TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Tên đề tài: Lý luận của chủ nghĩa Mac - Lênin về vai trò của người lao đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Tên đề tài: Lý luận của chủ nghĩa Mac - Lênin về vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và liện hệ vấn đề phát triển nguồn
nhân lực ngành bạn theo học.
Giảng viên : Trương Phi Long
Sinh viên thực hiện
Họ và tên: : Trịnh Vĩnh Khang MSSV : 21520100202 Lớp học phần :
5
10
15
20
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Khái niệm lực lượng sản xuất và vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 3
1 Định nghĩa và tính chất lực lượng sản xuất 3
2 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 4
2.1 Khái niệm con người 4
2.2 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 5
II Liện hệ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành bạn theo học 7
1 Khái niệm nguồn nhân lực 7
2 Liên hệ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành bạn theo học 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
30
35
40
45
50
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong triết học cổ đại hay hiện nay, con người luôn là một đối tượng được quan tâm hàng đầu Đặc biệt, trong học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác -Lênin, vai trò của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất là vô cùng
to lớn
Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là thực thể cải tạo tự nhiên, xã hội Con người giữ vai trò quyết định, không thể thiếu trong sản xuất phát triển nền kinh tế Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tớin tăng trưởng kinh tế
và nó là yếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai trò của lao động, dùng vai trò của lao động để vận hành máy móc Lao đọng là một yếu tố đầu vào của mọi quá trình sản xuất, không thể có gì thay thế hoàn toàn được lao động và con người là lực lượng sản xuất của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở tồn tại sự phát triển xã hội
Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất cũng như vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng em đang theo học, nên em đã chọn đề tài “ Lý luận của chủ nghĩa Mac - Lênin về vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và liện hệ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành bạn theo học ”
55
60
65
70
Trang 4I Khái niệm lực lượng sản xuất và vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất.
1 Định nghĩa và tính chất lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật được sử dụng trong các quá trình sản xuất của xã hội tức là trong quá trình con người cải tạo, cải biến giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Như vậy, xét về mặt tính chất thì khái niệm lực lượng sản xuất, nó phản ánh một số tính chất căn bản sau:
Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm cuẩ quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên Con người phải tiềm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, thức uống, nhà để ở theo một số nhà nhân học khẳng định nhanh người bắt đầu hình thành rõ cách đây 10 triệu năm bắt đầu từ “ vượn người ” Khi đó vượn người đã biết sử dụng gậy gộc , đá, xương động vật làm công cụ
và bắt đầu biết chế tạo công cụ lao động thô sơ cũng như dùng lửa Những cuộc sống của loài vượn vẫn theo quy luật sinh vật, sống hòa lẫn với thiên nhiên, sinh sống hoàn toàn tùy theo bản năng vốn có trong cơ thể và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có thể nói là hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Theo thời gian vượn người tiến hóa thành người khéo, người đứng thẳng, người khôn và con người hiện đại ngày nay Nhưng sự tiến hóa ấy không làm thay đổi mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên Ngày nay, con người vẫn đang chinh phục tự nhiện bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau Như vậy, ngay
từ thời kỳ sơ khai nhất, con người đã biếtdựa vào những thứ vốn có trong tự nhiên để cái biến nó theo nhu cầu sinh tồn và phục vụ nhu cầu sống của mình
Do đó ta thấy rõ mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với tự nhiên
Đồng thời nó cũng thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người cụ thể hơn là biểu hiện mức độ, khả năng chinh phục tự nhiên của con người Trong thời nguyên thủy con người chỉ mới sử dụng những công cụ hết sức thô sơ, hầu hết là những công cụ thủ công vào quá trình lao động sản xuất Do năng suất lao động thấp kém, con người chưa tạo ra nhiều của cải dư thưa có khả năng trao đổi với nhau phục vụ nhu cầu sống hết sức sinh động, phong phú của mình Điều đó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên vẫn còn non thấp kém
Cho đến khi chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, con người đã dần sáng tạo ra các công cụ lao động tiến bộ hơn, song về bản chất nó vẫn mang tính thủ công Do vậy, mặc dù sản phẩm lao động làm ra ngày một phong phú hơn song trong quá trình lao động sản xuất vẫn còn dựa vào sức người - mặt thể lực chính, cần nhiều thời gian và qquan trọng hơn vẫn chứ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, con người đã tạo ra hàng loạt máy móc hết sức hiện đại để phục vụ vào quá trình lao động sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên, cải biến nó thành những vật dụng và sản phẩm có giá trị, chất lượng cao, phong phú về hình thức, đa dạng về chủng loại, mẫu mã Đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra bắt đầu từ thế kỷ XVII suốt cho đến ngày nay đã nhanh chóng làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội của thế giới Theo đánh giá của C.Mác và
75
80
85
90
95
100
105
110
115
120
Trang 5Ph.Ăngghen: “chỉ sau hơn hai thế kỉ tồn tại, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất nhiều hơn tất cả các thời đại trước gộp lại” Như thế trình độ chinh phục tự nhiên của con người đã bước lên một mốc son mới, đánh dấu một bước phắt triển cao của tiến bộ loại người Cũng chính trong giai đoạn này con người đã dần dần chiếm thế chủ động trong quá trình lao động sản xuất Mặt khác, lực lượng sản xuất có tính khách quan trong quá trình sản xuất Thật vậy không có một quá trình sản xuất nào mà lại không cần đến sức lao động của con người hay những yếu tố sẵn có trong tự nhiên Nói cách khác trong quá trình sản xuất vật chất không thể không cần đến lực lượng sản xuất
2 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất.
2.1 Khái niệm con người.
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại Trong đó quan niệm của triết học Mác - Lênin về con người
và bản chất con người, xuất phát từ góc độ khát quá nhất, đứng trên lập trường duy vật biến chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn
đề khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay
Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên Con người không thể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tất uyếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Trỉa qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người điều
đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đác - uyn Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật
là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất cong người sản xuất ra của cải vất chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành
và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Là sản phẩm của tự nhiên và
xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cae mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần
Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loại vật Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên - xã hội hay một thực thể song trùng
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Mác đã nêu trong luận đề nổi tiếng Luận cương về Phoiơbăc: “ Bản chất con người không phải là một cái
125
130
135
140
145
150
155
160
165
Trang 6trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hóa các quan hệ xã hội”
Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cũng đều mang tính xã ội Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với con người là quan hệ bản chất bao trùm lên các mối quan hệ khác Thực tế lịch sử đã chứng minh không có một cá nhân nào có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để sản xuất vật chất
mà phải liên kết lại với nhau, phân công lao đôngj và trao đổi sản phẩm cho nhau Từ đó hình thành cá quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động, hành vi con người Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản chất mình Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không
có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử Song điều đó quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội
Con người sáng tạo lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sử trong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh và điều kiện sẵn có do quá khứ để lại Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ hai chiều giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người Thông qua môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiện các quan
hệ xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật
2.2 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất.
Trong yếu tố của lực lượng sản xuất, “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là người lao động” Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội Nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọi tài sản vô gái ấy Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong lực lượng sản xuất là yếu tố đồng nhất sáng tạo nhất của quá trình sản xuất Nhân tố trung tâm của con người chính là sức lao động bao gồm thể lực và trí lực Không có người lao động nào trong quá trình sản xuất vật chất lại không cần đến lao động thể lực hay lao động cơ bắp Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh
và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người không ngừng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người ngày càng phát triển Trong quá trình đó không những con ngưới sử dụng trí tuệ nội tại của mình mà còn kế thừa những kinh nghiệm qua học hỏi lẫn nhau giữa những người lao động cho nên có thể nói kinh nghiệm cũng là một lực lượng sản xuất Kinh nghiệm được tích lũy dần trở thành kỹ năng và cao hơn nữa nó có thể trở thành tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ
170
175
180
185
190
195
200
205
210
Trang 7Lực lượng sản xuất bao gồm các nhân tố: người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó nhân tố người lao động giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất Sở dĩ như vậy vì:
Một là: Mỗi quá trình sản xuất muốn thực hiện được cần đủ hai điều kiện:
Tư liệu sản xuất và người lao động Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động với đối tượng lao động, đây là hai nhân tố không thể thiếu của quá trình sản xuất Sản phẩm muốn tạo ra còn phải có tư liệu sản xuất nhưng nếu con người không tác động sức lao động của mình vào tư liệu sản xuất thì quá trình sản xuất không thể thực hiện được Như vậy sản xuất không thể tiến hành nếu không có tư liệu sản xuất, nhưng nếu không có tư liệu lao động của con người thì tư liệu sản xuất cũng không phát huy tác dụng
Hai là: Tất cả các nhân tố khác trong lực lượng sản xuất đề là sản phẩm lao động của con người, là sự kết tinh năng lực lao động của họ Tất cả tư liệu sản xuất dù là tư liệu lao động hay đối tượng lao động đã qua chế biến đều là sản phẩm lao động của con người, là sự sáng tạo của con người
Ba là: Những nhân tố khác chỉ có ý nghĩa là lực lượng sản xuất khi nó được người lao động sử dụng vào quá trình sản xuất nhất định Đúng vậy, công cụ lao động dù thô sơ hay hiện đại, đối tượng lao động dù giản đơn hay phức tạp nhưng nếu không có sự tác động về sức lao động của con người vào thì nó cũng chỉ là những “ vật vô tri, vô giác ”, không thể có sản phẩm như mong muốn Một ví dụ đơn giản, để sản xuất ra một cái bàn, hai thợ mộc cần sử dụng những công cụ lao động như cưa, bào tác động vào đối tượng lao động là gỗ Bằng việc tác động sức lao động của mình qua các thao tác, hai người thợ mộc đã tạo
ra sản phẩm là cái bàn Nhưng nếu hai người thợ mộc không tác động sức lao động của mình vào cái cưa, bào không tác động vào gỗ thì nó mãi vẫn chỉ là cái cưa, cái báo, khúc gỗ mà không phải là tư liệu sản xuất và lúc đó cũng không sản phẩm nào được tạo ra Vai trò con người trong thời đại mới là cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội
Hơn nữa, các nhân tố khác đều là sản phẩm của người lao động Chỉ có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất làm cho sản xuất ngày càng phát triển với năng suất và chất lượng cao, thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác Công cụ lao động thô sợ hay hiện đại, xấu hay tốt, phụ thuộc trực tiếp vào nhân tố con người Giới tự nhiên nói chung và đối tượng lao động nói riêng, chỉ là những vật vô tri vô giác mà thôi Nó chỉ có ý nghĩa khi trở thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người Muốn vậy tất yếu người lao động phải tác động vào tư liệu sản xuất để sản sinh ra nó Như thế quá trình sản xuất vật chất không thể thoát ly khỏi lao động của con người Trong thời đại mới, nhân tố con người có tri thức ngày càng đóng vai trò quyết định hơn trong lực lượng sản xuất Có thể khẳng định rằng nhân tố con người đóng vai trò quyết định quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất
215
220
225
230
235
240
245
250
255
Trang 8II Liện hệ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành bạn theo học.
1 Khái niệm nguồn nhân lực.
Hiện nay nhiều khía niệm khác nha về nguồn nhân lực Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, ) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó
Chúng ta có thể hiểu, nguồn nhân lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức vị thế xã hội tạo nên năng lực con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội
Trong các nguồn nhân lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người
và có chất lượng ngày càng cao Muốn thực hiện được điều đó, cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân công lao động xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đây là giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại để tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là ở các nước có điểm xuất phát thấp từ một nền nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Mục tiêu của nước ta trong thời kỳ quá độ là “ Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Để thực hiện được mục tiêu này, việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực
để phát triển kinh tế phải được đặt lên hàng đầu
2 Liên hệ vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành bạn theo học.
Ngành Xây dựng đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới đòi hỏi có thêm nhiều công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, thương mại… Do đó, nhu cầu nhân lực của ngành Xây dựng trong thời gian tới sẽ rất lớn
Nếu như năm 2005, lao động ngành xây dựng có gần hai triệu người, chiếm 4,63% lực lượng lao động trong nền kinh tế thì đến năm 2010, con số này đã là 3,1 triệu người, chiếm 6,34%, tăng 1,57 lần về số lượng Cùng với tiến trình cải cách hành chính và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhân lực khu vực công (các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước) ngành xây dựng cũng giảm dần, đến năm 2010 chỉ chiếm 14,09% tổng số lao động làm việc trong ngành xây dựng
Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng hiện nay còn bộc lộ nhiều bất cập Theo thống kê của Bộ Xây dựng, đội ngũ công chức cơ quan Bộ Xây dựng tuy có những bước trưởng thành, nhưng vẫn còn tình trạng “nợ tiêu chuẩn” công chức (chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp…), trong khi một bộ phận không nhỏ công chức cơ quan Bộ không được đào tạo đúng ngành, đúng nghề Ðội ngũ cán bộ tại các viện nghiên cứu có trình độ cao nhưng độ tuổi trung bình cũng cao, trong khi tại các cơ sở đào tạo, viên chức có
260
265
270
275
280
285
290
295
300
Trang 9trình độ đại học các chuyên ngành xây dựng đạt thấp, nhất là lĩnh vực kiến trúc – quy hoạch, xây dựng Bên cạnh đó, đội ngũ doanh nghiệp ngành xây dựng được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý doanh nghiệp còn chiếm tỷ lệ rất thấp (3,90%) và nhìn chung ít được đào tạo bài bản, nhất là kiến thức về quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…
Năm 2015, tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực cây dựng là 77.500 doanh nghiệp, ngoài ra còn có các doanh nghiệp nhỏ, gia đình,
tư nhân … Các công ty khoa học và công nghệ đang bắt đầu với nhiều dự án quy mô lớn Thông qua đó, trình độ và năng lực của nguồn nhân lực đã được cải thiện rõ rệt Nhiều công ty có tay nghề cao đã ký nhiều dự án đô thị và công nghiệp Công nhân được trang bị nhiều thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho công tác xây dựng, nhất là các dự án lớn và phức tạp
Về thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay, ngành xây dựng còn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ công nhân trực tiếp sản xuất qua đào tạo kỹ năng nghề còn rất thấp, tác phong công nghiệp chưa được cải thiện,…dẫn đến năng suất lao động không cao, chất lượng sản phẩm còn nhiều sai sót dẫn đến giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như ngay tại thị trường trong nước
Theo cục thống kê, trong ngành xây dựng hiện nay có khoảng 32% cán bộ chưa qua đào tạo, 41% trình độ sơ cấp và 68.7% đào tạo ở xã, huyện Trên cả nước chỉ có 36% cán bộ có chuyên môn, được đào tạo trong lĩnh vực xây dựng
Và chính vì nguồn nhân lực quá ít đã dẫn đến nhiều ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình triển khai dự án, quản lý và quy hoạch
Có nhiều nhà quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ không được đào tạo về kỹ thuật chuyên môn, thiếu năng lực quản lý, điều đó khiến cho tính cạnh tranh ở những dự án xây dựng là không hề lớn Ngoài kiến thức chuyên ngành, có rất ít cán bộ được đào tạo về những kỹ năng khác như ngoại ngữ là 3.9%, tin học là 17%, gây khó khăn trong công tác quản lý và giám sát xây dựng Nhiều khu vực thiếu nhân lực về quản lý công trình, quản lý đô thị và các giám sát dự án Nguồn lao động là yếu tố quyết định đến hiệu quả và năng suất lao động nhưng tỷ lệ lao động vẫn còn khá thấp Năm 2015, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đào tạo là 25.585 mục tiêu, trong đó đào tạo ở các trường nghể là 12.730 và đại học là 11.855 Trên thực tế, nhiều trường không tuyển dụng lao động và nhiều sinh viên không có việc làm, một số khác phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp
Cơ cấu trung bình của Việt Nam giữa kỹ sư – người có trình độ – công nhân
là 1: 1,3 : 0,5 trong khi trên thế giới là 1 : 4 : 10
Từ cơ cấu trên ta có thế thấy sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực trong ngành xây dựng, và tỉ lệ này có xu hướng ngày càng gia tăng
Khi các dự án xây dựng diễn ra nhanh và yêu cầu ngày càng cao, số lượng công nhân không kịp cung ứng gây ra tình trạng sụt giảm năng suất và chất lượng công trình, nhiều công nhân thiếu chuyên môn tạo ra sự sai sót trong công việc và khiến tính cạnh tranh trong ngành không cao
Phát triển nguồn nhân lực trong ngành xây dựng là vấn đề cấp bách trong thị trường Dựa vào kết quả quy hoạch nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020, để làm được này cần tổ chức điều tra chỉ tiêu và đánh giá về nguồn nhân lực xây
305
310
315
320
325
330
335
340
345
Trang 10dựng Đồng thời cũng đưa ra những chiến lược nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, phát triển ngành xây dựng, đáp ứng nhu cầu xây dung và nâng cao chất lượng đấu thầu, thiết kế và quy hoạch
Bên cạnh đó nhà nước cũng cần đưa ra những chính sách mới thông qua cơ chế thị trường, trả lương cho công nhân theo yêu cầu công việc nhằm thu hút nguồn nhân lực Những nhà thầu có kinh nghiệm trả lương cho nhân viên khá cao, mục đích là giữ chân những nhà quản lý có chuyên môn, nhân công có tay nghề để làm việc có hiệu quả
Thực tế cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực ngành Xây dựng của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Nhiều công trình lớn ở nước ta vẫn phải phụ thuô ̣c vào nguồn nhân lực của nước ngoài, kể cả lực lượng thiết kế, giám sát và vâ ̣n hành thiết bị tiên tiến như công trình giao thông ngầm, công trình hóa chất phức tạp… Đây cũng là mô ̣t trong những nguyên nhân dẫn đến viê ̣c nhiều doanh nghiê ̣p xây dựng Việt Nam không thể cạnh tranh khi đấu thầu các dự án trong và ngoài nước
Số liệu thống kê của Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị Bộ Xây dựng cho biết, số lượng công nhân chỉ nhiều hơn gấp 2 lần so với số lượng cán
bộ, viên chức Năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ công nhân cũng được đánh giá là còn nhiều hạn chế Số lượng lao động có trình độ Cao đẳng, Trung cấp nghề chỉ chiếm tỷ lệ 11,8%; số thợ bậc cao (bậc 6, 7) chỉ chiếm khoảng 7% nhân lực ngành Xây dựng
Trong hoàn cảnh này, nhiệm vụ nâng cao chất lượng ngành nhân lực là rất quan trọng để phát triển năng lực của ngành Xây dựng nói chung và ngành Vật liệu xây dựng nói riêng, trong thời gian tới
Việc phát triển nguồn nhân lực trong ngành xây dựng là vấn đề cấp bách trong thị trường Dựa vào kết quả quy hoạch nguồn nhân lực giai đoạn
2011-2020, để làm được này cần tổ chức điều tra chỉ tiêu và đánh giá về nguồn nhân lực xây dựng Đồng thời cũng đưa ra những chiến lược nhằm phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam, phát triển ngành xây dựng, đáp ứng nhu cầu xây dung và nâng cao chất lượng đấu thầu, thiết kế và quy hoạch
Tốc độ phát triển của ngành xây dựng quá nhanh, vốn đầu tư và số lượng công trình xây dựng đang trên đà tăng trưởng Thế nhưng nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường còn chưa theo kịp
Một số giải pháp cần áp dụng để nâng cao chất lượng cũng như nguồn nhân lực trong ngành xây dựng
Thứ nhất, chú trọng đào tạo ngay tại các trường đại học cao đẳng: việc này
sẽ giúp cho các doanh nghiệp có đội ngũ lao động lành nghề ngay từ đầu, giảm chi phí đào tạo lại nhân lực sau khi vào việc Không chỉ có vậy, nó còn hạn chế tình trạng “thừa thầy thiết thợ”, quản lý phải làm công việc kỹ thuật
Thứ hai, định kỳ đánh giá tay nghề của đội ngũ lao động, tìm ra những điểm còn hạn chế trong tổ chức: từ đó, lãnh đạo doanh nghiệp sẽ có những giải pháp phù hợp nhằm thu hútt nhân sự chất lượng cao, gia tăng sự hài lòng và cam kết của nhân viên Cũng thông qua hoạt động đánh giá này, nhà quản lý có những điều chỉnh phù hợp nhằm gia tăng hiệu quá làm việc, giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu đề ra
350
355
360
365
370
375
380
385
390