1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học của sự phát triển các dịch vụ nông nghiệp docx

8 405 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 231,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hộ nông dân nước ta có các khó khăn đối với việc cung cấp dịch vụ là hoat động theo thời vụ, người sử dụng rất nhỏ lẻ phân tán nên khó cho nhà cung cấp áp dụng kinh tế quy mô và kinh tế

Trang 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ NÔNG

NGHIỆP

Đào Thế Anh 1 , Hoàng Thanh Tùng 1 , Phạm Thị Hạnh Thơ 1

SUMMARY

Scientific base of agriculture support services development

Agricultural service is an indispensible catalysis factor for the development of agriculture Development of service must be parallel with the demand of agriculture development In some agricultural sectors, even it should be developed initially taking the path for agriculture development in general and for the farmer in particular In the recent years, agricultural service is a decentralization oriented development in both state’s service management and action organization of service in locality As a result, beside to gradually improve the efficiency of service supplied by state, some service models self-organized according to the support of consult agencies prove their efficiencies The problem is to institutionalize these models following decree 151/2007/0D-CP of government on collaborative in combination with supplying services based on value chain

to promote efficiency and quality of service that will be the trend of agricultural service The state should promulgate appropriate policies to meet the demand of this new orientation

aKeywords: Agriculture service, institution, organization, decentralization

I §ÆT VÊN §Ò

Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 (1988),

hộ nông dân được quyền tự chủ trong sản

xuất và có nhu cầu ngày càng tăng và đa

dạng đối với các dịch vụ nông nghiệp Hộ

nông dân nước ta có các khó khăn đối với

việc cung cấp dịch vụ là hoat động theo

thời vụ, người sử dụng rất nhỏ lẻ phân tán

nên khó cho nhà cung cấp áp dụng kinh tế

quy mô và kinh tế hộ nông dân phổ biến ít

chuyên nghiệp nên khó xây dựng quan hệ

hợp đồng với nhà cung cấp

Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ nông

nghiệp, nhà nước đã ưu tiên đầu tư trong

nhiều năm qua, các dịch vụ tuy có tăng

trưởng, nhưng chất lượng và hiệu quả dịch

vụ ngày càng kém đi so với nhu cầu phát triển nhanh và đa dạng của kinh tế nông nghiệp nông thôn Nhà nước đã chủ trương đổi mới phương thức quản lý theo hướng phân cấp và xã hội hóa nhưng tiến trình diễn ra còn chậm Trong bối cảnh Việt Nam

đã gia nhập WTO, với thách thức về năng lực cạnh tranh ngày càng tăng, cũng như những cơ hội mở ra với cơ chế “Hộp xanh”,

hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp được khuyến khích, việc nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển thể chế hệ thống dịch vụ trong nông nghiệp

là cấp thiết

II PH¦¥NG PH¸P NGHI£N CøU

1

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp, Viện CLT & CTP

Trang 2

• ghiên cứu hệ thống: Phân tích chNn

đoán hệ thống dịch vụ hiện hành

• ghiên cứu thể chế: Dùng kinh tế học

thể chế phân tích thể chế chính sách

dịch vụ

• ghiên cứu có sự tham gia của các

tác nhân liên quan: Đánh giá hiệu quả

dịch vụ

• ghiên cứu ngành hàng dịch vụ:

Nghiên cứu sự hình thành của thị

trường dịch vụ

III KÕT QU¶ Vµ TH¶O LUËN

1 Tổng quan về lý luận dịch vụ nông

nghiệp

(a) Dịch vụ nông nghiệp bao gồm tất cả

các của cải phi vật chất không thể lưu trữ,

cung cấp cho nông dân để tăng năng suất

Dịch vụ nông nghiệp bao gồm cả nghiên

cứu và phổ biến công nghệ, cung cấp đầu

vào, tín dụng, tiêu thụ đầu ra, tư vấn về

quản lý

(b) Các đặc điểm của dịch vụ nông

nghiệp: Về kỹ thuật, về kinh tế và về chất

lượng dịch vụ Khi phân tích một dịch vụ

cần phải quan tâm đến 5 vấn đề cơ bản đó

là: Ai cung cấp? Ai sử dụng? Ai trả tiền? Ai

kiểm soát chất lượng ? và Ai tư vấn ?

c Phân cấp quản lý là một sự đổi mới

về mặt thể chế nhằm cải thiện nguyên tắc

quản lý thông qua việc chuyển giao các

trách nhiệm từ Trung ương sang các cấp

dưới và sang khu vực tư nhân, xã hội dân

sự nhằm đáp ứng nhu cầu tốt hơn Có 04

loại dịch vụ: Dịch vụ công, dịch vụ tập thể,

dịch vụ công phải trả tiền, dịch vụ tư nhân

2 Hiện trạng của các hệ thống cung cấp các dịch vụ trong nông nghiệp, nhu cầu cung ứng dịch vụ trong nông nghiệp

Hiện nay, các dịch vụ nông nghiệp ngày trở nên đa dạng hơn theo nhu cầu, trong đó có 9 nhóm dịch vụ chính:

(a) Dịch vụ cung cấp giống, hiện là dịch vụ đã bắt đầu phân cấp, hoạt động theo thị trường, song có sự đầu tư lớn của 0hà nước Hệ thống cung cấp giống của

Nhà nước, các công ty trong nước mới cung cấp được khoảng 10%-30% tùy theo nhu cầu giống của nông dân Mạng lưới cung cấp giống từ các công ty nước ngoài chiếm ưu thế hơn các loại giống nhập nội, giống lúa chọn tạo trong nước chỉ chiếm 42%, giống nhập nội 43,8%, còn lại là giống địa phương (MARD, 2005) Hơn nữa, các loại giống bán trên thị trường cho nông dân vẫn còn nhiều loại giống kém chất lượng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất Trong bối cảnh đó một số

mô hình tổ nhóm nông dân sản xuất giống được tổ chức và đào tạo ra đời đã làm tăng

tỷ lệ sử dụng giống mới góp phần tăng năng suất cây trồng và nhất là bảo tồn và phát triển được các loại giống bản địa có giá trị Mô hình này tập trung vào các giống đã phổ biến mà không hề cạnh tranh với các công ty tư nhân hay của Nhà nước

có xu hướng tập trung vào các giống thuần mới và giống lai Như vậy chiến lược của dịch vụ cung cấp giống cần đảm bảo cân bằng giữa hai khu vực nói trên Bên cạnh

đó công tác quản lý chất lượng giống và đào tạo tuyên truyền về Luật Sở hữu trí tuệ

về giống là môi trường thể chế thuận lợi cho việc đNy mạnh phân cấp

b Dịch vụ cung cấp phân bón, hiện là dịch vụ đã phân cấp mạnh, hoạt động theo

Trang 3

thị trường, tuy vậy cần có sự kiểm soát điều

tiết của 0hà nước và sự tham gia của các tổ

chức nông dân đảm bảo quyền lợi cho nông

dân N ăm 2002 nước ta có 100 doanh

nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia

vào mạng lưới phân bón và đã đưa ra thị

trường tiêu thụ ít nhất 1420 loại phân bón

Từ năm 2000-2004, N hà máy Đạm Phú Mỹ

ra đời mới đáp ứng được 25-28% nhu cầu

phân bón, còn lại phải nhập khNu Vì vậy

giá phân bón của nước ta phụ thuộc giá thế

giới Giá phân bón trong nước giai đoạn

2003-2005 tăng 2-2,5 lần, giá lao động tăng

2-3 lần, trong khi đó giá nông sản chỉ tăng

1,2-1,3 lần, làm giảm sút nghiêm trọng

năng lực cạnh tranh của nông sản Trong

khi đó các chính sách bình ổn giá cả phân

bón của N hà nước lại tỏ ra kém hiệu quả

trong hoạt động này Dịch vụ cung cấp

phân bón đã xã hội hóa mạnh với sự tham

gia của các doanh nghiệp tư nhân, tuy vậy

việc kiểm tra chất lượng và điều tiết giá của

N hà nước còn quá yếu, ảnh hưởng trực tiếp

đến hiệu quả dịch vụ Bên cạnh đó cần thúc

đNy các tổ chức nông dân tham gia cung

cấp dịch vụ này nhằm cân bằng và đáp ứng

tốt hơn nhu cầu của nông dân nghèo

(c) Dịch vụ tài chính và tín dụng nông

thôn mới bắt đầu phân cấp Hệ thống cung

cấp dịch vụ tài chính nông thôn phát triển

mạnh trong những năm vừa qua kể cả hệ

thống chính thức và hệ thống cung cấp tín

dụng tư nhân và cộng đồng Theo Khảo sát

mức sống 2004, các hộ nông thôn vay tư

nhân đến 40% số vốn, tỷ lệ vay ngân hàng

còn quá nhỏ N hìn chung số tiền của nhóm

hộ nghèo vay được rất thấp, chỉ từ 1,8-2

triệu đồng Do hộ nông dân phân tán nên tỷ

lệ chi phí giao dịch trên lãi tăng lên với các

khoản vay nhỏ Tuy vậy, vấn đề quan trọng

hơn hiện nay là thiếu tư vấn đầu tư sản xuất

để sử dụng vốn có hiệu quả đối với hộ nghèo Do đó, cần phải đNy mạnh sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với các hoạt động cung cấp dịch vụ khác như khuyến nông, thông tin thị trường để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nông dân Về chính sách, cần đNy mạnh quá trình chuyển đổi các tổ chức tài chính quy mô nhỏ theo

N ghị định số 28/N Đ-CP của Chính phủ; Đa dạng hóa hình thức huy động vốn và dịch

vụ tín dụng; Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính tín dụng với hoạt động dịch vụ nông nghiệp khác

(d) Dịch vụ khuyến nông đang thử nghiệm các hình thức phân cấp N ghị định

số 56-CP nêu rõ: Khuyến nông, khuyến ngư

đã bắt đầu phân cấp đến các xã, phường Tuy nhiên có sự không đồng bộ của hệ thống khuyến nông cơ sở Mặc dù kinh phí khuyến nông N hà nước không ngừng tăng lên và đã đạt mức trên 100 tỷ, nhưng mới chỉ tập trung được vào một số chương trình trọng điểm, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu

đa dạng Các hoạt động khuyến nông chủ yếu tập trung vào việc phổ biến và trình diễn các tiến bộ kỹ thuật mới về sản xuất cùng với các khoản hỗ trợ đầu vào mà ít quan tâm đến các hoạt động tư vấn, thông tin thị trường và quản lý chất lượng sản phNm Cần thúc đNy các tổ chức nông dân tham gia hoạt động khuyến nông nhằm đa dạng hóa hình thức Việc hình thành các tổ nhóm khuyến nông tập thể thực hiện quy trình kỹ thuật nhằm phát triển các sản phNm

có thế mạnh tại địa phương đã mang lại hiệu quả thiết thực đối với thu nhập của người dân Hoạt động khuyến nông cần phối hợp chặt chẽ với dịch vụ thông tin thị trường, hệ thống quản lý chất lượng và đào tạo cán bộ tư vấn khuyến nông thị trường Hoạt động liên kết giữa các công ty cung

Trang 4

ứng đầu vào trong nông nghiệp chưa có sự

kết hợp chặt chẽ với cơ quan khuyến nông

Khuyến nông có thu cần được thử nghiệm

đối với các ngành hàng mang tính hàng hóa

cao Tiếp cận tư vấn xây dựng chất lượng

nông sản trong ngành hàng cần được áp

dụng trong hoạt động khuyến nông

(e) Dịch vụ bảo vệ thực vật đã phân

cấp mạnh nhưng thiếu hệ thống quản lý

chất lượng của 0hà nước Đối với dịch vụ

cung cấp thuốc bảo vệ thực vật chủ yếu

được thực hiện bởi hệ thống công ty phân

phối và các đại lý thuốc tư nhân Hiện nay,

nước ta chỉ phải nhập khNu một lượng nhỏ

thuốc BVTV từ nước ngoài, nguồn thuốc

BVTV đều do các công ty trong nước sản

xuất, tuy nhiên nguyên liệu chủ yếu nhập

khNu, do vậy vẫn phụ thuộc giá nguyên liệu

thế giới Mặc dù Việt N am đã có danh mục

về những loại thuốc được sử dụng và cấm

không được sử dụng nhưng nhiều loại thuốc

không đúng danh mục vẫn được sử dụng

gây ra nhiều vấn đề về vệ sinh an toàn thực

phNm Dịch vụ BVTV đã phân cấp mạnh

trên thực tế nhưng cần được tăng cường

kiểm soát chất lượng vì đây là vấn đề an

toàn thực phNm quốc gia Về chính sách địa

phương, cần phát triển hoạt động BVTV

theo các tổ nhóm sản xuất nhằm tăng cường

hoạt động quản lý chất lượng nội bộ của các

nhóm, đồng thời tăng cường cán bộ BVTV

cấp xã Thể chế này mang tính quyết định

trong việc phát triển sản phNm an toàn

(f) Dịch vụ thú y, bắt đầu phân cấp

Hiện nay, một số nơi hệ thống thú y với

mạng lưới thú y viên cơ sở đã phát triển tới

cấp thôn Mặc dù sự phát triển mạnh mẽ

của hệ thống thú y N hà nước nhưng tại

một số địa phương hệ thống tác nhân cung

cấp dịch vụ thú y vẫn chưa đáp ứng được

nhu cầu sử dụng dịch vụ hiện tại của người dân nhất là trong bối cảnh tình hình dịch bệnh gia súc gia cầm đang diễn ra hết sức phức tạp Về chất lượng thuốc thú y vẫn còn một số loại thuốc kém chất lượng đòi hỏi cần có sự kiểm tra giám sát chặt chẽ để loại bỏ những loại thuốc này Trước những thách thức đó đã xuất hiện hệ thống thú y viên tự do tại các địa phương đã tự tổ chức thành hiệp hội hay hợp tác xã để cung cấp dịch vụ cho người sử dụng Hệ thống này

là đối tác của mạng lưới thú y N hà nước ở cấp cơ sở có tác dụng làm tăng hiệu quả dich vụ thú y Về chính sách, cần kết hợp chặt chẽ hoạt động cung ứng giống vật nuôi với các hoạt động thú y; ĐNy mạnh đào tạo, tăng cường năng lực của cán bộ thú y cơ sở; Kết hợp cung cấp dịch vụ thú

y với bảo hiểm vật nuôi

(g) Dịch vụ thủy lợi, đang thử nghiệm các mô hình phân cấp Chính phủ đã xúc

tiến chuyển giao công trình thuỷ lợi có quy

mô nhỏ (dưới 150ha) cho các tổ chức nông dân trong thập niên 1990 Tuy nhiên, kết quả chuyển giao rất khiêm tốn với diện tích tưới 0,8 triệu ha được quản lý bởi các tổ chức nông dân, đạt 27% diện tích đất được tưới trên toàn quốc Việc chuyển giao quản

lý thuỷ nông mới chỉ thực hiện đối với công trình có quy mô nhỏ cấp xã Mức thu thuỷ lợi phí được quy định là khá thấp và tỷ lệ thu được hiện nay cũng thấp Mức phí do UBN D tỉnh xây dựng và HĐN D tỉnh phê duyệt thường thấp hơn chi phí thực tế của các công ty quản lý thuỷ nông Kết quả là các nguồn thu công chỉ đáp ứng được một nửa kinh phí cần có để duy tu hàng năm và thực tế công việc duy tu chỉ có thể tập trung vào việc sửa chữa những hư hỏng xảy ra, dẫn đến sự xuống cấp nhanh chóng các hệ thống hiện có và chi phí vận hành cũng trở

Trang 5

nên đắt hơn Chính sách miễn thủy lợi phí

cho những hộ nông dân sử dụng các công

trình thủy lợi do N hà nước đầu tư hy vọng

sẽ góp phần giảm đóng góp của người dân

Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề hiện nay

người dân quan tâm là việc sử dụng các

khoản đóng góp đó và nhất là việc thành lập

các tổ nhóm sử dụng dụng nước và các hoạt

động quản lý thủy lợi có sự tham gia (PIM)

đang là một biện pháp hiệu quả để cung cấp

dịch vụ thủy lợi cho người dân Về chính

sách, cần củng cố, sắp xếp lại các tổ hợp tác

và hợp tác xã thủy lợi; dựng các tổ sử dụng

nước tự quản và không nên miễn thủy lợi

phí

(h) Dịch vụ sau thu hoạch, hoạt động

phân cấp mạnh, nhưng thiếu đầu vào và

kiểm tra của 0hà nước Tổn thất sau thu

hoạch vẫn đang là vấn đề bức xúc hiện nay

Hoạt động sản xuất lúa ở Đồng bằng sông

Cửu Long, tổn thất sau thu hoạch lên đến

30% Dịch vụ sau thu hoạch chủ yếu được

thực hiện bởi các hệ thống cung cấp dịch vụ

tư nhân Có 5 loại dịch vụ sau thu hoạch mà

người nông dân đang sử dụng là: Tuốt lúa,

phơi sấy, vận chuyển, xay xát và tiêu thụ

Tuỳ thuộc vào điều kiện về diện tích, lao

động, vốn, thời tiết mà các hộ quyết định sử

dụng một số hay tất cả các dịch vụ đó Hiện

nay, giá dịch vụ quá cao đang là khó khăn

lớn nhất mà nông dân gặp phải khi sử dụng

các dịch vụ Khó khăn thứ hai là chất lượng

dịch vụ không đảm bảo Về chính sách,

dịch vụ sau thu hoạch cần được phối hợp

chặt chẽ với hoạt động khuyến nông và gắn

với mục tiêu xây dựng chất lượng trong

ngành hàng nông sản Cần hỗ trợ xây dựng

các tổ nhóm dùng chung máy móc thiết bị

sau thu hoạch để tăng hiệu quả; Quan tâm

nhiều hơn đến vấn đề sau thu hoạch các

hoạt động khuyến nông của địa phương và

nghiên cứu phát triển và ứng dụng các công

nghệ bảo quản mới

(i) Dịch vụ tiêu thụ sản phTm và thông tin thị trường, chưa xây dựng được các mô hình phân cấp Hệ thống thông tin thị

trường chủ yếu tập trung vào thông tin về giá cả, trong khi nhu cầu của nông dân về

thông tin thị trường bao gồm: 1) Thông tin

chung về giá; 2) Về nguồn và hình thức cung cấp thông tin; 3) Về thông tin dự báo 4) Thông tin về chính sách; 5) Về thời

điểm cung cấp thông tin Hiện nay, hoạt

động thông tin thị trường chủ yếu do hệ thống N hà nước cung cấp mang nặng tính hành chính, do vậy thiếu khả năng mềm dẻo, đáp ứng nhu cầu Trong các hoạt động khuyến nông, hầu như chưa quan tâm đến hoạt động thị trường Về định hướng chính sách, các hoạt động khuyến nông cần được phối hợp chặt chẽ với hoạt động thông tin thị trường ở cấp địa phương để tăng hiệu quả của cả hai loại hình dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiếp cận thị trường và nâng cao chất lượng của nông dân N ội dung thông tin hiện nay còn thiếu về chất lượng

và dự báo thị trường cần được bổ sung Việc thu thập thông tin cần phối hợp với

hệ thống khuyến nông để tăng hiệu quả dịch vụ Dịch vụ tiêu thụ nông sản cần gắn chặt với xây dựng các thể chế quản lý chất

lượng nông sản

3 Xác định, đánh giá các nội dung điều kiện hình thành, phát triển dịch vụ nông nghiệp và của việc liên kết thị trường dịch vụ

Để các dịch vụ nông nghiệp hình thành

và phát triển theo hướng thị trường cần phải

có 3 điều kiện cơ bản: N hu cầu dịch vụ của nông dân, sự tham gia của các tác nhân cung cấp dịch vụ và môi trường chính sách thuận lợi Hộ nông dân cần các dịch vụ đồng bộ theo từng ngành hàng, vì vậy việc điều phối và liên kết thị trường các dịch vụ

sẽ tăng hiệu quả chung của các loại dịch vụ

Trang 6

Hơn nữa, nhu cầu về các sản phNm chất

lượng ngày càng tăng và tiêu chuNn hóa

cũng đòi hỏi các dịch vụ phải đảm bảo sự

đồng bộ theo từng ngành hàng Các dịch vụ

riêng lẻ cần có sự liên kết với nhau theo

hình thức các tổ chức xã hội dân sự Hiện

nay, có các hình thức hợp tác chủ yếu trong

nông nghiệp đó là tổ hợp tác, hợp tác xã và

các hiệp hội ngành hàng Chính sách phát

triển thị trường liên kết dịch vụ sẽ tạo ra

một hệ thống dịch vụ đồng bộ từ đó nâng

cao hiệu quả hoạt động của các thể chế hệ

thống dịch vụ nông nghiệp Đặc biệt, sự ra

đời của N ghị định số 151/2007/N Đ-CP của

Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của tổ

hợp tác sẽ là cơ sở và nền tảng pháp lý quan

trọng để phát triển thị trường dịch vụ nông

nghiệp

IV KÕT LUËN Vµ KIÕN N GHÞ

Cơ sở khoa học của phát triển dịch vụ

nông nghiệp đã được nghiên cứu dựa trên lý

luận của kinh tế học thể chế và theo nguyên

lý của thị trường dịch vụ, đáp ứng theo nhu

cầu sử dụng và các dịch vụ công ích cần

được xã hội hóa và phân cấp mạnh để tăng

hiệu quả dịch vụ, tăng sự tham gia của

người sử dụng dịch vụ vào quản lý dịch vụ

Hệ thống dịch vụ công trong thời gian qua

tăng về số lượng nhưng chưa đáp ứng được

về chất lượng dịch vụ so với nhu cầu đa

dạng của nông nghiệp Sự phân cấp của các

dịch vụ nông nghiệp có mức độ rất khác

nhau, phụ thuộc vào thị trường chứ hoàn

toàn chưa có được môi trường chính sách

thúc đNy thuận lợi của N hà nước

Các kiến nghị giải pháp chính sách thúc

đNy phân cấp quản lý dịch vụ nông nghiệp:

- Thúc đNy phân cấp quản lý và xã hội

hóa các dịch vụ nông nghiệp, bên cạnh đó

N hà nước cần chuyển sang hoàn chỉnh môi

trường thể chế kiểm soát chất lượng dịch

vụ, tăng cường hoạt động kiểm soát đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ tư nhân

- Các tổ chức dịch vụ nông nghiệp tại chỗ theo tổ hợp tác, HTX, hiệp hội , có khả năng điều phối và liên kết với nhà nước xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp địa phương Các dịch vụ địa phương cần được thừa nhận chính thức để có thể bổ sung được các khoảng trống dịch vụ tại địa phương

- Các dịch vụ nông nghiệp cần được tổ chức theo ngành hàng và cần đảm bảo sự phối hợp, liên kết các dịch vụ để có đươc các dịch vụ trọn gói thì hiệu quả sẽ cao hơn

- N hà nước cần song hành bằng các chương trình nghiên cứu, hỗ trợ, tư vấn, đào tạo nhằm nhân rộng và chuyên nghiệp hóa của các tổ chức nông dân N hà nước cần tiếp tục đầu tư thúc đNy các tổ chức dịch vụ công như cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp khoa học để đủ năng lực đáp ứng nhu cầu dịch vụ nông nghiệp

- N hà nước cần trực tiếp cung cấp dịch

vụ công và cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn, các ngành hàng bản địa, đặc sản, có

số đông người nghèo tham gia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Philippe Lavigne Delville, Reagan Kuhn, Pierre Michel Rosner, Damien Thibault, Bùi Thị Thái, 2006 Các tổ

chức địa phương và các dịch vụ tại chỗ, kinh nghiệm của dự án DIALOGS về

hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội tại nông thôn miền Bắc Việt Nam

2 Đào Thế Anh, Chu Tiến Quang, Đào Thế Tuấn et al., 2006 Hành động tập

thể và sự tham gia của nông dân nhỏ

Trang 7

vào thị trường: Cơ hội thoát nghèo cho nông dân ở Việt Nam

3 Lê Quốc Doanh, Đào Thế Tuấn, Đào

Thế Anh, 2004 Nghiên cứu luận cứ

khoa học để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Đề tài khoa học cấp Nhà nước KC 07-17)

98/004/B/01/99: Nghiên cứu nhu cầu của nông dân

5 CIEM, IPSARD, 2007 Đặc điểm kinh

tế nông thôn Việt Nam, kết quả điều tra

hộ gia đình nông thôn năm 2006 tại 12 tỉnh

TS Phạm Xuân Liêm

Trang 8

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

8

Ngày đăng: 11/03/2014, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w