Vùng đất lúa nước xã Tân Minh, Đà Bắc, Hoà Bình hầu hết thuộc loại đất này, thực tiễn sản xuất cho thấy các hộ dân bón nhiều phân cũng như các hộ bón ít, năng suất không khác nhau đáng k
Trang 1PHƯƠNG PHáP BóN PHÂN CHO LúA NƯớC TRÊN ĐấT BồI Tụ Có KHả NĂNG GIữ DINH DƯỡNG KéM
Fertilizer application to wet rice on soil with low nutrients retention capacity
P hạm Tiến Dũng 1 , Trần Đức Viên 1 và Nguyễn Văn Dung 1
Summary
A field experiment over three seasons was carried out to study fertilizer application methods
to wet rice on the soil with low capacity of nutrient retention at Tat Hamlet, Tanminh Village, Da
bac District, Hoa binh Province The experiments were arranged in a split-plot design with two
factors, methods of fertilizer application being main factors and fertilizer levels the sub-factors
The results indicated that split application at 5 growth stages significantly increased the number of
effective panicles per square meter, the percentage of plump grains and grain yield at both
fertilizer levels These differences appeared consistent over three seasons
Key words: Wet rice, split fertilizer application
1 Đặt vấn đề
Những vùng đất thấp như thung lũng núi thường được hình thành do bồi tụ của quá trình xói
mòn trên núi xuống, nên đất không có tầng đế cày để duy trì dinh dưỡng khi cây chưa kịp hấp thu
hết Nếu không có kỹ thuật bón phân phù hợp với khă năng hấp thu của lúa nước, phân sẽ bị rửa
trôi, thấm sâu xuống phía dưới dẫn đến lãng phí phân bón và không đem lại năng suất cao Ngay
cả trên vùng đất cao khi hàm lượng chất hữu cơ thấp tức khả năng giữ dinh dưỡng kém thì thời
điểm bón phân cho cây là rất quan trọng (Brar và Tiwari, 2004) Vùng đất lúa nước xã Tân Minh,
Đà Bắc, Hoà Bình hầu hết thuộc loại đất này, thực tiễn sản xuất cho thấy các hộ dân bón nhiều
phân cũng như các hộ bón ít, năng suất không khác nhau đáng kể
Nghiên cứu này nhằm tìm ra phương pháp bón phân hợp lý mang lại hiệu quả sử dụng phân
bón cao cho sản xuất lúa nước của nông dân trong điều kiện đất không có tầng đế cày
2 nội dụng và phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Tìm hiểu ảnh hưởng của phương pháp bón phân khác nhau đến sinh trưởng và năng suất của
lúa nước với các mức phân bón khác nhau, mùa vụ khác nhau
Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại bản Tát, xã Tân Minh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Đây là
vùng đất bậc thung lũng nằm giữa các dãy núi có độ cao trung bình 300 mét Đất được hình thành
do sự bồi tụ lâu năm của sản phẩm phong hóa và xói mòn từ trên núi xuống Qua tác động của con
người đã hình thành các ruộng bậc thang nhưng đất sụt, sự phân tầng không rõ
Đặc điểm đất ở đây chua, hàm lượng mùn rất thấp, nghèo dinh dưỡng, khả năng trao đổi ion
yếu, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém (Bảng 1)
Trang 2Bảng 1 Kết quả phân tích phẫu diện đất tại bản Tát, xã Tân Minh, Đà Bắc, Hòa Bình
(%) kích thước hạt Dinh dưỡng tổng số (%) Tầng đất
pHkcl Khả năng trao đổi (meq/100 g đất) Dinh dưỡng dễ tiêu
mg/100g đất
Tầng đất
(cm)
Phương pháp nghiên cứu
Các giống lúa thí nghiệm:
- Vụ xuân 2002: giống Tạp giao 5
- Vụ xuân 2003: giống Tạp giao 5
- Vụ mùa 2003: giống Khang Dân 18
Bố trí thí nghiệm tại đồng ruộng của nông dân vào 2 vụ xuân và 1 vụ mùa bằng thiết kế thí nghiệm kiểu Split - plot (Gomez, 1984) Nhân tố chính là phương pháp bón phân (P1: phương pháp cũ của nông dân, bón ít lần và P2 phương pháp mới cải tiến, bón rải nhiều lần) Nhân tố phụ
là mức phân bón gồm 2 mức: F1 và F2
F1: mức cao: (5 tấn phân chuồng + 5 tạ vôi + 100 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha
F2: mức thấp: (5 tấn phân chuồng + 5 tạ vôi + 60 kg N + 60 kg P2O5 + 30 kg K2O)/ha
Thí nghiệm được nhắc lại 3 lần
Hai phương pháp bón được cụ thể hoá trên bảng 2 và áp dụng chung cho các vụ
Bảng 2 (% bón theo tổng số cần bón)
Thời kỳ bón
Loại phân
Phương pháp bón
Bón lót Làm cỏ 1 Làm cỏ 2 Đón đòng Nuôi hạt P1 100 0 0 0 0 Phân chuồng
P2 100 0 0 0 0 P1 40 40 20 0 0
Đạm
P2 15 30 15 25 15 P1 100 0 0 0 0 Lân
P2 30 40 15 15 0 P1 0 0 0 100 0 Kali
P2 0 0 30 40 30
Phân tích kết quả thí nghiệm
Tất cả các kết quả phân tích được thực hiện trên phần mềm IRRISTAT 4.0 chạy trong Windows, phân tích theo kiểu Split-plot
3 Kết quả nghiên cứu
Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất của lúa cấy trên các ô thí nghiệm có mức phân bón khác nhau và các phương pháp bón phân khác nhau cho thấy kết quả rất khác nhau Kết quả trên
Trang 3đó phương pháp bón cũ (P1) là 310 bông hữu hiệu/m Có sự chênh lệch rất rõ về tỷ lệ hạt chắc trên bông cho cả hai trường hợp mức phân và phương pháp bón: trên nền phân F1, tỷ lệ hạt chắc/bông là 90% (P2) và 87% (P1); trên nền phân thấp (F2) là 91% và 86% tương ứng cho hai phương pháp bón cải tiến và cũ Vậy trên cả hai nền phân, số bông hữu hiệu và tỷ lệ hạt chắc ở công thức P2 cao hơn so với ở công thức P1, trọng lượng P1000 hạt cũng cao hơn, dẫn đến năng suất lý thuyết cũng cao hơn Vụ xuân 2003 (giống Tạp giao 5) và vụ mùa 2003 (giống Khang Dân 18) cũng cho kết quả tương tự
Những nhận xét trên đây cho thấy khi bón phân rải đều theo các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa đã có tác dụng bổ sung kịp thời dinh dưỡng theo nhu cầu của cây, dinh dưỡng không bị lãng phí do rửa trôi khi cây chưa hút hết Do bón tập trung nên giúp cây hoàn thành tốt hơn các giai
đoạn sinh trưởng, cũng như các yếu tố tạo năng suất, vì vậy góp phần làm cho năng suất lý thuyết cao hơn
Bảng 3 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các công thức bón
và phương pháp bón phân khác nhau Yếu tố cấu thành năng suất Công thức Bông/m2 Hạt/bông Tỷ lệ hạt
chắc (%)
P 1000 hạt (g)
Năng suất
lý thuyết (tạ/ha)
Vụ xuân 2002, giống Tạp giao 5
F1
F2
Vụ xuân 2003, giống Tạp giao 5
F1
F2
Vụ mùa 2003, giống Khang Dân 18
F1
F2
Với năng suất thực thu, kết quả trên bảng 4 cho thấy tất các các tổ hợp mức phân và phương pháp bón khác nhau đều cho năng suất khác nhau (P=0,05), trong cả 3 vụ đều cho thấy phương pháp bón rải nhiều đợt (P2) của nền phân bón cao (F1) cho năng suất cao nhất Đặc biệt rõ khi so sánh hai phương pháp bón khác nhau: giữa P1 (bón tập trung như dân) và P2 (bón rải theo 5 thời
kỳ sinh trưởng và phát triển của cây) trong cùng nền phân bón, phương pháp bón rải nhiều thời kỳ luôn cho năng suất cao hơn Do bón phân cải tiến mà hiệu quả mang lại đủ bù cho lượng phân bị bón ít (năng suất của tổ hợp F2P2: phân ít, bón cải tiến được coi như bằng với năng suất của tổ hợp F1P1: phân nhiều, bón theo kiểu cũ ở vụ xuân và vụ mùa 2003) Hiệu quả của phương pháp càng được thể hiện rõ hơn khi tính trung bình riêng cho hai phương pháp để so sánh như đã ghi trên bảng 5 và đồ thị 1
Trang 4Bảng 4 Kết quả so sánh năng suất thực thu giữa các tổ hợp công thức bón phân khác nhau qua các vụ
Công thức Năng suất (tạ/ha) So sánh
* Năng suất (tạ/ha) So sánh
* Năng suất (tạ/ha) So sánh
*
F1
F2
* Các công thức được đánh giá khác chữ là khác nhau có ý nghĩa và cùng chữ được coi là giống nhau
(P=0,05)
Trên bảng 5 và đồ thị 1 cho thấy bón rải theo 5 thời kỳ đã cho năng suất cao hơn hẳn so với phương pháp bón tập trung như của nông dân thường bón: năng suất đạt 57 tạ/ ha của P2 so với xấp xỉ 52 tạ/ha của P1 Kết luận này được kiểm nghiệm trong vụ xuân của năm 2003 và vụ mùa năm 2003 cũng cho kết luận tương tự với năng suất đạt 64,9 so với 58,3 và 46,12 so với 41,67 tạ/ha của hai vụ xuân 2003 và mùa 2003, tương ứng Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đoàn Văn Điếm (1991) tại Sóc Sơn Hà Nội: bón đạm cho lúa làm 3 lần (lót 50%; thúc lần một 25%; và thúc lần hai 25%) cho năng suất cao rõ rệt hơn cách bón của dân (chỉ bón lót hoặc chỉ bón thúc)
Như vậy thí nghiệm đã được kiểm nghiệm qua cả 3 vụ đều cho kết quả theo qui luật tương tự nhau nghĩa là bón phân rải đều theo nhiều giai đoạn sinh trưởng của lúa cấy trên đất dốc tụ có khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém đã cho năng suất cao hơn hẳn phương pháp bón cũ của nông dân (tập trung vào ít đợt), sự khác biệt này là chắc chắn (P = 0,05)
Bảng 5 So sánh năng suất của 2 phương pháp bón ở độ tin cậy 95%
Phương pháp bón
Năng suất (tạ/ha) So sánh
* Năng suất (tạ/ha) So sánh
* Năng suất (tạ/ha) So sánh
*
* Các công thức được đánh giá khác chữ là khác nhau có ý nghĩa và cùng chữ được coi là giống nhau (P= 0,05)
4 Kết luận và thảo luận
0 10 20 30 40 50 60 70 tạ/ha
Xuõn 2002 Xuõn 2003 Mựa 2003
Thời gian
P1 P2
P1: phương pháp bón cũ, ít đợt; P2: Bón cải tiến, nhiều đợt
Trang 5đợt 1; làm cỏ đợt 2; đón đòng; nuôi hạt) đã làm tăng số bông hữu hiệu trên một đơn vị diện tích, tăng tỷ lệ hạt chắc trên bông và cuối cùng dẫn đến năng suất tăng rõ
Trong cả 3 vụ triển khai thí nghiệm đều có kết quả tương tự nhau theo qui luật chung là bón phân rải thành nhiều đợt cho năng suất cao hơn so với bón tập trung ít đợt Sự khác biệt đạt ở mức
ý nghĩa 5%
Trong điều kiện vụ mùa nước trên ruộng luôn nhiều và nhiệt độ cao thì hiệu quả của phương pháp bón cải tiến đạt cao hơn nhiều so với hiệu quả của phương pháp được thực hiện trong vụ xuân
Tài liệu tham khảo
Đoàn Văn Điếm, 1991 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật cải tiến trên đất bạc màu huyện Sóc sơn, Hà nội Kết quả nghiên cứu khoa học 1986- 1991 Nxb Nông nghiệp: 38 - 40
Gomez Kawanchai A & Gomez Arturo A Statistical Procedures for Agricultural Research An International Rice Research Institute Book Printed in Singapore, 1984: 97 - 107
Brar and K N Tiwari, 2004 Boosting Seed Cotton Yields in Punjab with Potassium: A Review Better Crops with plant food, Number 3 Copyright 2004 by Potash & Phosphate Institute: 28
- 31