấm dứt ách thống trị của thực dân
Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia
Khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng và sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam Giải phóng hoàn toàn Miền Bắc, mở ra giai đoạn cách mạng mới: Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa để tiếp tục công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Giấy ra vào Hội nghị Genève của đồng chí Lê Hữu Qua
Phương tiện lực lượng Công an thu giữ
và sử dụng đấu tranh với gián điệp biệt
kích