Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mong, Dao ở tỉnh Yên Bái
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN LONG GIANG
Chuyên đề HORMONE SINH DỤC NỮ
Đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mong, Dao
ở tỉnh Yên Bái
Người hướng dẫn chuyên đề:
TS.BS Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI, 2014
Trang 2MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
1 Cấu trúc vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng 1
1.1 Vùng dưới đồi 1
1.2 Tuyến yên 2
1.3 Buồng trứng 3
2 Hormone trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng 4
2.1 Hormone GnRH của vùng dưới đồi 4
2.1.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của GnRH 4
2.1.2 Tác dụng của GnRH 4
2.1.3 Điều hòa bài tiết GnRH 4
2.2 Hormone kích thích tuyến sinh dục: FSH và LH của tuyến yên 4
2.2.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của FSH và LH 4
2.2.2 Tác dụng lên buồng trứng của FSH và LH 5
2.2.3 Nồng độ FSH và LH 5
2.2.4 Điều hòa bài tiết FSH và LH ở nữ 6
2.3 Hormone estrogen của buồng trứng 6
2.3.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của estrogen [3], [5] 6
2.3.2 Vận chuyển và thoái hóa estrogen 7
2.3.3 Tác dụng của estrogen 8
2.3.4 Điều hòa bài tiết estrogen 10
2.4 Hormone progesteron của buồng trứng 10
2.4.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của progesteron 10
2.4.2 Vận chuyển và chuyển hóa progesterone [5] 11
2.4.3 Tác dụng của progesterone [5], [13], [17] 11
2.4.4 Điều hòa bài tiết progesteron 12
Trang 33 Thay đổi nồng độ hormone trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
trong một số trạng thái sinh lý 12
3.1 Giai đoạn dậy thì 12
3.2 Chu kỳ kinh nguyệt 13
3.3 Mang thai, chuyển dạ và cho con bú 14
3.4 Mãn kinh 16
3.4.1 Sự biến đổi nồng độ estrogen trong máu 16
3.4.2 Một số biến đổi do thiếu estrogen gây ra ở thời kỳ mãn kinh 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Thuật ngữ được viết tắt
6 HMG - CoA Hydroxy – methyl – glutaryl – Coenzym A
i
Trang 5Chuyên đề Tiến sĩ Page 1
Hệ nội tiết tham gia điều hòa chức năng cơ thể thông qua sản phẩm bài tiết của nó là hormone Về mặt bản chất hóa học, hormone được chia làm ba loại
là steroid, peptid, dẫn xuất của axit amin và protein Hầu hết hormone có bản chất protein, peptid và và dẫn xuất của axit amin có receptor nằm ngay trên màng tế bào và tác động theo cơ chế thông qua chất truyền tin thứ hai, trong khi
đó hormone có bản chất là steroid và hormone T3 – T4 lại có receptor nằm ngay trong tế bào và tác động theo cơ chế hoạt hóa hệ thống gen tế bào gây tổng hợp protein [4]
Hormone được điều hòa bài tiết theo nhịp sinh và chịu sự tác động của một số một số chất truyền đạt thần kinh Tuy nhiên cơ chế chính gây bài tiết hormone là cơ chế điều khiển từ tuyến chỉ huy đến tuyến đích và cơ chế điều hòa ngược (feedback) từ tuyến đích đến tuyến chỉ huy Hệ thống điều hòa đó tạo thành các trục nội tiết vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến giáp, vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục [4]
1 Cấu trúc vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
1.1 Vùng dưới đồi
Vùng dưới đồi (hypothalamus)
là một cấu trúc thuộc não trung gian
nằm quanh não thất ba và giữa hệ viền
(limbic) Vùng dưới đồi có đường liên
hệ trực tiếp theo hai hướng [4], [10]:
Hướng đi lên qua nhiều vùng
của não, đặc biệt là vùng đồi thị
(thalamus) và vùng vỏ của hệ viền
Hướng đi xuống qua than não,
Trang 6Chuyên đề Tiến sĩ Page 2
chủ yếu đến cấu trúc lưới của não giữa, cầu não và hành não.Ở vùng dưới đồi, các neuron tập trung thành nhiều nhóm nhân tạo nên ba phần: trước, giữa và sau Những neuron này ngoài chức năng tiếp nhận thông tin phát ra các xung động như các neuron của các cấu trúc thần kinh khác, chúng còn có khả năng tổng hợp và bài tiết hormone Các hormone này đều được vận chuyển đến tuyến yên qua đường mạch máu hoặc thần kinh nhờ những đường liên hệ giải phẫu giữa vùng dưới đồi và tuyến yên [4], [10]
có nguồn gốc phôi thai khác nhau, đó là thùy trước và thùy sau [4]:
Thùy trước liên quan với vùng dưới đồi qua đường mạch máu là hệ thống cửa dưới đồi – yên (hệ cửa Popa – Fielding) Về mô học, thùy trước cấu tạo bởi những tế bào chế tiết, trong đó những tế bào tổng hợp và bài tiết hormone kích thích tuyến sinh dục chiếm 3 – 5%
Trang 7Chuyên đề Tiến sĩ Page 3
Thùy sau liên quan với vùng dưới đồi qua bó sợi thần kinh dưới đồi – yên
Về mô học, thùy sau cấu thạo chủ yếu bởi các tế bào giống tế bào thần kinh đệm (glial like cell) không có khả năng chế tiết hormone
1.3 Buồng trứng
Mỗi phụ nữ có hai buồng trứng Kích thước mỗi buồng trứng khi trưởng thành là 2,5 – 5x2x1cm, nặng 4 – 8g, trọng lượng của chúng thay trong chu kỳ kinh nguyệt Vào tuần thứ 30 của thai nhi, cả hai buồng trứng có khoảng 6 triệu noãn nguyên thủy Sau đó phần lớn chúng bị thoái hoá chỉ còn lại khoảng 2 triệu nang và lúc mới sinh và đến tuổi dậy thì còn lại khoảng 300.000 đến 400.000 nang Trong suốt thời kỳ sinh sản của phụ nữ (khoảng 30 năm) chỉ có khoảng
400 nang phát triển tới chin và xuất noãn hàng tháng Số còn lại bị thoái hóa [5]
Trang 8Chuyên đề Tiến sĩ Page 4
2 Hormone trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
2.1 Hormone GnRH của vùng dưới đồi
2.1.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của GnRH
GnRH là một peptid có 10 acid amin được bài tiết theo nhịp từ các tận cùng thần kinh vùng lồi giữa, than của những neuron này khu trú ở nhân (arcuate nuclei) của vùng dưới đồi Nhịp bài tiết là 1 – 3 giờ một lần, mỗi lần kéo dài trong vài phút [4]
2.1.3 Điều hòa bài tiết GnRH
Điều hòa theo cơ thế feedback vòng dài do hormone sinh dục nữ điều khiển, vòng ngắn do hormone FSH, LH điều khiển và vòng cực ngắn do chính hormone GnRH điều khiển [4]
2.2 Hormone kích thích tuyến sinh dục: FSH và LH của tuyến yên
2.2.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của FSH và LH
FSH và LH được bài tiết từ thùy trước tuyến yên Cả FSH và LH đều là glycoprotein Lượng cacbohydrat gắn với protein trong phân tử FSH và LH thay đổi trong những điều kiện khác nhau và khi đó hoạt tính của chúng cũng thay đổi Chuỗi FSH có 236 acid amin, trọng lượng phân tử là 32.000 dalton, còn LH
có 215 acid amin, trọng lượng phân tử là 30.000 dalton [4], [13]
Trang 9Chuyên đề Tiến sĩ Page 5
2.2.2 Tác dụng lên buồng trứng của FSH
và LH
FSH: kích thích các noãn nang phát
triển, đặc biệt là kích thích tăng sinh lớp tế
bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ (lớp áo)
của nang trứng [4], [13]
LH: phối hợp với FSH làm phát
triển noãn nang tới chín và gây hiện tượng
phóng noãn; kích thích những tế bào hạt
và lớp vỏ còn lại phát triển thành hoàng
thể; kích thích lớp tế bào hạt của noãn
nang và hoàng thể bài tiết estrogen và
progesteron [4], [13]
2.2.3 Nồng độ FSH và LH
Hai hormone FSH và LH chỉ bắt đầu được bài tiết từ tuyến yên của trẻ em
ở lứa tuổi 9 – 10 tuổi Lượng bài tiết hai hormone này tăng dần và có mức cao nhất ở tuổi dậy thì [4] Bình thường, nồng độ FSH và LH ở nữ dao động trong chu kỳ kinh nguyệt còn ở nam giới thì không thấy hiện tượng này [4] Nồng độ hai hormone này ở người Việt Nam được trình bày ở bảng 1 [2]
Bảng 1 Nồng độ FSH và LH ở phụ nữ Việt Nam
Giai đoạn đầu của chu kỳ kinh nguyệt 3,94 – 7,66 1,45 – 2,33
Giai đoạn hai của chu kỳ kinh nguyệt 2,44 – 4,09 0,43 – 0,84
Trang 10Chuyên đề Tiến sĩ Page 6
2.2.4 Điều hòa bài tiết FSH và LH ở nữ
Tác dụng feedback âm ở estrogen và progesteron: cả estrogen và progesteron đều gây ức chế bài tiết FSH và LH, tuy nhiên khi có mặt progesteron thì tác dụng ức chế của estrogen được nhân lên nhiều lần Estrogen
và progesteron điều hòa bài tiết FSH và LH bằng cách tác dụng trực tiếp lên tuyến yên còn tác dụng lên vùng dưới đồi thì yếu và chủ yếu để làm thay đổi nhịp bài tiết GnRH [4]
Tác dụng feedback dương tính của estrogen vào thời điểm 24 – 28 giờ trước khi phóng noãn nồng độ estrogen trong máu rất cao đã kích thích tuyến yên bài tiết FSH và đặc biệt là LH, dẫn tới nồng độ của hai hormone này tăng cao trong máu, nhất là LH [4]
Tác dụng ức chế của inhibin: inhibin do tế bào hạt của hoàng thể tiết có tác dụng ức chế bài tiết FSH Tác dụng này thể hiện vào cuối chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng để làm giảm FSH và LH ở thời điểm này [4]
2.3 Hormone estrogen của buồng trứng
2.3.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học của estrogen [3], [5]
Estrogen có nguồn gốc chủ yếu từ buồng trứng, do các tế bào hạt lớp áo trong noãn nang bài tiết vào nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt và nửa sau do hoàng thể bài tiết Một lượng rất nhỏ có nguồn gốc vỏ thượng thận Khi có thai, rau thai bài tiết một lượng lớn estrogen Ngoài ra, estrogen còn được cung cấp từ quá trình thơm hóa ở ngoại vi như tại mô mỡ, đó là sự chuyển đổi androgen thành estrogen
Có ba loại estrogen tự nhiên chính trong huyết tương là β – estradiol, estron và estriol trong đó chủ yếu là β – estradiol Tác dụng của β – estradiol mạnh gấp 12 lần estron và gấp 80 lần estriol Buồng trứng bài tiết chủ yếu β – estradiol và một lượng nhỏ estron Hầu hết estron được hình thành ở mô đích từ
Trang 11Chuyên đề Tiến sĩ Page 7
nguồn androgen do vỏ thượng thận và lớp áo trong nang trứng bài tiết Estriol là sản phẩm oxi hóa của cả β – estradiol và estron, quá trình này xảy ra tại gan
Estrogen là các hợp chất steroid được tổng hợp ở buồng trứng từ cholesterol và cũng có thể từ acetyl – coenzyme A
2.3.2 Vận chuyển và thoái hóa estrogen
Trong máu estrogen gắn lỏng lẻo vào albumin huyết tương và globulin đặc hiệu cho estrogen Máu sẽ vận chuyển và giải phóng estrogen cho mô đích trong khoảng thời gian 30 phút
Tại gan, estrogen sẽ kết hợp với glucuronid và sulfat thành những hợp chất bài tiết 1/5theo đường mật và 4/5theo đường nước tiểu ra ngoài Gan cũng
có tác dụng chuyển hóa dạng estrogen mạnh là β – estradiol và estron thành dạng estriol yếu Do vậy, nếu chức năng gan yếu, hoạt tính estrogen sẽ tăng và đôi khi
có thể gây ra cường estrogen [5]
Trang 12Chuyên đề Tiến sĩ Page 8
2.3.3 Tác dụng của estrogen
Receptor của estrogen nằm
trong bào tương tế bào [4] Có hai
loại receptor là α và β [14] Khi
estrogen đến tuyến đích, nó sẽ đi qua
màng tế bào vào gắn lên receptor
Phức hợp hormone – receptor sẽ tác
động lên gen làm hoạt hóa quá trình
sinh tổng hợp protein của tế bào [4]
Tuy nhiên, estrogen cũng có những
tác động rất nhanh gọi là những ảnh
hưởng không qua gen, không phụ
thuộc và receptor như tác dụng chống
oxi hóa giúp bảo vệ cơ thể chống lại
sự thoái hóa thần kinh và xơ vữa động mạch [14]
Làm tăng kích thước tử cung ở tuổi dậy thì và khi có thai;
Kích thích sự phân chia lớp nền là lớp tái tạo ra lớp chức năng trong nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt;
Tăng tạo các mạch máu mới ở lớp chức năng và làm cho các mạch máu này trở thành các động mạch xoắn cung cấp máu cho lớp niêm mạc chức năng Tăng lưu lượng máu đến lớp niêm mạc chức năng;
Trang 13Chuyên đề Tiến sĩ Page 9
Kích thích sự phát triển các tuyến niêm mạc, tăng tạo glycogen chứa trong tuyến nhưng không bài tiết;
Tăng khối lượng tử cung do tăng hàm lượng actin và myosin trong cơ, đặc biệt vào thời kỳ có thai;
Tăng co bóp tử cung, tăng tính nhạy cảm của cơ tử cung với oxytocin
Tác dụng lên cổ tử cung: làm các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử cung
bài tiết ra một lớp dịch nhày, loãng và mỏng Dịch này có thể kéo thành sợi dài khi được đặt vào lam kính, sau đó có hiện tượng tinh thể hóa và cho hình ảnh cây dương xỉ khi soi lam kính dưới kính hiển vi
Tác dụng lên vòi trứng: làm tăng sinh mô tuyến của niêm mạc ống dẫn
trứng, các tế bào biểu mô long rung, làm tăng hoạt động của các tế bào biểu mô long rung theo một chiều, hướng về phía tử cung Các tác dụng này nhằm giúp trứng đã thụ tinh di chuyển dễ dàng vào tử cung
Tác dụng lên âm đạo: làm thay đổi biểu mô âm đạo từ dạng khối thành
dạng tầng giúp tăng khả năng chống đỡ với các chấn thương và nhiễm khuẩn, kích thích các tuyến âm đạo bài tiết dịch pH acid
Tác dụng lên tuyến vú: làm phát triển hệ thống ống tuyến, mô đệm, tăng
lắng đọng mỡ ở vú
Tác dụng lên chuyển hóa: làm tăng nhẹ tốc độ chuyển hóa; tăng tổng hợp
protein ở các mô đích như tử cung, tuyến vú, xương; tăng nhẹ quá trình sinh tổng hợp protein của toàn cơ thể; tăng lắng đọng mỡ dưới da, đặc biệt ở ngực, mông, đùi để tạo dáng nữ; làm tăng nhẹ giữ Na+
và nước
Tác dụng lên xương: tăng hoạt động của các tế bào tạo xương (osteoblast),
kích thích gắn đầu xương vào than xương, tăng lắng đọng muối calci – phosphate ở xương, làm nở rộng xương chậu; ức chế tác dụng của parathyroid hormone trên hủy cốt bào (osteoclast)
Trang 14Chuyên đề Tiến sĩ Page 10
Tác dụng lên mạch máu: estrogen làm giảm nồng độ cholesterol trong
huyết tương và gây giãn mạch do kích thích sản xuất NO Những tác dụng này
ức chế hình thành mảng xơ vữa do đó làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
ở phụ nữ trước mãn kinh Tuy nhiên nếu sử dụng estrogen theo đường uống với liều cao có thể gây huyết khối
Ngoài ra, estrogen còn có những ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương như vấn đề học tập, trí nhớ, khả năng nhận thức, kỹ năng vận động chính xác, điều hòa than nhiệt, xúc cảm, điều hòa bài tiết các hormone hướng sinh dục và
cả hormone GH, prolactin [14] và người ta còn cho rằng estrogen làm chậm sự tiến triển của bênh Alzheimer [17]
2.3.4 Điều hòa bài tiết estrogen
Nồng độ estradiol trong huyết thanh của phụ nữ bình thường ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt là 158,74 – 268,73 pmol/L, ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt là 236,14 – 325,69 pmol/L và vào giữa chu kỳ kinh nguyệt (ngày thứ 15,09 ± 2,93) nồng độ estradiol đạt giá trị cao nhất là 725,18 – 925,28 pmol/L [2]
Estrogen được bài tiết nhiều hay ít tùy thuộc vào nồng độ LH của tuyến yên Nồng độ LH tăng sẽ kích thích các tế bào của lớp áo trong nang trứng bài tiết estrogen Ngược lại, nồng độ LH giảm thì estrogen cũng được bài tiết ít đi [5], [13]
2.4 Hormone progesteron của buồng
trứng
2.4.1 Nguồn gốc và bản chất hóa học
của progesteron
Progesteron được bài tiết chủ yếu
từ hoàng thể trong nửa sau của chu kỳ
kinh nguyệt Nang trứng ở nửa đầu chu
Trang 15Chuyên đề Tiến sĩ Page 11
kỳ kinh nguyệt và tuyến vỏ thượng thận bài tiết rất ít progesteron Khi có thai, rau thai sản xuất một lượng lớn progesteron [5], [13], [17]
Cũng như estrogen, progesteron cũng là hợp chất steroid được tổng hợp từ cholesteron hoặc từ acetyl - coenzyme A [5], [13], [17]
2.4.2 Vận chuyển và chuyển hóa progesterone [5]
Progesteron được vận chuyển trong máu dưới dạng gắn với albumin huyết tương và các globulin đặc hiệu với progesteron
Vài phút sau khi được bài tiết, hầu như tất cả progesteron được thoái hóa thành các steroid khác không có tác dụng của progesteron Gan là một cơ quan đặc biệt quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa này
Progesteron được bài xuất theo nước tiểu chủ yếu dưới dạng pregnanediol, còn lại khoảng 10% bài tiết nguyên dạng Do vậy, người ta có thể đánh giá mức
độ tạo thành progesteron trong cơ thể thông qua mức bài xuất pregnanediol qua đường nước tiểu
2.4.3 Tác dụng của progesterone [5], [13], [17]
Tác dụng lên tử cung: kích thích các tuyến của niêm mạc tử cung dài ra, cuộn lại cong queo và bài tiết glycogen vào nửa sau chu kỳ kinh nguyệt , đồng thời làm giảm co bóp tử cung Các tác dụng này có ý nghĩa quan trọng là chuẩn
bị niêm mạc tử cung ở trạng thái sẵn sang đón nhận trứng đã thụ tinh vào làm tổ
và tạo môi trường yên ổn cho bào thai phát triển
Tác dụng lên cổ tử cung: làm các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử cung bài tiết một lớp dịch nhày, quánh và dày Tính chất quánh đặc của dịch cổ tử cung cùng với sự vắng mặt của hình ảnh cây dương xỉ là những bằng chứng cho biết hiện tượng phóng noãn và giai đoạn hoàng thể đã xảy ra