Luận văn Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên trình bày những vấn đề chung về chia sẻ nguồn lực thông tin, khái quát thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên; đồng thời khảo sát và thực trạng hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện; trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện
Trang 1
NGUYEN THI HONG NGQC
HOAT DONG CHIA SE NGUON LUC THONG
TIN GIU'A THU VIEN CAC TRUONG TRONG
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60320203
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Mai Hà
Nam,2014
Trang 2
thông tin giữa thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Mai Hà
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong để tài này là trung thực và chưa từng được công bồ trong bắt cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Trang 3Chương 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE CHIA SE NGUON LUC THONG TIN VA KHAI QUAT VE THU’ VIEN CAC TRUONG TRONG DAI HOC THAI NGUYEN
1.1 Những vấn đề chung về chia sẻ nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin
1.1.2 Vấn đề chia sẻ nguôn lực thông tin -cccccccrrecccee
1.1.3 Điều kiện để chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện
1.2 Khái quát về Đại học Thái Nguyên và hệ thống thư viện các trường
trong Đại học Thái Nguyên
1.2.1 Khái quát về Đại học Thái Nguyên -esseserereeee
1.2.2 Khái quát vẻ hệ thống thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
1.2.3 Đặc điểm nguôn lực thông tin -2 -ccccccccccrrrreccee
1.3 Vai trò của chia sẻ nguồn lực thông tin trong hoạt động của thư viện các trường thuộc Đại học Thái Nguyên
Chwong 2: KHA NANG CHIA SE NGUON LUC THONG TIN GIU'A THU’ VIỆN CAC TRUONG TRONG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
2.1 Nhu cầu chia sẽ tài liệu giữa thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
2.1.1 Đặc điểm chung trong chương trình giảng dạy của các trường trong Đại học Thái Nguyên
2.1.2 Đặc điểm chung về nguồn lực thông tin của thư viện các trường trong
Đại học Thái Nguyên
2.2 Tiềm năng chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
2.2.1 Tiềm năng thông tin
2.2.2 Điều kiện cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin
Trang 4
Đại học Thái Nguyên 2 setetrrterrrrrrrrrrrrrrrerrerree 63
2.4 Đánh giá chung về khả năng chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐÂY MẠNH CHIA SẺ NGUỎN LỤC THÔNG TIN GIỮA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG TRONG ĐẠI HỌC THÁI
"22,5 7 3.1 Xây dựng cơ chế và chính sách chia sẻ nguồn lực thông tin 71 3.1.1 Xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn lực thông tin 71
3.1.2 Xây dựng chính sách chia sẻ nguồn lực thông tin 79 3.2 Lập kế hoạch xây dựng Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3.4 Các giải pháp về phát triển nguồn lực thông tin 92 3.4.1 Tăng cường kinh phí phát triển nguồn lực thông tin 92
3.5 Tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin 93
Trang 5Quy tắc biên mục Anh — My
CĐKTKT Cao ding Kinh tế Kỹ thuật
Bảng phân loại thập phân Dewey ĐHKT&QTKD Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh DHKTCN Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
ĐHTN Đại học Thái Nguyên
MARC Machine Readable Cataloguing
Khổ mẫu biên mục có thể đọc bằng máy
NLTT Nguồn lực thông tin
Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến
TV-TTTT Thư viện-Trung tâm thông tin
Trang 6Bảng Ï.Ì Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu tư cho thư viện các
trường trong Đại học Thái Nguyên Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tô chức của Đại học Thái Nguyên
Các bảng, hình được thể hiện ở Chương 2
Bảng2.l Các ngành học của trường Đại học Sư phạm
Bảng2.2 _ Các ngành học của trường Đại học Nông lâm
Bảng 2.3 Các ngành học của trường Đại học Khoa học
Bảng 24 Các ngành học của trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp
Bảng 2.5 Các ngành học của trường Đại học Y dược
Bang 2.6 Các ngành học của trường Đại học CNTT&TT
Bảng 2.7 Các ngành học của trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh
Bang 2.8 anh học của trường Cao đăng Kinh tế Kỹ thuật
Bang 2.9 Các ngành học của trường Khoa Ngoại ngữ
Bang 2.10 Các ngành học của Khoa Quốc tế
Bang 2.11 Bảng tỷ lệ các chuyên ngành
Bang 2.12 Bảng tỷ lệ các môn học
Bảng 2.13 Thống kê nguồn tài liệu in ấn
Bảng 2.14 - Thực trạng đội ngũ cán bộ thư viện
Bảng 2.15 _ Chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện
Bang 2.16 Bảng Marc 21 thường dùng của Trung tâm Học liệu
Bảng 2.17 Marc 21 thường dùng của Thư viện trường ĐHKTCN
Hình 2.1 Thư viện số Trung tâm Học liệu
Hinh2.2 Trang wcb thư viện trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp
Hình 2.3 _ Thư viện số trường Đại học Nông lâm
Các bảng, hình được thể hiện ở Chương 3 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tô chức của Trung tâm Học liệu
Trang 7Nhu cầu chia sẻ nguồn lực thông tin đã được các cơ quan thông tin
~ thư viện đặt ra từ khá lâu Tuy nhiên mức độ triển khai lại liên quan đến đặc thù điều kiện ở mỗi nước Bên cạnh việc tham gia vào hệ thống cho mượn liên thư viện (inter-library loan), các cơ quan TTTV cũng
cần suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc chia sẻ nguồn lực trong nhiều
lĩnh vực khác như: hợp tác bổ sung, hợp tác biên mục, hợp tác phân
loại Chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường đại học ở Việt Nam nhằm
trong hệ thống
Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) được thành lập ngày 4 tháng 4 năm
1994 theo Nghị định số 3ICP của Chính Phủ trên cơ sở tổ chức sắp xếp
lại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Sau 20 năm xây
dựng và phát triển, ĐHTN đã không ngừng phát triển và hoàn thiện
theo mô hình đầy đủ của một đại học vùng, đa cấp, đa ngành bao gồm: các đơn vị quản lý, các đơn vị đảo tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị phục vụ đào tạo Hiện nay, ĐHTN có tổng số 19 đơn vị thành viên, trong đó có 10 đơn vị đào tạo gồm 07 trường đại học, 01 trường cao đẳng và 02 khoa trực thuộc.
Trang 8dục là đầu tư cho tương lai”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững” Phương hướng chung của ĐHTN đến năm 2015 là
“Tiếp tục phát huy mọi nguồn lực xây dựng ĐHTN thành đại học trọng
điểm; trung tâm đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao của vùng trung du,
miền núi phía Bắc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tô quốc Việt Nam Xã
hội chủ nghĩa ”, tiến tới thực hiện thắng lợi “Đề án quy hoạch phát triển ĐHTN thành đại học trọng điểm; trung tâm đào tạo, khoa học của vùng đến năm 2020” đã được Bộ Giáo dục và Đảo tạo phê duyệt
Để thực hiện điều đó, ĐHTN vừa không ngừng đổi mới phương, pháp giảng dạy, đổi mới nội dung chương trình đào tạo, trang thiết bị
dạy học; vừa không ngừng phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức cả về số
lượng và chất lượng Trong các giải pháp đầu tư cho việc nâng cao chất
lượng giáo dục — đào tạo rất cần đến những bộ phận hỗ trợ cho công tác giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong đó hệ thống TTTV là một bộ phận không thê thiếu của các trường đại học, góp phần phục vụ đắc lực cho việc nâng cao chất lượng giáo duc — dao tao và làm chuyển biến về chất của sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học
Hoạt động chia sẻ NLTT có vai trò quan trọng trong hệ thống thư viện các trường đại học nói chung cũng như giữa thư viện các trường thuộc ĐHTN nói riêng Chia sẻ NLTT chính là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu bạn đọc nhanh nhất, hiệu quả nhất, điều mà mỗi thư viện đơn lẻ không thể nào thực hiện một cách tốt nhất như mong muốn của bạn đọc Hoạt động chia sẻ NLTT giúp cho các thư viện hỗ trợ nhau hoạt động,
góp phần làm phong phú vốn tài liệu của các thư viện Các thư viện của
Trang 9nhưng thư viện các trường vẫn hoạt động độc lập Mặc dù giữa thư viện
các trường trong ĐHTN có nhu cầu chia sẻ NLTT với nhau để tăng cường vốn tài liệu, giảm chỉ phí trong công tác bỗ sung nhằm đáp ứng
tối đa nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên, cán bộ
trong Đại học nhưng hiện nay vẫn chưa có một sự quản lý thống nhất
để điều phối hoạt động chia sẻ NLTT giữa các đơn vị nên hoạt động chia sẻ này đôi khi diễn ra một cách tự phát, manh mún giữa một vài đơn vị với nhau thông qua hình thức đơn giản như: cho mượn một số lượng GT, tài liệu tham khảo trong một thời gian nhất định, sao chụp
những tài liệu quý hiểm, ít bản
Muốn hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong
ĐHTN triển khai một cách có hiệu quả, cần có giải pháp nhằm tập trung
vào việc phối hợp các hình thức trao đổi thông tin: dịch vụ mượn liên thư viện, mục lục liên hợp trực tuyến, vấn đề hợp tác trong công tác bỗ
sung tài liệu, chia sẻ nguồn thông tin số Trên cơ sở đó, xây dựng một
cơ chế hợp tác cho hoạt động chia sẻ thông tin cũng như dự tính những thuận lợi và khó khăn khi triển khai các hoạt động này giữa thư viện các trường trong ĐHTN,
Với mong muốn đóng góp một phần kiến thức thu nhận được và từ
kinh nghiệm thực tiễn trong vấn đề tìm hiểu thực trạng hoạt động chia
sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN nhằm đề xuất các giải pháp cho hoạt động này, tôi chọn đề tài: “Hoqr động chia sẻ nguồn lực
thông tin giữa thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên” làm
đề tài luận văn thạc sĩ Khoa học Thông tin thư viện của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Những năm gần đây, các cơ quan thông tin - thư viện đã tổ chức
một số hội nghị, hội thảo về vấn đề chia sẻ NLTT Các nhà nghiên cứu, cán bộ thư viện cũng đã để cập đến những vấn đề liên quan đến hoạt động chia sẻ NLTT như: Dịch vụ mượn liên thư viện; Vấn đề phát triển
và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam trên các tạp chí Thư viện Việt Nam và Tạp chí Thông tin & tư liệu
Trong số các luận văn thạc sĩ của học viên cao học khoa Khoa học
thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã có một số luận văn thạc sỹ
nghiên cứu về vấn đề chia sẻ NLTT như: tác giả Nguyễn Thúy Cúc viết
về “Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các Thư viện thuộc hệ thống thư viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam” năm 2005 hay tác
giả Hoàng Ngọc Chỉ với đề tài “Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin
giữa các trường đại học khối kỹ thuật trên địa bàn Hà Nội” năm 2011 Ngoài ra, trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Thong tin — thu
viện cũng đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề chia sẻ NLTT
như: tác giả Đỗ Văn Hùng với “Dịch vụ mượn liên thư viện” trên Tạp
chí Thư viện Việt Nam số 3; Tác giả Nguyễn Hữu Hùng với “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam” trên Tạp
chí Thông tin và Tư liệu số 1; hay tác giả Trịnh Kim Chi với “Vấn đề chia sẻ nguồn lực” trên Tập san Thư viện số 12
Vấn đề chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN đang
là một vấn đề cấp thiết, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu về hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN Do vậy tôi đã chọn hướng nghiên cứu NLTT của thư viện các trường trong ĐHTN và hoạt động chia sẻ NLTT giữa
Trang 11các đơn vị làm đề tài luận văn tốt nghiệp Với việc lựa chọn dé tài nghiên cứu này, tôi hy vọng có thể tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát thực trạng NLTT của thư viện các trường trong ĐHTN và hoạt động chia sẻ
NLTT giữa các đơn vị ấy, từ đó đề xuất những giải pháp đẩy mạnh hoạt
động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN với nhau và với Trung tâm Học liệu - thư viện đầu mối của ĐHTN, nhằm đáp ứng tối đa NCT của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong toàn ĐHTN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối trợng nghiên cứu
Luận văn hướng nghiên cứu vào đối tượng là hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
~ Tìm hiểu nhu cầu chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
- Khảo sát và nghiên cứu thực trạng hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
Trang 12- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
§ Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu:
$.1 Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác-LêNin và dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thư viện
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
~ Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phuong pháp quan sát
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thống kê
6 Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần vào việc khẳng định vai trò, vị trí, ý
nghĩa của hoạt động chia sẻ NLTT trong hoạt động TT-TV
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận văn cung cấp những thông tin tổng quan về hệ thống thư viện các
trường thuộc ĐHTN, thực trạng hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
+ Đánh giá những điểm mạnh và những hạn chế cần khắc phục, giải
quyết trong hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN.
Trang 13+ Đề xuất phương hướng và giải pháp để quản lý và nâng cao hiệu quả
hoạt động chia sẻ NLTT giữa thư viện các trường trong ĐHTN
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn dé chung về chia sẻ nguôn lực thông tin và khái quát
về thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
Chương 2: Khả năng chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư viện các trường
trong Đại học Thái Nguyên
Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh chia sẻ nguôn lực thông tin giữa thư
viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
Trang 14Chương I
NHUNG VAN DE CHUNG VE CHIA SE NGUON LUC THONG TIN VA KHAI QUAT VE THU VIEN CAC TRUONG TRONG DAI HQC THAI NGUYEN 1.1 Những vấn đề chung về chia sẻ nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm nguân lực thông tin
Trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà, vấn đề đổi mới phương,
pháp dạy - học, nâng cao chất lượng giáo dục đảo tạo luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục quan tâm Một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Bộ Chính trị đã đề ra nhằm đổi mới căn bản, toàn diện sự nghiệp
giáo dục và đào tạo Việt Nam đó là: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy
học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian
tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết
và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống" Hiện nay, các trường đại học, cao đăng trong cả nước đã chuyển từ
phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Một trong những yêu cầu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là giảm đáng kể giờ lên lớp lý thuyết và tăng số giờ thảo luận, thí nghiệm, thực hành Giờ tự học của sinh viên tăng gấp đôi so với đào tạo theo niên chế Để đáp
ứng với các yêu cầu đó, đòi hỏi cần phải có một hệ thống TTTV đủ mạnh, một hệ thống GT, để cương bài giảng, tài liệu tham khảo, nguồn thông tin
khoa học đáp ứng nhanh chóng, đầy đủ nhu cầu của người dạy, người học Việc triển khai mô hình đào tạo theo tín chỉ thành công gắn liền với nhiều yếu
tố, trong đó nguồn học liệu, nguồn thông tin khoa học đóng một vai trò quan
trọng, quyết định trong kết quả học tập và nghiên cứu khoa học.
Trang 15Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyén giao tri
thức và nghiên cứu khoa học Trong đó, một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng và đóng vai trò quyết định chất lượng chuyền giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp nguồn tin của thư vi
trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam phải song hành với quá trình đổi mới
các thư viện đại học nhằm thỏa mãn tốt nhất nhất nhu cầu thông tin cho NDT
Việc đổi mới phương pháp dạy — học, chuyền đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và kiên trì mục tiêu không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong nhà trường đại học đã và đang đặt
ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin — thu viện trong hệ thống thư viện các trường đại học hiện nay
Trong đó, NLTT của thư viện cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá, kiểm định chất lượng trường đại học; là điều kiện quan trọng đáp ứng yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy — hoc
Ở dạng chung nhất, NLTT được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực
tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội
NLTT phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận lại trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn
Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghỉ lại trên phương tiện theo quy ước và không
theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tô chức và ngành công nghiệp thông tin.
Trang 16Nguồn lực thông tin được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin,
được tổ chức, kiểm soát sao cho NDT có thể truy nhập, tìm kiếm, khai thác,
sử dụng được và phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội
Nguồn lực thông tin là loại tài sản có định đặc biệt, càng được khai thác
sử dụng thì càng giầu thêm mà không hề bị hao mòn mắt mát đi
Nguôn lực thông tin có các đặc trưng sau:
- Tinh vật lý: Nguồn lực thông tin là những phần thông tin hoặc tri thức
được ghi lại, cố định lại thông qua một hệ thống dấu hiệu và được lưu giữ
trên các vật mang tin (như giấy, đĩa, băng từ )
~ Tính cấu trúc: Nguồn lực thông tin phải có tính cấu trúc thể hiện ở chỗ
các thông tin phải được trình bảy, diễn đạt, nhận dạng (nhận dạng về hình
thức và nhận dạng về nội dung) theo các quy cách và tiêu chuẩn nhất định
giúp con người có thể bao quản an toàn và dễ dàng truy nhập thông tin,
- Tính truy cập: Nguồn lực thông tin phải được tổ chức kiểm soát sao cho NDT có thể tìm ra chúng thông qua các điểm truy cập khác nhau, ví dụ NDT quan tâm đến nội dung thông tin thì các chủ đề sẽ là thành phần truy cập chủ yếu trong các hệ quản trị thông tin
- Tính chia sẻ: Tính chia sẻ của NLTT thể hiện ở khả năng trao đổi nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau Muốn vậy giữa các hệ thống thông tin phải có sự tương thích Tiền đề công nghệ đẻ trao đổi nhiều
chiều này là sự tồn tại của các mạng Việc cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu
không chỉ hạn chế trong khuôn khổ những gì cơ quan thông tin, thư viện đó
có mà phải thực hiện nguyên lý chia sẻ NLTT dựa trên mạng trao đổi thông
tin năng động, có hiệu quả
Trang 17~ Tính giá trị: Giá trị của thông tin càng cao khi càng có nhiều người sử dụng NLTT nếu được sử dụng một cách hợp lý sẽ có tác động thúc đây mạnh
mẽ các quá trình hoạt động xã hội, kích thích sự sáng tạo của con người
1.1.2 Van dé chia sẻ nguôn lực thông tin
Chia sẻ nguồn lực là sự giúp đỡ lẫn nhau để đáp ứng kịp thời cho các
nhu cầu Nói một cách khác đó là sự đóng góp riêng của mỗi người đem lại
lợi ích cho những người khác Chia sẻ nguồn lực có thể được áp dụng đối với
các kho tài liệu, quỹ tài chính và nhân lực
Chia sẻ NLTT là sự hợp tác, phối hợp với nhau giữa các cơ quan TTTV
để đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu của NDT của mỗi cơ quan đó
Theo TS Lê Văn Viết: “Mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện là hình thức phục vụ bạn đọc khi sử dụng NLTT của các thư viện, cơ
quan thông tin khác cả trong nước lẫn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đọc và
thông tin của người dùng thư viện mình Như vậy có mượn, chia sẻ tài liệu trong nước và quốc tế Mượn, chia sẻ tài liệu có mục đích tạo ra những điều kiện tốt nhất để thoả mãn một cách toàn diện và kịp thời những yêu cầu về tài liệu, thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, khoa
học, giáo dục, văn hóa, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội nghề
nghiệp và các cá nhân, đồng thời phát huy với hiệu quả cao nhất vốn tài liệu,
thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin trong cả nước Mượn, chia sẻ tài
liệu vì thế tiết kiệm được kinh phí cho các thư viện” [22, tr.15]
Hợp tác thư viện để chia sẻ NLTT đã có lịch sử lâu đời, ngay từ năm
1907 Hội Thư viện Mỹ đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề này Những hình thức chủ yếu của nó trong thời gian này là thành lập mục lục liên hợp và trao đổi sách, mượn giữa các thư viện Những năm sau này còn xuất hiện các hình
thức khác như phối hợp bồ sung, tạo lập mạng thông tin sử dụng chung NLTT
Trang 18Trên thực tế, một TTTT dù có lớn đến đâu, dù có được đầu tư ưu đãi đến đâu nếu hoạt động biệt lập, sẽ không thể thực hiện được một cách day đủ và hoàn thiện các chức năng mà mình phải đảm nhận
Hiện nay một trong những vấn đề quan tâm của các thư viện ở tất cả các nước là giá thành tài liệu bổ sung cao Vấn đề này đang khuyến khích các thư
viện thoả thuận (chính thức hay không chính thức) phối hợp bổ sung tài liệu một cách hợp lý, trao đổi tài liệu và chia sẽ NLTT giữa các thư viện trong một
hệ t
ng, trong vùng miễn, trong cả nước và trên phạm vi thế giới
Xét về mặt tổ chức, chia sẻ nguồn lực là sự tích hợp khả năng đầu vào của các đơn vị hoạt động trong cùng một lĩnh vực cụ thể nào đó, chẳng hạn như lĩnh vực TTTV
Xét về mặt quản lý, chia sẻ NLTT biểu hiện trong quá trình ra quyết định
dựa trên cơ sở lựa chọn các giải pháp tốt nhất cho mọi hoạt động
Như vậy chia sẻ NLTT liên quan đến hai hoạt động: tổ chức và quản lý Nói một cách cụ thê, chia sẻ nguồn lực là quá trình hợp tác phối hợp giữa các thư viện nhằm huy động một cách tối đa các tiềm năng có thể về thông tin của
các thư viện trong hệ thống Chia sẻ NLTT có nghĩa là sự kết tụ năng lực của
các nhà quản lý TTTV nhằm tạo ra một sức mạnh thông tin mới lớn hơn gấp
nhiều lần các sức mạnh riêng lẻ
Xét về khía cạnh kinh tế, hợp tác chia sẻ NLTT giúp cho thư viện nâng cao tính hiệu quả trong việc xây dựng vốn, bằng cách không bổ sung những
tài liệu có thể có được thông qua hợp tác thư viện để chia sẻ NLTT, tập trung
bổ sung những tài liệu cần thiết nhất, phù hợp nhất cho đối tượng chính sử
dụng Hợp tác thư viện và chia sẻ NLTT luôn gắn chặt với tài chính sẵn có của mỗi thư viện riêng lẻ Không một thư viện nào có đủ nguồn tài chính để
Trang 19mua tất cả các loại tài liệu để cung cấp đủ nhu cầu cho NDT Hợp tác thư viện
và chia sẻ NLTT làm phong phú thêm vốn tài liệu của thư viện
1.1.3 Điều kiện để chia sẻ nguồn lực thông tìn giữa các thư viện
>_ Có sự tương đông trong tính chất nguôn lực thông tin
Chỉ những thư viện có cơ cấu NLTT tương đồng cả về mặt nội dung (giá
trị), cả về mặt hình thức (loại hình) mới có thể tiến hành chia sẻ thông tin được Việc chia sẻ thông tin phải dẫn đến các bên tham gia chia sẻ đều được
hưởng lợi, đều có khả năng đáp ứng NCT tốt hơn Sự tương đồng về nội dung
và giá trị thông tin sẽ không làm giảm đi mà còn làm tăng lên giá trị của
NLTT của mỗi thư viện Hơn nữa tham gia chia sẻ NLTT mỗi thư viện
thể + kiệm đến mức tối đa kinh phí của mình
Tuy nhiên việc chia sẻ chỉ có thể được tiến hành thuận lợi nếu như
NLTT được tổ chức tương đồng về mặt cấu trúc Sự tương đồng trong cấu
trúc của NLTT được thể hiện trong cách thức cách thức tổ chức, quản trị NLTT, các công cụ được sử dụng để quản trị NLTT của mỗi thư viện Khi các thư viện thực hiện xử lý và quản trị thông tin theo các chuẩn nghiệp vụ thống nhất, việc chia sẻ thông tin sẽ diễn ra thuận lợi hơn
>_ Có đủ nhân lực để tiến hành chia sẻ nguôn lực thông tin
Việc chia sẻ NLTT cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và có hệ
thống Bởi vậy không thể chia sẻ tùy hứng, mùa vụ mà cần có sự theo dõi,
điều chỉnh phối hợp nhất định Phải có đủ số lượng cán bộ nhất định dé dé tiến hành chia sẻ thông tin chứ không thể kiêm nhiệm được
Cần coi cán bộ làm công tác chia sẻ thông tin là một công việc chính thống
>_ Có cơ chế thích hợp để tiến hành chia sẻ nguôn lực thông tin
Trang 20Cơ chế chia sẻ nguồn lực phải được các thư viện bàn bạc, nhất trí va thé
chế hóa thành các văn bản có tính chất pháp lý Đây là hành lang pháp lý dé duy trì và phát triển việc chia sẻ NLTT Nếu thiếu cơ chế thích hợp, vấn đề chia sẻ không thể duy trì lâu dài
1.2 Khái quát về Đại học Thái Nguyên và hệ thống thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
1.2.1 Khái quát về Đại học Thái Nguyên
Lịch sử hình thành
Đại học Thái Nguyên là một trường đại học đa ngành được thành lập theo Quyết định số 31/CP ngày 4 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại các Trường đại học thành viên ở Thái Nguyên ĐHTN thuộc phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, toàn bộ diện tích theo quy hoạch đã được phê duyệt của Chính phủ là 300ha Đây là cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực
Đại học Thái Nguyên là một trong 05 Đại học của Việt Nam thực hiện theo mô hình Đại học hai cấp, được giao trọng trách là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn Đồng thời, Đại học thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học, chuyên giao công nghệ góp phần quan trọng trong việc
phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa — xã hội của vùng trung du, miền núi
Trang 21Là đại học trọng điểm quốc gia có vị trí quan trọng ở khu vực phía Bắc,
ĐHTN chủ yếu tập trung phát triển các ngành nghề đào tạo các bậc học từ đại
học trở lên
Bên cạnh đó, ĐHTN không ngừng triển khai và mở rộng quan hệ hợp tác
quốc tế ở các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công,
nghệ Đặc biệt, ĐHTN đang đây mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dao tao sinh viên nước ngoài và trao đổi sinh viên đi học tập ở các nước Hiện nay,
Đại học đang đào tạo gần 200 sinh viên đến từ các quốc gia trên thế giới
Phương hướng chung của ĐHTN từ nay đến năm 2015 là “Tiếp tục phát
huy mọi nguồn lực xây dựng ĐHTN thành đại học trọng điểm; trung tâm đào
tạo, nghiên cứu chất lượng cao của vùng trung du, miền núi phía Bắc, góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa”, tiến tới thực hiện thắng lợi “Đề án quy hoạch phát triển ĐHTN thành đại học trọng điểm; trung tâm đảo tạo, khoa học của vùng đến năm 2020” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
Cơ cấu tổ chức của Đại học Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên là một đại học vùng, đa cấp, đa ngành bao gồm: các đơn vị quản lý, các đơn vị đào tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị phục vụ đào tạo Hiện nay, ĐHTN có tổng số 22 đơn vị thành viên, trong đó:
10 đơn vị đào tạo, bao gồm:
Trường Đại học Sư phạm
Trường Đại học Y ~ Dược
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
Trường Đại học Nông Lâm
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Trường Đại học Khoa học
Trang 22Trường Đại học Công nghệ thông tỉn và truyền thông
Khoa Ngoại ngữ
Khoa Quốc tế
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
05 đơn vị nghiên cứu gồm:
~ _ Bệnh viện thực hành
-_ Viện Khoa học Sự sống
- _ Viện Nghiên cứu Kỹ thuật và Xã hội nhân văn Miền núi
- Trung tam Nghiên cứu và chuyển giao Công nghệ vùng Đông Bắc -_ Viện Nghiên cứu phát triển Công nghệ cao về Kỹ thuật Công nghiệp
07 đơn vị phục vụ đào tạo gồm:
~ Nhà Xuất bản
~ _ Trung tâm Học liệu
-_ Trung tâm Hợp tác Quốc tế
- Trung tâm Giáo dục Quốc phòng
~ _ Trung tâm Đảo tạo từ xã
- Trung tâm Tiền tiến sĩ
-_ Trung tâm Phát triển nguồn lực ngoại ngữ
Các đơn vị này hoạt động dưới sự điều hành thống nhất của Khối văn
phòng ĐHTN mà đứng đầu là Ban Giám đốc
Trang 23Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Đại học Thái Nguyên
_ TỔ CHỨC
CONG DOAN
ĐỘN THANH NIÊN
H CỰU CHIẾN BINH
HỘI SINH VIÊN
1)
Bạn Tổ chức cán bộ
1ý Bạn Cơng tác HSSV
Baas Quản trị Kinh doanh Trường ĐH Khoa học HS) nghệ Thơng tin 8
Truyền thơng Khoa Ngoai Ni
ĨC 9T CĨ Trường CÐ Kinh tế
Kỹ thuật
TT Pera
|HỘi ĐỒNG CHỨC DANH
Pe CN
KHEN THƯỜNG
TY 1 Pre oe
Coens Nhân văn miễn núi
TL NCKH & CG CN
Trung tâm học liệu
Nhà xuất bản
TT Hp tac Quéc té bcc dca)
TT Cơng nghệ thơng tin
Sa Ngoại ngữ ĐHTN
1.2.2 Khái quát về hệ thống thư viện các trường trong Đại học Thái Nguyên
Đặc điểm chung của các trường đại học thành viên và thư viện các trường thuộc Đại học Thái Nguyên
Trang 24Các trường Đại học thuộc ĐHTN có nhiệm vụ Đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ đại học và sau đại học, nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực: khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, nông lâm nghiệp, y dược, kinh tế phục vụ
đắc lực sự nghiệp giáo dục cả nước và phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trung
du, miền núi phía Bắc Việt Nam
Mỗi trường trong Đại học là một đơn vị dự toán và kế toán hành chính
sự nghiệp cấp 3 thuộc ĐHTN, là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, trừ 2 khoa trực thuộc là khoa Ngoại ngữ
và khoa Quốc tế
- Trường Đại học Sư phạm thuộc ĐHTN là một trong những trường có
vị trí quan trọng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục trong hệ thống giáo dục
đại học Việt Nam, tiền thân là trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, được thành lập ngày 18 tháng 7 năm 1966 theo quyết định số 127/CP của Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Năm 1991, Chính phủ quyết định sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Việt Bắc vào Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc Năm 1994, Chính phủ quyết định thành lập ĐHTN, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc trở thành trường thành viên của ĐHTN
- Trường đại học Nông Lâm thuộc ĐHTN: Được thành lập năm 1970 với tên gọi trường Đại học Kỹ thuật miền núi, sau 2 lần đổi tên, đến năm 1994 trường là thành viên của ĐHTN với tên gọi trường Đại học Nông lâm Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã trưởng thành vượt bậc
về mọi mặt, trở thành một trường đại học trọng điểm của Việt Nam về lĩnh
vực nông lâm nghiệp và được nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý
- Trường Đại học Y được ~ ĐHTN: Trường được thành lập năm 1968 với tên gọi là Phân hiệu Đại học Y khoa miền núi Trải qua hơn 40 năm xây dựng
và phát triển với nhiều lần đồi tên, đến năm 1994 Trường trở thành một trong,
Trang 25bốn thành viên đầu tiên của ĐHTN Ngày nay, trường đã thực sự trở thành
một trong những cơ sở đào tạo nhân lực y tế lớn của đất nước, phục vụ cho
sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc khu vực trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam
- Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp tiền thân là trường Đại học Cơ Điện, được thành lập ngày 06 tháng 12 năm 1965 theo quyết định số 164/CP của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Năm 1976 trường được đồi tên là trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Việt Bắc và sau
đó là trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên (năm 1982) Từ năm 1994 đến nay, trường trở thành trường Đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên và đổi tên là trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, trường đã trở thành trung tâm Kỹ thuật đứng thứ 3 ở
Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục đa ngành
- Dai hoc Kinh tế và Quản trị Kinh doanh được thành lập theo Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ vào cuối năm 2004, trên cơ sở sắp xếp và tổ
chức lại các đơn vị đào tạo kinh tế và kinh doanh sẵn có trong ĐHTN Trường
có nhiệm vụ đảo tạo trình độ đại học và trên đại học, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản lý cho
cả nước và nhất là cho các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ
- Dai hoc Khoa học tiền thân là Khoa Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số 1286/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 28/ 03/
2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đến tháng 11/ 2006, để phù hợp với
sự mở rộng của quy mô và ngành đào tạo, Giám đốc ĐHTN đã ký Quyết định
số 803/QĐ-TCCB đổi tên Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội Tháng 12/ 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
Trang 261901/QD — TTg ngay 23/ 12/ 2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên cơ sở nâng cấp khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc ĐHTN
- Đại học Công nghệ thông tin và truyễn thông là đơn vị đào tạo thành viên thuộc ĐHTN được thành lập ngày 14/12/2001 theo Quyết Định số 6946/QĐ-BGD ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sau 10 năm xây dựng và phát triển, ngày 30/3/2011, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập Trường Đại học CNTT&TT trên cơ sở nâng cắp Khoa CNTT thuộc ĐHTN
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật được thành lập năm 2005 theo
Quyết định số 4507/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trên cơ sở phân công lại nhiệm vụ các trường thành viên của ĐHTN Tiền
thân là Trường Công nhân cơ điện Việt Bắc được thành lập năm 1974
- Khoa Ngoại Ngữ thuộc ĐHTN được thành lập theo Quyết định số 976/QĐ-TCCB ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Giám đốc ĐHTN, trên cơ sở
tổ chức lại Khoa Ngoại Ngữ của Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN Khoa Ngoại ngữ - ĐHTN là một đơn vị độc lập, có chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức như các trường đại học thành viên khác trong ĐHTN Khoa Ngoại ngữ - ĐHTN với tương lai là trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHTN
- Khoa Quốc tế được thành lập theo Nghị Quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Thái Nguyên khóa 18 và Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ ĐHTN nhiệm kỳ 2010-
2015 quyết định số 787/QĐ-ĐHTN Sự ra đời của Khoa Quốc tế chính là cụ
thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về việc chủ động hội nhập và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
giáo dục, góp phần nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ caophục
vụ hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế xã hội.Chương trình đào tạo được
xây dựng theo phương thức "Nhập khâu chương trình tiên tiến của Bộ Giáo
Trang 27dục và Đào tạo" từ các trường Đại học hàng đầu trên thế giới Thành lập Khoa Quốc tế là cơ sở để tiến tới thành lập trường Đại học Quốc tế
Đặc điểm chung trong hệ thống thư viện các trường trong ĐHTN
Thư viện các trường thành viên được thành lập cùng với sự ra đời của trường, là bộ phận quan trọng của trường, phát triển cùng với sự trưởng thành của nhà trường
Nhận thức rõ vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư
viện nhằm phát huy tối đa công tác phục vụ NDT, ĐHTN chủ trương phối
hợp 2 bộ phận công nghệ thông tin và thư viện với nhau thành Phòng Công nghệ Thông tin và Thư viện
- _ Bộ phận thư viện có chức năng
+ Tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu về TV của nhà trường, tham mưu cho Ban Giám hiệu về chiến lược phát triển hệ thống TV của nhà trường + Thu thập, tàng trữ và bảo quản GT chuyên ngành, tài liệu tham khảo phù hợp với các chuyênngành đào tạo của nhà trường
+ Thông tin phục vụ công tác đào tạo, NCKH, triển khai ứng dụng tiền
bộ khoa học và công nghệ và quản lý của Nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong Thư viện
- _ Bộ phận thư viện có nhiệm vụ
+ Quản lý, phát triển các nguồn học liệu cho nhà trường,
+ Phục vụ công tác in ấn và mượn trả sách, tài liệu học tập nghiên cứu
+ Tổ chức và quản lý tốt hoạt động thư viện nhằm phục vụ có hiệu quả cho việc khai thác và sử dụng thông tỉn - tư liệu của đội ngũ cán bộ, giảng viên và
sinh viên trong trường
Trang 28+ Phục vụ công tác in ấn GT bài giảng và các ấn phẩm khác
+ Giữ mối quan hệ trao đồi, hợp tác chia sẻ tài nguyên với các cơ quan trong
Đại học, Thư viện các trường Đại học và TTHL của ĐHTN
+ Xây dựng vốn tài liệu đủ lớn về số lượng, chất lượng và phong phú về loại hình Chủ động trong việc đa dạng hoá, phát triển các nguồn tin và kênh thu
thập các tài liệu, các thông tin một cách có hiệu quả, phù hợp với chương trình trường đang nghiên cứu và đảo tạo
+ Nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các tiêu chuẩn
quốc tế xử lý thông tin vào công tác xử lý tài liệu, tạo tiền đề cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin
+ Phát triển và mở rộng các sản phẩm và dịch vụ thông tin, đáp ứng tốt nhất
NCT của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn trường
+ Đây mạnh việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của thư viện, tiến tới tự động hoá các khâu công việc trong hoạt động thư viện
+ Mở rộng quan hệ với các thư viện trong và ngoài nước, các tổ chức liên
quan đến lĩnh vực thư viện nhằm tăng cường sự trao đồi và hợp tác Tham gia
các hội nghề nghiệp, trao đồi nghiệp vụ với hệ thống thư viện trong nước và
quốc tế nhằm bố sung, trao đổi tài liệu, chia sẻ NLTT, khai thác mạng thông, tin từ bên ngoài v.v Mở rộng giao lưu hợp tác về hoạt động đào tạo, tư vấn nghiệp vụ, tiếp nhận viện trợ, hội thảo khoa học về TTTV trong nước và quốc
tế nhằm nâng cao năng lực hoạt động của thư viện
+ Nghiên cứu, đề xuất quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn ứng dụng và phát triển hệ thống TV của trường: tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, các chương, trình quản lý ứng dụng và phát triển thư viện sau khi được phê duyệt
+ Xây dựng và quản lý CSDL các văn bản quan trọng của trường
Trang 29+ Quản lý, bảo dưỡng và vận hành toàn bộ hệ thống TV của trường Xử lý kỹ thuật tài liệu theo yêu cầu của nghiệp vụ TV (Đăng ký tài liệu, Phân loại, Biên mục chỉ tiết tài liệu, Tổ chức kho tài liệu )
+ Tổ chức và quản lý tốt hoạt động của TV, hỗ trợ cho các đơn vị trong trường nhằm khai thác, sử dụng thuận lợi và có hiệu quả các tài liệu do TV quản lý
+ Xây dựng bộ máy tra cứu thông tin để bạn đọc tìm tài liệu được nhanh
chóng, thiết lập mạng lưới truy cập và tìm kiếm thông tin tự động hóa
+ Thông báo kịp thời những tài liệu mới được bổ sung
+ Tổ chức các hình thức tuyên truyền giới thiệu các tài liệu
+ Có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ của của thư viện Chủ động đề xuất với Ban Giám hiệu về công tác nhân sự
+ Thiết lập mối quan hệ với thư viện trong và ngoài Đại học Thái Nguyên để
trao đổi tài liệu, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi quy định của Nhà nước
+ Không ngừng mở rộng, quan hệ trao đổi, hợp tác chia sẻ tải nguyên với các
đối tác trong và ngoài nước Có trách nhiệm phối hợp, hợp tác tốt về nghiệp
vụ với các thư viện trong Đại học, với liên hiệp TV các trường Đại học và TTTT-Tư liệu các Bộ, ngành hữu quan, các Trung tâm học liệu của các trường bạn
+ Được quyền thu nhận những ấn phẩm do trường xuất bản, các luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận đại học, các đề tài NCKH, được bảo vệ tại trường, hoặc do cán bộ, viên chức của trường bảo vệ tại nơi khác (01 bản in
va tap tin).
Trang 30+ Đáp ứng mọi nhu cầu về GT, bài giảng và các ấn phẩm khác phục vụ cho
công tác đào tạo, NCKH và công tác quản lý của trường
+ Quản lý các tài sản được giao, từng bước có kế hoạch nâng cấp, tăng cường
năng lực phục vụ đảo tạo, NCKH và công tác quản lý của trường
+ Có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng khác trong
trường để làm tốt nhiệm vụ được giao
Cơ cấu tổ chức trong thư viện
Thư viện các trường, khoa thuộc ĐHTN thường được chia thành 02 bộ
phận chức năng: Bộ phận xử lý thông tin và Bộ phận dịch vụ thông tin
Nguôn nhân lực của thư viện
Công tác nhân sự đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định khả năng
và chất lượng phục vụ tại mỗi thư viện Theo “Báo cáo tổng kết công tác thông tin — thư viện năm 2013” của ĐHTN, năm 2013 đội ngũ cán bộ làm công tác TTTV trong toàn Đại học có sự tăng lên 5,2% về số lượng (từ 116 người năm 2012 lên 122 người) Tính bình quân một cán bộ TTTV trong toàn đại học phục vụ 1.151 học sinh sinh viên, đây là một tỉ lệ khá cao cho thấy
tình trạng quá tải trong ĐHTN
Nhân lực của thư viện các trường trong ĐHTN chưa đồng đều, phụ thuộc
vào quy mô đào tạo và điều kiện cụ thể của mỗi trường
- Thư viện trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp có 7 cán bộ
- Thư viện trường Đại học Sư phạm có 15 cán bộ
- Thư viện trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh có 12 cán bộ
- Thư viện trường Đại học Nông lâm có 10 cán bộ
- Thư viện trường Đại học Khoa học có 4 cán bộ
Trang 31- Thư viện trường Đại học Y dược có 6 cán bộ
- Thư viện trường Đại học CNTT & truyền thông có 11 cán bộ
- Thư viện trường Cao đăng Kinh tế kỹ thuật có 3 cán bộ
- Thư viện Khoa ngoại ngữ có 3 cán bộ
- Thu viện Khoa quốc tế có 2 cán bộ
~ Trung tâm Học liệu có 49 cán bộ
cho thư viện các trường trong Đại học Theo con số thống kê của báo cáo
tổng kết công tác TTTV trong toàn Đại học Thái Nguyên năm 2013, tổng
kinh phí đầu tư cho việc mua tài liệu trong toàn Đại học là 2.67 tỷ, nguồn tài liệu thường xuyên được cập nhật, hệ thống máy móc được nâng cấp, đổi mới.
Trang 32
Bang 1.1: Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu tr cho thư viện các trường
trong Đại học Thái Nguyên
10 Khoa Quốc tê 37 10,81 7I 61 -
II | Trung tam Hoc ligu | 8.000 - 370 2,850 [1472
Tổng số 16.527 |- 16.519,23 4.325,01 | 732
1.2.3 Đặc điểm nguồn lực thông tin
* Đặc điểm hình thức nguồn lực thông tin
Trong các thư viện, các cơ quan thông tin nói chung và tại các trường đại
học nói riêng hiện nay, nguồn tài liệu rất đa dạng về hình thức và phong pha
về chủng loại, bao gồm cả tài liệu truyền thống (tài liệu in trên giấy) và các
loại tài liệu trên các phương tiện hiện đại (tài liệu điện tử) như: CDROM,
CSDL, tai liệu số hóa NLTT trong hoạt động thư viện chính là cơ sở cho
việc đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT Thông tin là động lực góp phần thúc
Trang 33day các hoạt động kinh tế và sản xuất, đóng vai trò hàng đầu trong giáo dục
và đào tạo, NCKH và là cơ sở để các cấp lãnh đạo, quản lý đưa ra quyết định Nhờ có NLTT mà các thư viện, các cơ quan thông tin thực hiện tốt chức năng
và nhiệm vụ của mình NLTT càng phong phú và đa dạng, càng có khả năng,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng Căn cứ theo loại hình vật mang tin
thì NLTT của thư viện được chia thành 2 nhóm chính là tài liệu truyền thống,
và tài liệu điện tử
Tài liệu truyền thống
Tài liệu giáo trình: Đây là loại tải liệu mang tính đặc thù của các trường đại học Sách GT cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, có hệ thống,
về các môn học theo chương trình đào tạo của trường, giúp sinh viên thiết lập một nền tảng vững chắc ban đầu khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu
Sách tham khảo ngoại văn: Đây là loại tài liệu có giá trị thông tin cao
liên quan đến các chương trình đào tạo của trường được in bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Nhật, Trung quốc
Sách tham khảo tiếng Việt: Đây là loại tài liệu liên quan đến các chương,
trình đào tạo của trường giúp sinh viên mở rộng kiến thức về các lĩnh vực
khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, ngoại ngữ
Tài liệu tra cứu: Đây là loại tài liệu dùng để tra cứu như từ điển, bách khoa toàn thư, số tay, tiêu chuẩn, niên giám thống kê
Báo và Tạp chí: Các tạp chí khoa học kỹ thuật chuyên ngành trong nước
và nước ngoài như: Tạp chí Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Trung tạp chí Tiếng Việt Các loại báo phục vụ mở rộng hiểu biết viề văn hóa, chính trị, kinh tế, xã
hội của đất nước cho cán bộ và sinh viên cũng được trú trọng.
Trang 34Tài liệu nội sinh: Bao gồm luận án, luận văn của các thạc sỹ, tiến sỹ được bảo vệ trong và nước ngoài của các cán bộ và sinh viên trong trường,
các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước Đây là
nguồn tài liệu vô cùng có giá trị bởi những giải pháp hữu hiệu trong nghiên
cứu và chuyền giao công nghệ
Tài liệu điện tử:
Gồm các loại tài liệu như sách, báo điện tử, các trang web, các CSDL được bao gói hay được lưu trữ trên các vật mang tin mà ta có thể tiếp cận chúng thông qua các phương tiện điên tử như máy tính Ngoài ra các phần mềm, các chương trình chạy trên máy tính, các phim ảnh, âm thanh cũng được coi là nguồn tin điện tử Tài liệu điện tử có thể lưu trữ trên đĩa CD-Rom, trên mạng trực tuyến hoặc trên các hệ điều hành, các phần mềm máy tính
Có loại nguồn tài liệu điện tử miễn phí do các cơ quan thuộc chính phủ
hay các cơ quan phi lợi nhuận xuất bản cung cấp, tuy nhiên giá trị của loại thông tin này không cao cần phải kiểm định lại trước khi đưa vào sử dụng
Có loại nguồn tài liệu điện tử phải trả tiền đây là nguồn tài liệu có giá trị cao, chính xác, đáng tin cậy thường thì các cơ quan phải mua bản quyền từ các nhà xuất bản các nhà cung cấp tài liệu điện tử
Có loại tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin tự xây dựng nên bằng cách số hóa, nhập, quét các tài liệu đã được xuất bản trên giấy và làm cho
chúng có thể truyền đi trên mạng hoặc chuyển sang các đĩa CD-Rom hoặc đĩa DVD để lưu giữ và sử dụng
* Đặc điễm nội dung nguôn lực thông tin
Nội dung NLTT tại thư viện các trường thuộc ĐHTN nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập, nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao công nghệ.
Trang 35Các trường đại học thuộc ĐHTN đã và đang bổ sung các tài liệu thuộc các lĩnh vực: Chính trị xã hội, Khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa), Khoa học kỹ thuật (Điện, điện tử viễn thông, CNTT, khoa học vật liệu, Nhiệt lạnh, Môi trường, Cầu, Đường, hầm, Vận tải, Hạt nhân ), các tài liệu về học ngoại ngữ, khoa học thường thức và tài liệu văn học.Chính sách bỗ sung tải liệu phụ thuộc vào chương trình giảng dạy, lĩnh vực nghiên cứu khoa học của mỗi trường, trong đó tài liệu GT, sách tham khảo phục vụ các chuyên ngành học
của trường chiếm hon 80% tổng số vốn tài liệu của thư viện mỗi trường
* Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin
Đối với các trường đại học có thể chia ra thành bốn nhóm NDT, tương đương với bốn đặc điểm sử dụng NLTT tại thư viện
"Nhóm 1 - Cán bộ lãnh đạo và quản lý
Nhóm này bao gồm Ban giám hiệu, Trưởng, Phó các khoa, phòng ban, tổ
bộ môn, các cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể Nhóm này tuy
không nhiều nhưng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Trường
Họ vừa tham gia giảng dạy vừa làm công tác quản lý
Đặc thù của cán bộ quản lý là đưa ra các quyết định, đặt ra mục tiêu,
phương hướng, đường lối phát triển của nhà trường, của khoa, của bộ
môn, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã đề ra Nhóm này cần những tài liệu có tính chất cô đọng, mang tính thời sự, các loại công báo, tổng quan, tin nhanh, tóm tắt, các tin tức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ
mới Họ có xu hướng ưu tiên sử dụng tài liệu đa phương tiện
Nhóm 2 - Giảng viên và cán bộ nghiên cứu
Đây là nhóm người có trình độ trên đại học và có khả năng sử dụng ngoại ngữ cao Họ vừa là chủ thể sáng tạo ra thông tin thông qua các bài
Trang 36giảng, GT, công trình nghiên cứu và các dự án, Đồng thời, vừa là NDT
thường xuyên của Thư viện Nhóm này cần những tài liệu chuyên sâu về lĩnh vực mà họ giảng dạy, nghiên cứu, có thể bằng ngôn ngữ tiếng Việt hoặc tiếng, nước ngoài Họ thường xuyên sử dụng các dịch vụ trực tuyến trên internet
Do thời gian hạn chế họ ít lên thư viện ngồi đọc tài liệu
Nhóm 3 - Nghiên cứu sinh, học viên cao học
Đây là những người đã tốt nghiệp đại học Họ có kỹ năng sử dụng thư viện, biết cách khai thác hiệu quả các sản phẩm và dịch vụ thông tin (SP & DVTT) phục vụ cho công việc nghiên cứu, học tập của mình
Đặc điểm của nhóm đối tượng này là sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào thời gian thực hiện các đề tài, công trình nghiên cứu, bảo vệ tốt
nghiệp, Họ cần những tài liệu chuyên ngành sâu, GT, sách tham khảo, báo,
tạp chí về lĩnh vực nghiên cứu của mình bằng cả tiếng Việt và tiếng nước
ngoài Họ rất cần những tài liệu có thể truy cập được từ xa
Nhóm 4 - Sinh viên
Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy và học, sinh viên không còn học một cách thụ động như trước mà đã có sự tìm tòi, học hỏi, bổ sung thêm kiến thức ở bên ngoài Thư viện được xem như “giảng đường thứ hai”, nơi
cung cấp tri thức của nhân loại thông qua hệ thống các SP & DVTT của mình
Chính vì vậy, sau giờ học, thư viện và phòng thí nghiệm là nơi sinh viên dành
nhiều thời gian cho nghiên cứu và sử dụng
Giáo trình đại cương, GT chuyên ngành, sách tham khảo, báo, tạp chí, là
những tài liệu được sinh viên đọc và mượn thường xuyên trên thư viện
Sinh viên cũng có xu hướng ưu tiên sử dụng tài liệu điện tử do khả năng truy cập nhanh, kịp thời và tính cập nhật cao.
Trang 371.3 Vai trò của chia sẻ nguồn lực thông tin trong hoạt động của thư viện các trường thuộc Đại học Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên là đại học vùng đa ngành, đa lĩnh vực, do đó các
trường thuộc ĐHTN đào tạo gần như đầy đủ các lĩnh vực Trong thời đại
bùng nỗ thông tin và dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
ngày nay, khối lượng tài liệu phản ánh các thành tựu mới về tắt cả các lĩnh vực đang gia tăng nhanh chóng và khối lượng tài liệu ấy cũng là đối tượng bd
sung, phát triển bộ sưu tập của thư viện các trường Tuy nhiên, không có một
cơ quan thông tin — thư viện đại học nào có đủ tiềm lực để đáp ứng mọi yêu cầu của NDT
Việc đổi mới đào tạo đại học học theo tín chỉ, yêu cầu xã hội đối với
nguồn nhân lực ngày càng cao, đòi hỏi sinh viên tốt nghiệp phải có một nền tảng kiến thức khá vững Điều này tất yếu dẫn đến việc sinh viên phải tăng
cường việc tự học, tự nghiên cứu cũng như phải tranh thủ và tận dụng các
nguồn tin có thể có đề làm giàu kiến thức cho mình NCT của NDT trong các
trường cũng ngày một phát triển, đòi hỏi đáp ứng ở mức độ cao hơn
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình tài liệu, sự leo thang
về giá cả, sự eo hẹp về ngân sách đầu tư dẫn đến việc bản thân mỗi cơ quan
thông tin — thư viện đại học không thể tự xoay sở đề có thẻ đảm bảo thông tin
cả về chất lượng và số lượng
Đồng thời chúng ta cũng nhận thấy một xu thế: sự giao thoa giữa các
lĩnh vực khoa học đang ngày càng diễn ra rõ nét và sâu sắc Biên giới giữa các ĩnh vực này đang bị thu hẹp dần Các cơ quan TT - TV đại học thường là các
cơ quan TT - TV khoa học chuyên ngành (theo mục đích đào tạo của các trường đại học), do vậy nguồn tin của mỗi cơ quan đó khó mà thoả mãn được
nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên.
Trang 38Nhưng nguồn tin đó sẽ trở nên rất phong phú và đa dạng nếu chúng được kết hợp với nhau để phục vụ các đối tượng khác nhau Trong thời điểm
hiện tại, sự phối hợp giữa các cơ quan thông tin - thư viện đại học là biện
pháp hữu hiệu để giúp chính họ tăng cường nguồn lực (thông tin, cơ sở vật
chất, nghiệp vụ ) và hoàn thành nhiệm vụ của mình
Nếu không có sự phối kết hợp lẫn nhau, các cơ quan thông tin — thu
viện đại học sẽ dễ bị lạc hậu (do không cập nhật được kịp thời những yêu cầu
mới về chuyên môn cũng như không có sức ép về vấn đề hoàn thiện cơ cấu tổ
chức, hoạt động) Mối quan hệ và gắn bó mật thiết giữa các đơn vị khiến bản
thân mỗi đơn vị phải luôn tự đổi mới đề có thể bắt kịp với sự phát triển chung,
của cả hệ thống Và đó cũng chính là cái đích mà mỗi cơ quan thông tin - thư viện luôn mong muốn đạt tới
Nếu các cơ quan TT - TV Dai hoc Việt Nam liên kết thành một mạng, lưới thì đó sẽ là một lực lượng hùng hậu đáng kể để có thể tham gia vào các mối quan hệ quốc tế Vị thế của cả một hệ thống chắc chắn sẽ lớn hơn rất
nhiều cá thé từng đơn vị tham gia Thực ra thì chính các cơ quan TT - TV đại học ở một số nước cũng thường xây dựng cho riêng mình một hiệp hội dé tiện
cho việc xây dựng các mối quan hệ quốc tế Rõ ràng, để phát triển chính
mình, các cơ quan TT - TV đại học Việt Nam cần phải liên kết và hợp tác trên
tất cả các lĩnh vực hoạt động đặc biệt là việc chia sẻ NLTT
Trang 39Chương 2
KHẢ NĂNG CHIA SẺ NGUÒN LỰC THÔNG TIN GIỮA THƯ VIỆN
CÁC TRƯỜNG TRONG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
2.1 Nhu cầu chia sẽ tài liệu giữa thư viện các trường trong Dai học Thái Nguyên 2.1.1 Đặc điểm chung trong chương trình giảng dạy của các trường trong Đại học Thái Nguyên
* Tÿ lệ các chuyên ngành đào tạo trùng nhau hoặc liên quan đến nhau lớn
Hiện ĐHTN đang đào tạo 128 chuyên ngành bậc đại học, 48 chuyên
ngành Thạc sĩ và 20 chuyên ngành Tiến sĩ Với hơn 2000 môn học của tất cả
các chuyên ngành bậc đại học, các ngành đào tạo của các đơn vị gần gũi và có liên quan mật thiết với nhau, đó là chưa tính đến 10 đơn vị đào tạo đều có thời
gian không hề ngắn trải qua các môn học đại cương tương đối giống nhau
~ _ Trường Đại học Sư phạm: hiện đang đào tạo hơn 20.000 sinh viên Đào tạo 20 chuyên ngành với 152 môn học [Phụ lục 1, tr.99]
- Trường Đại học Nông lâm: hiện đang đào tạo gần 12.000 sinh viên Đào tạo 20 chuyên ngành với 400 môn học [Phụ lục 2, tr.102]
~_ Trường Đại học Y dược: hiện đang đào tạo gần 8.000 sinh viên
Đào tạo 8 chuyên ngành với 115 môn học [Phụ lục 3, tr.109]
- _ Trường Đại học KTCN: hiện đang đảo tạo hơn 15.000 sinh viên
Đào tạo 19 chuyên ngành với 307 môn học [Phụ lục 4, tr.111]
- _ Trường ĐHKT&QTKD: hiện đang đào tạo hơn 9.000 sinh viên
Đào tạo 9 chuyên ngành với 132 môn học [Phụ lục 5, tr.116]
- _ Trường Đại học Khoa học: hiện đang đảo tạo gần 6.000 sinh viên
Trang 40Dao tao 13 chuyên ngành với 356 môn học [Phụ lục 6, tr.1 18]
Trường Đại học CNTT&TT: hiện đang đào tạo gần 7.000 sinh viên
Đào tạo 17 chuyên ngành với 185 môn học [Phụ lục 7, tr.125]
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật: hiện đang đào tạo 5.000 sinh viên
Đào tạo 11 chuyên ngành với 45 môn học [Phụ lục 8, tr.128]
Khoa Ngoại ngữ: hiện đang đào tạo gần 3.000 sinh viên
Đào tạo 6 chuyên ngành với 97 môn học [Phụ lục 9, tr.129]
Khoa quốc tế: hiện đang đào tạo hơn 200 sinh viên
Đào tạo 5 chuyên ngành với 33 môn học [Phụ lục 10, tr.131]
Bảng 2.1: Các ngành học của trường Đại học Sư phạm
5 | SP Sinh hoa 15 | SP Sinh-Kỹ thuật nông nghiệp
6 |SP Giáo dục công dân 16 | SP Giáo dục công nghệ