Tuy nhiên, do tập quán canh tác quảng canh, sự thiếu hiểu biết về các biện pháp kỹ thuật thâm canh xoài, hạn chế về vốn đầu tư các vườn xoài không được chăm sóc và quản lý đúng cách đã d
Trang 1ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa và bao quả đến sinh trưởng,
năng suất và m∙ quả xoài trồng ở x∙ Sặp Vạt,
huyện yên Châu, tỉnh Sơn la
Phạm Thị Hương Khoa Nông học
Summary
Impacts of thinning and pre-harvest bagging on growth, yield and fruit's appearance of
mango grown in Sap Vat commune, Yen Chau district, Son La province
Mango is a special fruit, which yearly brings a considerable income source to local people in Yen Chau district However, traditional extensive cultivation of mango in the district often results in overcrowding, seriously pest infection, which in turn cause low productivity of mango orchards and poor external fruit's quality This experiment showed that thinning of small, shaded, disease-infected branches and thinning of flowers and fruits significantly improved flushes growth, fruiting and reduced diseases, especially anthracnose and mildew Pre-harvest bagging limited infection of diseases, eliminated infection of fruit flies and improved fruit's appearance of Tron mango Combination of thinning and pre-harvest bagging yielded considerably better improvement compared with application of single methods Thinning and pre-harvest bagging is a low-cost techniques and easy to apply not only for the local people but other mango growers in the country as well
Keywords: thinning, pre-harvest bagging, Tron mango, diseases, infection
1 Đặt vấn đề
Được dãy Hoàng Liên Sơn bao bọc, ít bị ảnh hưởng của gió mùa đông bắc huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La là vùng trồng xoài truyền thống và nổi tiếng xưa nay ở miền bắc với các giống xoài Tròn và xoài Hôi chất lượng cao và chín sớm Cây xoài được coi là cây ăn quả đặc
sản của Yên Châu, hàng năm mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ nông dân Theo
số liệu của Phòng Nông nghiệp Yên Châu năm 2004 diện tích trồng xoài của huyện lên tới 495
ha với sản lượng 1980 tấn Diện tích trồng xoài của huyện tăng dần theo thời gian và được
chính quyền địa phương quan tâm và khuyến khích phát triển
Tuy nhiên, do tập quán canh tác quảng canh, sự thiếu hiểu biết về các biện pháp kỹ thuật thâm canh xoài, hạn chế về vốn đầu tư các vườn xoài không được chăm sóc và quản lý
đúng cách đã dẫn đến tình trạng tán cây rậm rạp, nhiều sâu bệnh hại nên năng suất thấp hoặc mất mùa, mã quả xấu, giá trị hàng hoá thấp, đặc biệt là các vườn xoài trên 20 tuổi Việc chăm
sóc xoài của các hộ trồng xoài chỉ đơn giản là bón phân hữu cơ, làm cỏ và tưới nước mà không
chú trọng đến các biện pháp chăm sóc rất quan trọng đối với xoài như phòng trừ sâu bệnh, bón
phân khoáng, tạo hình, cắt tỉa
Các kết quả nghiên cứu về cây xoài ở Yên Châu cho thấy vào tháng 1-2 khi cây xoài ra
hoa đậu quả sâu bệnh phá hoại rất nhiều, chủ yếu là nhóm rầy, rệp, bệnh thán thư, phấn trắng,
muội đen nên tỉ lệ đậu quả rất thấp (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 1994; Phạm Văn Vượng và
Trần Xuân Dũng, 1994) Cắt tỉa cành trên xoài Hôi (Trịnh Thị Mai Dung, 2002) làm năng suất
tăng từ 25,9 lên 28,8 tạ/ha Theo Otega (1983), Mendoza (1984) và Buganic et al (1997) bao quả xoài bằng các vật liệu như giấy báo, PE làm giảm đáng kể thiệt hại do sâu, bệnh gây ra trong thời gian quả ở trên cây và sau thu hoạch, đồng thời làm mã quả đẹp lên
Mục đích của nghiên cứu này là tìm kiếm các biện pháp kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp,
dễ áp dụng đối với người dân địa phương để cải thiện năng suất, mã quả và giá trị hàng hoá của
giống xoài Tròn, từ đó cải thiện thu nhập cho các hộ trồng xoài
Trang 22 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành năm 2004 tại xã Sặp Vạt trên giống xoài Tròn ở các vườn xoài 7-13 tuổi Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên có điều chỉnh
Thí nghiệm tỉa cành, hoa và quả gồm 3 công thức, đó là: CT1: đối chứng không cắt tỉa; CT2: tỉa cành; CT3: tỉa cành kết hợp tỉa hoa và quả Mỗi công thức cắt tỉa 4 cây là 4 lần nhắc lại
Thí nghiệm bao quả gồm 5 công thức với các chất liệu bao quả khác nhau: CT1: đối chứng không bao, CT2: giấy báo; CT3: giấy hoạ báo; CT4: PE màu trắng, CT5: giấy nến Thí nghiệm tiến hành trên 5 cây, mỗi công thức bao 10 quả/cây Các vật liệu được làm thành túi có
đục lỗ rất nhỏ để tạo độ thoáng cho quả
Thí nghiệm 3 kết hợp cắt tỉa và bao quả: CT1: không cắt tỉa và không bao quả; CT2: bao quả trên cây không cắt tỉa; CT3: bao quả trên cây tỉa cành và CT4: bao quả trên cây tỉa cành+tỉa hoa, quả Quả được bao bằng giấy nến, mỗi công thức tiến hành trên 5 cây, mỗi cây bao 10 quả
Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng và năng suất xoài được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu thông dụng áp dụng trên cây ăn quả, các chỉ tiêu về sâu bệnh hại được tiến hành theo hướng dẫn của Cục BVTV năm 1995 và Viện BVTV năm 1997 Các số liệu được xử lý theo Collins C.A & Seeney F.M (1999) và xử lý trên phần mềm IRRISTAT
3 Kết quả và thảo luận
3.1 ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng và năng suất xoài Tròn
Các vườn xoài ở Yên Châu thường rậm rạp, thiếu ánh sáng, cây ra lộc và ra hoa nhiều nhưng lộc sinh trưởng yếu, cành mang quả ít, nhiều cành vô hiệu và sâu bệnh nhiều, đặc biệt là các vườn xoài trên 20 tuổi, do vậy chúng tôi tiến hành tỉa bớt những cành sinh trưởng yếu, cành bị sâu, bệnh nặng, cành bị che khuất trong tán (CT2) và tỉa bớt những chùm hoa nhỏ, bị che khuất, bị bệnh hại, tỉa bớt quả bị bệnh, tỉa quả ở những chùm đậu nhiều quả, kết hợp tỉa cành (CT3) nhằm tạo cho cây có tán thoáng, giảm bớt nguồn lây lan sâu bệnh và tập trung dinh dưỡng cho các cành, chùm hoa và quả còn lại trên cây Cắt tỉa được tiến hành vào tháng 1, tháng 2 Kết quả thu được ở bảng 1 cho thấy:
- Về lộc xuân: ở các công thức cắt tỉa lộc xuân ra tập trung hơn so với đối chứng, trong đó thời gian ra lộc ở CT3 là ngắn nhất (32 ngày ở CT3 so với ĐC 40 ngày) Điều này giúp cho việc phòng trừ sâu, bệnh ở vườn xoài thuận lợi hơn Mặt khác các chỉ tiêu về kích thước lộc và số lá trên lộc ở 2 công thức cắt tỉa cũng cao hơn so với đối chứng
- Về quả: Có sự khác biệt rất lớn về tỉ lệ đậu quả giữa hai công thức cắt tỉa so với đối chứng (1,4 và 1,5 % ở CT2 và CT3 so với 0,8 % ở ĐC), nhưng không có khác biệt đáng kể giữa hai công thức cắt tỉa Tuy nhiên, có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê ở P0,05 giữa 3 công thức
về khối lượng quả và năng suất thực thu, trong đó CT3 cho kết quả cao nhất với khối lượng quả
đạt 189 g và năng suất 27,7 kg/cây Hơn nữa, mã quả ở CT2 và CT3 cũng được cải thiện hơn so với đối chứng Mã quả được đánh giá dựa vào các chỉ tiêu về bệnh hại, tì vết, màu sắc khi thu hoạch và độ lớn của quả theo thanh điểm 10
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về sinh trưởng và năng suất của xoài Tròn ở các công thức cắt tỉa
Trang 3thí nghiệm Số ngày
ra lộc
(ngày)
Chiều dài (cm)
Đường kính (mm)
Số lá/lộc đậu
quả
(%)
Trọng lượng (g) Mã quả (điểm)
thực thu (kg/cây) CT1(ĐC) 40 15,0± 1,6 5,4 ±0,3 8,7 ±0,8 0,8 130,2 a 5,8 13,6 a CT2 35 20,4±1,4 6,2 ±0,4 9,9 ± 1,0 1,4 155,2 b 6,9 22,0 b CT3 32 22,4±1,8 6,0 ±0,3 11,3±0,5 1,5 189,0 c 7,1 27,7 c
Sâu, bệnh hại là một trong các yếu chính tố hạn chế năng suất và mã quả xoài Yên Châu, trong
đó bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporiodes), phấn trắng (Oidium mangifera), muội đen
(Capnodium mangifera), rầy xám (Penthimia sp) và ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis) là các
tác nhân gây hại chính Các số liệu về tình hình bệnh hại ở bảng 2 cho thấy ở thời gian đầu sau khi cắt tỉa các công thức thí nghiệm bị nhiễm bệnh như nhau ở các bộ phận như chùm hoa, quả
và lộc ở thời gian này cây bị bệnh phấn trắng nhiều hơn và mức độ nặng hơn so với bệnh thán thư do thời tiết khô nhưng sáng sớm có sương và hơi lạnh về ban đêm Từ giữa tháng 3 trở đi bệnh phấn trắng giảm nhưng thán thư lan rộng hơn do có mưa, độ ẩm không khí cao và trời ấm lên Lúc này ở CT2 và CT3 tỉ lệ bệnh hại trên quả và lộc thấp hơn nhiều so với đối chứng
Bảng 2 Tình hình bệnh hại trên lộc, hoa và quả xoài Tròn ở các công thức cắt tỉa
Đơn vị tính: %
Tỉ lệ bệnh hại ở CT1 Tỉ lệ bệnh hại ở CT2 Tỉ lệ bệnh hại ở CT3 Thời gian
theo dõi hoa, quả lộc hoa, quả lộc hoa, quả lộc
3.2 ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến tình hình sâu bệnh hại trên xoài Tròn
Bao quả là một biện pháp kỹ thuật thường được áp dụng ở các nước sản xuất nhiều xoài như Thái lan, Philipines, Trung Quốc, Đài Loan vv ở nước ta biện pháp bao quả để giảm tác hại của sâu bệnh, cải thiện mã quả ít được quan tâm nghiên cứu Trong nghiên cứu này quả được bao sau tàn hoa 4 tuần bằng các loại vật liệu sẵn có tại địa phương Trước khi thu hoạch 10 ngày tiến hành tháo túi bao để quả lên màu và đánh giá các chỉ tiêu về tình hình sâu bệnh hại, màu sắc và mã quả Số liệu thu được ở bảng 3 cho thấy:
- Tỉ lệ quả bị sẹo: do các trận mưa to đầu mùa kèm theo gió lớn làm quả va đập vào cành nên
tỉ lệ quả bị sẹo cao nhất ở CT1 (54 %), trong khi đó tỉ lệ này ở các công thức bao quả thấp hơn nhiều (từ 18-26 %) Ngoài ra, các quả bị sẹo thường bị nhiễm bệnh cao hơn các quả nguyên vẹn
Bảng 3 Tình hình sâu bệnh hại trên quả và mã quả ở các công thức bao quả
Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Tỉ lệ quả bị
sẹo*
Trang 4bệnh
Tỉ lệ quả bị
dòi đục
Màu sắc quả
khi thu hoạch
xanh thẫm xanh nhạt xanh thẫm xanh nhạt xanh nhạt Mã quả (theo
thang điểm
10)
Ghi chú: Quả bị sẹo do mưa to, gió mạnh làm quả va đập vào cành
- Tỉ lệ nhiễm bệnh: Trong thời gian bao quả bệnh thán thư và muội đen gây hại chủ yếu trên
quả, đặc biệt là thán thư Tỉ lệ quả nhiễm bệnh rất cao ở đối chứng (66%), ở các công thức bao
quả tỉ lệ này thấp hơn rất nhiều (4-16 %) Trong các công thức bao quả CT2 và CT3 có tỉ lệ
nhiễm bệnh cao hơn CT4 và CT5 vì giấy báo và hoạ báo hay bị rách khi trời có mưa, gió và
không được thay thế kịp thời Bao bằng giấy nến cho kết quả tốt nhất (5%) vì trong thời gian
bao quả túi không bị rách và có độ thoáng tốt hơn túi PE nên hạn chế bệnh tốt hơn
- Tỉ lệ quả bị ruồi đục: cũng như nhiều loại quả khác xoài cũng là đối tượng bị hại của ruồi đục
quả vào thời kỳ quả chín làm quả thối và rụng Số liệu ở bảng 3 cho thấy bao quả là biện pháp
tốt nhất để bảo vệ quả xoài không bị ruồi gây hại Tỉ lệ quả bị hại ở CT1 rất cao (34%), trong
khi đó ở 3 công thức CT3, CT4, CT5 ruồi không thể đẻ trứng vào quả được (tỉ lệ hại là 0%)
- Về mã quả: Xoài là quả ăn tươi nên mã quả là chỉ một chỉ tiêu quan trọng góp phần quyết
định giá bán Màu sắc quả được bao ở thời điểm tháo bỏ túi thường có màu xanh nhạt ngoại trừ
CT4 (bao quả bằng PE màu trắng) vẫn giữa nguyên màu xanh thẫm như đối chứng Điều này
không ảnh hưởng đến màu sắc quả khi chín vì túi được tháo ra trước khi thu hoạch 10 ngày và
quả xoài vẫn tiếp tục lên màu trong thời gian giấm quả Mã quả xoài được cải thiện rất đáng kể
ở các công thức bao quả (7,4-8,7 điểm) so với đối chứng (4,6 điểm)
Như vậy, tỉa cành và tỉa hoa, quả đã làm cho lộc sinh trưởng tốt hơn, giảm bớt bệnh hại, cải
thiện tỉ lệ đậu quả, kích thước quả, mã quả và năng suất Đây là một biện pháp dễ áp dụng,
không đòi hỏi chi phí vật chất nhưng đem lại hiệu quả cao đối với các vườn xoài ở Yên Châu 3.3 ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa kết hợp bao quả tình hình sâu, bệnh hại và mã quả xoài
Giấy nến có ưu thế về độ thoáng và độ bền hơn các loại vật liệu bao quả khác nên trong thí
nghiệm này được dùng để bao quả ở các công thức thí nghiệm Số liệu ở bảng 4 cho thấy ở
CT1 (không bao quả và không cắt tỉa) tỉ lệ và mức độ quả bị sẹo, bị bệnh và ruồi đục quả cao
nhất và cao hơn nhiều so với các công thức còn lại Hai công thức bao quả kết hợp cắt tỉa (CT3
và CT4) cho kết quả khả quan nhất, nhờ đó mã quả cũng được cải thiện nhiều
Như vậy, việc kết hợp cả hai biện pháp cắt tỉa và bao quả đã có tác dụng tốt trong việc hạn chế
sâu bệnh hai, cải thiện mã quả đối với xoài Tròn trồng ở Yên Châu, trong đó công thức CT4
cho kết quả tốt nhất về tất cả các chỉ tiêu theo dõi
Bảng 4 Tình hình sâu, bệnh hại trên quả và mã quả ở các công thức bao quả kết hợp với cắt tỉa
Quả bị sẹo Quả bị bệnh Công thức
thí nghiệm Mức độ (cấp) Tỉ lệ (%) Mức độ (cấp) Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ quả bị ruồi đục (%)
Mã quả
(điểm)
Trang 5CT3 1 11,8 1 9,3 0 8,8
4 Kết luận
- Việc tỉa cành, tỉa hoa, quả làm cho tán thông thoáng, có tác dụng tốt đối với sinh trưởng của lộc, tăng tỉ lệ đậu quả và năng suất, đồng thời hạn chế sự lây nhiễm bệnh trên cây xoài Tròn
- Bao quả bằng các chất liệu khác nhau đã có tác dụng hạn chế sự nhiễm bệnh, ngăn chặn ruồi
đục quả và cải thiện mã quả đáng kể Chất liệu bao quả tốt nhất là giấy nến Giấy báo và hoạ báo có thể sử dụng để bao quả nhưng phải thay khi bị rách PE màu trắng có độ bền cao nhưng
độ thoáng kếm nên phải đục nhiều lỗ nhỏ Kết hợp bao quả với cắt tỉa cho hiệu quả cao hơn khi thực hiện các biện pháp riêng rẽ
- Cắt tỉa và bao quả là những biện pháp kỹ thuật đơn giản, dễ làm, chi phí thấp, có thể khuyến cáo người trồng xoài ở Yên Châu và các vùng khác trong cả nước áp dụng Tuy nhiên, để dễ dàng áp dụng các biện pháp này cần tạo cho cây xoài có tán thấp và tiến hành cắt tỉa hàng năm cho các vườn xoài
Tài liệu tham khảo
1 Trịnh Thị Mai Dung (2002), Điều tra hiện trạng sản xuất và bước đầu thử nghiệm một
số biện pháp nâng cao tỉ lệ đậu quả của cây xoài tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La,
Luận văn Thạc sĩ
2 Trần Thế Tục, Đoàn Thế Lư (1994), Bước đầu nhận xét sự ra hoa, đậu quả của xoài (Mangifera indica L)tại Mai Châu, Sơn La, Một số công trình NCKH của dự án "Phát
triển cây ăn quả đường 6, Sơn La"
3 Phạm Văn Vượng, Trần Xuân Dũng (1994), Theo dõi khả năng ra hoa, kết quả của cây xoài Yên Châu, Một số công trình NCKH của dự án "Phát triển cây ăn quả đường 6,
Sơn La"
4 Buganic R.D, Lizada M.C.C., Ramos M.B., (1997), Disease control in Philippines " Carabao"mango with preharvest bagging and postharvest hot water control, Acta
horticulturae No 445, p 102
5 Mendoza D.B., Wills R.B.H., (1984), Mango: fruit development, postharvest physiology and marketing in ASEAN