1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO CASE STUDY QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ NGHI LỪA ĐẢO” 100 CONTAINER HẠT ĐIỀU VÀ BÀI HỌC CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM

16 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo case study Quan hệ kinh tế quốc tế Nghi Lừa Đảo 100 Container Hạt Điều Và Bài Học Cho Các Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Việt Nam
Tác giả Nhóm 15
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 129,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC CHỦ ĐỀ: VỤ “NGHI LỪA ĐẢO” 100 CONTAINER HẠT ĐIỀU VÀ BÀI HỌC CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM 1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC TỪNG THÀNH VIÊN 3 TÓM TẮT 4 CASE STUDY 4 CÂU HỎI THẢO LUẬN 5 Câu 1: Kẻ gian đã lợi dụng khâu nào trong quá trình xuất khẩu? 5 Câu 2: Những nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp rơi vào bẫy lừa đảo như trên là gì? 8 Câu 3: Các đơn vị liên quan đã làm gì để khắc phục hậu quả của vụ việc trên? 10 Câu 4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho doanh nghiệp Việt Nam 13 KẾT LUẬN 14 NGUỒN THAM KHẢO 16     TÓM TẮT Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa phát triển ngày càng sâu rộng như hiện nay, các giao dịch thương mại quốc tế diễn ra ngày càng nhiều, kéo theo đó sự xuất hiện của những tổ chức, cá nhân không minh bạch, gây ra những vụ lừa đảo gây tổn thất lên đến hàng tỷ đồng, điển hình nhất là vụ “nghi lừa đảo” lớn nhất trong lịch sử ngành điều Việt Nam giữa 5 doanh nghiệp xuất khẩu điều Việt Nam và khách hàng tại Italia. Nhận thức được vấn đề trên, nhóm quyết định kể câu chuyện về “Vụ nghi lừa đảo 100 container hạt điều” để tìm hiểu sâu xa hơn về vụ việc và những cách khắc phục hậu quả từ nó. Đồng thời thông qua case study này, bằng các nghiên cứu đi trước và những tải liệu thứ cấp mà nhóm 15 tham khảo được trên các nên tảng thông tin trực tuyến, nhóm hy vọng có thể chỉ ra nguyên nhân sâu xa của vụ việc này và đưa ra được bài học chung nhất cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Từ khóa: 100 container hạt điều, nguyên nhân, thanh toán quốc tế. CASE STUDY Đầu năm 2022, 5 doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều tại Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu 100 container hạt điều sang Italia với giá trị khoảng 200.000 USDcontainer (tổng giá trị 20 triệu USD – khoảng 1000 tỷ VNĐ) thông qua môi giới của Công ty TNHH MTV Kim Hạnh Việt qua phương thức thanh toán DP. Để thực hiện giao dịch, công ty Kim Hạnh Việt đã ủy quyền cho một ngân hàng ở Việt Nam, đại diện bên bán làm thủ tục thu hộ, gửi bộ chứng từ gốc sang ngân hàng đại diện bên mua tại Italia thông qua công ty chuyển phát nhanh quốc tế DHL. Tuy nhiên khi đến nơi, bên trong kiện hàng toàn bộ là bản chứng từ photo – không có giá trị pháp lý khi giao dịch thay vì bản gốc. Trước các dấu hiệu trên, một số doanh nghiệp đã đề nghị ngân hàng ngay lập tức ngăn chặn thu hồi chứng từ để dừng vận chuyển container. Tổng cộng trong số 100 container ký xuất, doanh nghiệp và ngân hàng mất kiểm soát 36 chiếc tương đương hơn 160 tỷ đồng. Rất nhanh sau đó, nhiều cơ quan chính phủ như Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp, … đã vào cuộc và xây dựng các phương án bảo vệ doanh nghiệp. Đặc biệt trong số đó, Bộ Công an đã làm việc với Interpol – Cảnh sát điều tra quốc tế để nhận được sự hỗ trợ. Tính đến thời điểm ngày 173, cảnh sát tại phía Italy đã ra lệnh tạm dừng không giao 16 container hạt điều của Việt Nam, còn 20 chiếc mất kiểm soát bộ chứng từ (khoảng 86 tỷ đồng). Theo một vài thông tin hiện nay, có người tự nhận là bên mua sở hữu trong tay bộ chứng từ gốc và thuê luật sư đồng thời liên hệ với tòa án tại Italy để đòi trả hàng. Trải qua nỗ lực không ngừng nghỉ của các bên liên quan, đến ngày 305, toàn bộ 36 container hạt điều bị mất chứng từ đã được giải phóng, dẫn đến một kết thúc có hậu cho vụ việc. Các doanh nghiệp Việt Nam đã thoát khỏi rủi ro lớn nhất là mất toàn bộ hàng trong một khoảng thời gian ngắn, giảm thiểu được tối đa những thiệt hại về mặt kinh tế. CÂU HỎI THẢO LUẬN Câu 1: Kẻ gian đã lợi dụng khâu nào trong quá trình xuất khẩu? Một số phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay là: 1. Thứ nhất, điện chuyển tiền (TT Telegraphic Transfer): Ngân hàng sẽ chuyển một số tiền cho bên xuất khẩu bằng phương tiện chuyển tiền điện Swifttelex dựa trên chỉ định của bên nhập khẩu. 2. Thứ hai, nhờ thu (DP Documents against payment): Giao tiền thì giao chứng từ, tức là nhà xuất khẩu chỉ định ngân hàng xuất trình chỉ giao các chứng từ cho nhà nhập khẩu nếu nhà nhập khẩu thanh toán đầy đủ hóa đơn hoặc hối phiếu kèm theo. 3. Thứ ba, thư tín dụng (LC Letter of Credit). Nói dễ hiểu, LC là thư cam kết của ngân hàng về việc trả tiền người bán. Khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ do người bán gửi đến và kiểm tra bộ chứng từ đó phù hợp với quy định trong LC thì ngân hàng sẽ trả tiền. Trong vụ việc trên, các doanh nghiệp xuất khẩu đã lựa chọn phương thức thanh toán DP tức trả tiền – giao chứng từ (gần giống với phương thức giao hàng COD nội địa). ● Quy trình thanh toán DP cụ thể lỗ hổng trong khâu thanh toán: Theo nguyên tắc mà 5 doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều Việt Nam áp dụng ở thương vụ này, chỉ khi giao tiền ngay cho ngân hàng phía nhập khẩu (để chuyển giao cho các ngân hàng Việt Nam chi trả cho nhà xuất khẩu), khách hàng mới được giao chứng từ gốc để đi nhận hàng từ hãng vận chuyển. Tuy vậy, các ngân hàng Việt Nam chưa hề nhận được tiền chuyển. Còn ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ thì thông báo rằng, người mua không phải khách hàng của họ và đã trả lại bộ chứng từ, nhưng không ghi rõ trả theo hình thức nào, không cung cấp số vận đơn cho ngân hàng Việt Nam. Trong khi đó, ngân hàng tại Italia thì thông báo cho ngân hàng Việt Nam rằng, họ đã nhận được bộ chứng từ, nhưng là các bản sao, không phải bản gốc. Như vậy, bộ chứng từ gốc đã lọt vào tay kẻ lạ. Vinacas (Hiệp hội Điều Việt Nam) cho rằng, tổ chức lừa đảo này hết sức tinh vi, hiểu rất rõ các doanh nghiệp điều ở Việt Nam và đã nghiên cứu kỹ đường đi, nước bước giao nhận vận chuyển hàng hóa, chứng từ. Dấu hiệu thể hiện điều này: Đầu tiên, mức giá hợp đồng không quá cao, nhưng thời điểm giao hàng là từ tháng 22022, tức là thời điểm sau Tết Nguyên đán ở nước ta, giao dịch rất hạn chế. Như vậy, người mua đã đánh đúng tâm lý muốn bán được hàng trong lúc này. Tiếp đến, kẻ lừa đảo rải ra mua hàng của nhiều doanh nghiệp và nhiều đợt, chứ không tập trung vào một đơn vị, một khối lượng nhất định. Kẻ lừa đảo còn chuẩn bị rất kỹ về thông tin, bởi khi tra cứu về người mua và cả hệ thống ngân hàng tại Italia, thì đều có thông tin chính xác trên các website. Bên cạnh đó, địa điểm giao hàng đều là các cảng nằm xa trung tâm… Mấu chốt vụ án là con đường đi tới tay kẻ lạ của bộ chứng từ gốc hồ sơ quyết định “sống còn” trong thanh toán DP. Ở vụ việc này, đường đi của bộ chứng từ gốc bắt đầu từ doanh nghiệp, chuyển tới các ngân hàng Việt Nam, rồi ngân hàng chuyển cho hãng vận chuyển DHL để giao tới các ngân hàng bên Italia do nhà nhập khẩu cung cấp. Có hàng loạt nghi vấn đã được đặt ra. Nghi vấn đầu tiên, doanh nghiệp Việt Nam cố tình gửi chứng từ photocopy để mưu toan khác. Nhưng nghi vấn này rất thiếu cơ sở, bởi tiền chưa nhận, nhưng hàng hóa trị giá hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp đã lên đường trước, nếu lừa gạt, thì doanh nghiệp Việt không chỉ không nhận được tiền hàng, mà còn vô cùng tốn kém chi phí cho ngân hàng ủy thác, cho hãng vận chuyển và những rủi ro cho hàng hóa trên biển, trong khi việc khiếu kiện quốc tế ngày càng khó khăn. Nghi vấn khác thì cho rằng, chứng từ gốc bị đánh tráo ở khâu vận chuyển từ các ngân hàng Việt Nam tới hãng vận chuyển DHL, hoặc từ hãng này tới các ngân hàng bên Italia. DHL là hãng vận chuyển hàng hóa và cung cấp các giải pháp về logistics quốc tế uy tín, lâu năm, nên cũng không dễ gì để cá nhân trong hệ thống đại lý liên kết với tội phạm quốc tế. Một số doanh nghiệp đặt nghi ngờ, Công ty Kim Hạnh Việt (đơn vị môi giới) chủ trì phi vụ này, nhưng Kim Hạnh Việt lại không phải đơn vị vận chuyển giao nhận chứng từ gốc. Để lấy được bộ chứng từ này giao cho phía kẻ lừa đảo để lấy hàng, thì Công ty Kim Hạnh Việt phải xây dựng được “dây chuyền” không chỉ ở Italia, mà cả trong hệ thống vận chuyển. Nói tóm lại, mặc dù có rất nhiều giả thuyết khác nhau đã được đưa ra nhưng đều hướng đến một kết luận rằng “kẻ gian” đã khai thác lỗ hổng tại khâu thanh toán để tiến hành hành vi “lừa đảo” của mình. Bởi lẽ, với hình thức DP, họ chỉ cần nắm trong tay bộ chứng từ gốc là có thể lấy hàng, bất kể đã thanh toán hay chưa. ● Như vậy, vì sao doanh nghiệp lại chọn phương thức thanh toán DP mà không phải LC hay TT trong khi DP tồn tại rủi ro như vậy? Theo các chuyên gia, phương thức thanh toán nào cũng có rủi ro. Điều quan trọng là phải biết cách chọn mặt gửi vàng và không bị lóa mắt bởi lời hứa hấp dẫn. Cụ thể, với phương thức DP này, khả năng rủi ro của người bán sẽ thấp hơn vì nếu người mua không trả tiền thì sẽ không thể lấy được hàng. Trong trường hợp đó, người bán không mất hàng, nhưng sẽ mất chi phí để đưa hàng quay trở về hoặc tìm khách hàng khác để bán lại lô hàng đó. Hình thức thanh toán DP phổ biến nhất hiện nay là đặt cọc trước, ví dụ 10% trị giá hợp đồng hoặc trị giá lô hàng. Khi hàng quá cảnh mà khách hàng không đi nhận bộ chứng từ và không nhận hàng thì bị mất cọc, nhưng cách này cũng có rủi ro có thể người mua họ không nhận hàng do giá cả thị trường giảm hơn 10%. DP có lợi thế là thủ tục đơn giản và quan trọng là không mất phí nên hiện nay có đến 80% 90% doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều chọn DP. Giải thích chi tiết hơn, hàng nông sản giá trị thấp, mỗi lô hàng có trị giá vài trăm nghìn USD. Người mua thì không mua nhiều một lúc, mà họ mua gối đầu, từng lô nhỏ. Trong trường hợp lô hàng nào cũng mở LC thì mỗi tháng doanh nghiệp có thể phải mở đến vài chục LC. Trong khi, mở LC thì phải ký quỹ ngân hàng theo một tỷ lệ nào đó. Như vậy, người mua sẽ bị đọng vốn ở ngân hàng trong suốt thời gian chờ nhận hàng lên đến cả tháng trời. Và không người mua nào muốn như thế cả. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu khăng khăng đòi LC thì người mua sẽ đi tìm người đối tác khác. Bản chất DP hay LC đều nhờ thu qua ngân hàng. Trong trường hợp đối tác đã muốn lừa đảo thì có thể diễn ra với bất kỳ hình thức thanh toán nào. Câu 2: Những nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp rơi vào bẫy lừa đảo như trên là gì? Mặc dù phương thức thanh toán DP tồn tại rất nhiều rủi ro và trên thực tế, tổ chức tại Italia cũng đã khai thác khâu thanh toán này để thực hiện hành vi “lừa đảo” của mình, nhưng như đã giải thích ở trên và cũng theo nhiều chuyên gia, đây lại không được coi là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp xuất khẩu điều lâm vào tình cảnh trên. Cụ thể, theo ông Ngô Khắc Lễ (thuộc VIAC Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam), DP là điều kiện thanh toán rất phổ biến trên thế giới, được áp dụng bởi cả các doanh nghiệp đến từ các thị trường lớn như Châu Âu hay Mỹ. “Không thể nói vì phương thức DP mà dẫn đến rủi ro” ông nhấn mạnh. Như vậy, nguyên nhân chính dẫn đến vụ việc có thể được chia thành 2 nhóm như sau: a. Nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tin tưởng môi giới và bị động, phụ thuộc vào môi giới trong quá trình giao dịch, biết quá ít thông tin về bên mua. Quá trình liên lạcgiao dịch trong vụ việc có thể được tóm tắt qua sơ đồ như sau: Bên bán (đặt vấn đề) → Môi giới (tìm kiếm đối tác) → Bên mua ● Giữa môi giới và bên bán: Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất khẩu điều của Việt Nam đã từng làm việc thành công với công ty môi giới Kim Hạnh Việt nhiều lần trước đó. Vậy nên các doanh nghiệp này hoàn toàn tin tưởng vào Kim Hạnh Việt, đều ký hợp đồng mua bán qua môi giới mà không tìm hiểu, liên hệ trực tiếp hay gặp mặt trực tiếp với bên mua. “Mấu chốt của sự việc không phải do doanh nghiệp Việt Nam yếu kém về nghiệp vụ, đó là doanh nghiệp Việt Nam quá thật thà, tin người môi giới” và “Không tự mình xác minh đối tác trước khi ký kết hợp đồng.” ông Nguyễn Đức Thanh, Tham tán thương mại Việt Nam tại Italia cho biết. Thay vì chủ động kiểm tra thông tin, chỉ đến khi rủi ro đã xảy ra, các doanh nghiệp này mới tìm đến sự hỗ trợ của thương vụ tại nước sở tại. ● Giữa môi giới và bên mua: Theo giải trình của đại diện Công ty Kim Hạnh Việt (đơn vị môi giới) cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu 100 container hạt điều đi Italia thì có 36 container bị mất bộ chứng từ gốc có khả năng bị lừa đảo. Đặc biệt, trong quá trình làm việc với Thương vụ, đại diện Công ty Kim Hạnh Việt cũng khẳng định “không biết công ty mua hàng mà chỉ làm việc qua một người môi giới khác tại Italia”. Nói cách khác, bản thân công ty môi giới Kim Hạnh Việt cũng không thật sự hiểu rõ bên mua hàng là ai, không có thông tin về người mua mà làm việc thông qua tầng trung gian khác. Độ uy tín, minh bạch của bên mua chưa được công ty này kiểm chứng và xác nhận rõ ràng. Sau khi môi giới xong thì công ty Kim Hạnh Việt đẩy hết quy trình cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp cũng không hiểu về bên mua và bị động trong việc kiểm soát tình hình. Tóm lại, việc bị động, phụ thuộc vào bên trung gian môi giới trong quy trình làm việc với bên mua cũng như năng lực phòng tránh rủi ro còn hạn chế là những nguyên nhân chủ quan chính khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam rơi vào bẫy lừa đảo. b. Nguyên nhân khách quan: Hệ thống thanh toán quốc tế (1) còn tồn tại lỗ hổng trong thanh toán và (2) chưa có cơ chế bảo vệ lợi ích khách hàng (là các doanh nghiệp) khi xảy ra sự cố. ● Chưa có hệ thống ngân hàng chung, còn tồn tại lỗ hổng trong thanh toán: Hiện tại vẫn chưa có hệ thống ngân hàng nào phủ sóng trên toàn thế giới, phần lớn các giao dịch quốc tế hiện tại phải thông qua hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT. Với hệ thống này, tiền từ tài khoản này sẽ phải đi qua rất nhiều ngân hàng trung gian trên nhiều quốc gia khác nhau trước khi đến được đích tại tài khoản khác, đặc biệt là các giao dịch có sử dụng ngoại tệ, vô hình chung khiến khả năng xảy ra rủi ro lớn hơn rất nhiều so với chuyển thẳng trực tiếp trong cùng một hệ thống ngân hàng. Cụ thể trong trường hợp này, trong quá trình gửi hồ sơ thu hộ từ ngân hàng Việt Nam tới ngân hàng được bên mua chỉ định tại Ý đã nhiều lần có sự thay đổi về số SWIFT (mã số định danh ngân hàng mã riêng của từng ngân hàng được sử dụng trong các giao dịch liên ngân hàng trên toàn cầu), khiến điểm đích đến của bộ chứng từ bị thay đổi, chuyển sang một ngân hàng khác tại Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi ngân hàng này nhận được bộ chứng từ thì thông báo người mua không phải khách hàng của họ và đã trả lại bộ chứng từ, nhưng không ghi rõ trả theo hình thức nào cũng như không cung cấp số vận đơn cho ngân hàng Việt Nam cho dù ngân hàng Việt Nam đã liên hệ rất nhiều lần

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -BÁO CÁO CASE STUDY Học phần: Quan hệ kinh tế quốc tế

Lớp tín chỉ: KTE306.3 CHỦ ĐỀ: VỤ “NGHI LỪA ĐẢO” 100 CONTAINER HẠT ĐIỀU VÀ BÀI HỌC

CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM

Nhóm thực hiện: Nhóm 15

Trang 2

MỤC LỤC CHỦ ĐỀ: VỤ “NGHI LỪA ĐẢO” 100 CONTAINER HẠT ĐIỀU VÀ BÀI HỌC CHO

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC TỪNG THÀNH VIÊN 3

Câu 1: Kẻ gian đã lợi dụng khâu nào trong quá trình xuất khẩu? 5 Câu 2: Những nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp rơi vào "bẫy lừa

Câu 3: Các đơn vị liên quan đã làm gì để khắc phục hậu quả của vụ việc trên? 10 Câu 4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho doanh nghiệp Việt Nam 13

Trang 4

TÓM TẮT

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa phát triển ngày càng sâu rộng như hiện nay, các giao dịch thương mại quốc tế diễn ra ngày càng nhiều, kéo theo đó

sự xuất hiện của những tổ chức, cá nhân không minh bạch, gây ra những vụ lừa đảo gây tổn thất lên đến hàng tỷ đồng, điển hình nhất là vụ “nghi lừa đảo” lớn nhất trong lịch sử ngành điều Việt Nam giữa 5 doanh nghiệp xuất khẩu điều Việt Nam và khách

hàng tại Italia Nhận thức được vấn đề trên, nhóm quyết định kể câu chuyện về “ Vụ

"nghi lừa đảo" 100 container hạt điều” để tìm hiểu sâu xa hơn về vụ việc và những

cách khắc phục hậu quả từ nó Đồng thời thông qua case study này, bằng các nghiên cứu đi trước và những tải liệu thứ cấp mà nhóm 15 tham khảo được trên các nên tảng thông tin trực tuyến, nhóm hy vọng có thể chỉ ra nguyên nhân sâu xa của vụ việc này

và đưa ra được bài học chung nhất cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

Từ khóa: 100 container hạt điều, nguyên nhân, thanh toán quốc tế.

CASE STUDY

Đầu năm 2022, 5 doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều tại Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu 100 container hạt điều sang Italia với giá trị khoảng 200.000 USD/container (tổng giá trị 20 triệu USD – khoảng 1000 tỷ VNĐ) thông qua môi giới của Công ty TNHH MTV Kim Hạnh Việt qua phương thức thanh toán D/P

Để thực hiện giao dịch, công ty Kim Hạnh Việt đã ủy quyền cho một ngân hàng ở Việt Nam, đại diện bên bán làm thủ tục thu hộ, gửi bộ chứng từ gốc sang ngân hàng đại diện bên mua tại Italia thông qua công ty chuyển phát nhanh quốc tế DHL Tuy nhiên khi đến nơi, bên trong kiện hàng toàn bộ là bản chứng từ photo – không có giá trị pháp lý khi giao dịch thay vì bản gốc

Trước các dấu hiệu trên, một số doanh nghiệp đã đề nghị ngân hàng ngay lập tức ngăn chặn thu hồi chứng từ để dừng vận chuyển container Tổng cộng trong số 100 container ký xuất, doanh nghiệp và ngân hàng mất kiểm soát 36 chiếc tương đương hơn 160 tỷ đồng Rất nhanh sau đó, nhiều cơ quan chính phủ như Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp, … đã vào cuộc và xây dựng các phương án bảo vệ

Trang 5

doanh nghiệp Đặc biệt trong số đó, Bộ Công an đã làm việc với Interpol – Cảnh sát điều tra quốc tế để nhận được sự hỗ trợ

Tính đến thời điểm ngày 17/3, cảnh sát tại phía Italy đã ra lệnh tạm dừng không giao 16 container hạt điều của Việt Nam, còn 20 chiếc mất kiểm soát bộ chứng từ (khoảng 86 tỷ đồng) Theo một vài thông tin hiện nay, có người tự nhận là bên mua sở hữu trong tay bộ chứng từ gốc và thuê luật sư đồng thời liên hệ với tòa án tại Italy để đòi trả hàng

Trải qua nỗ lực không ngừng nghỉ của các bên liên quan, đến ngày 30/5, toàn bộ 36 container hạt điều bị mất chứng từ đã được giải phóng, dẫn đến một kết thúc có hậu cho vụ việc Các doanh nghiệp Việt Nam đã thoát khỏi rủi ro lớn nhất là mất toàn bộ hàng trong một khoảng thời gian ngắn, giảm thiểu được tối đa những thiệt hại về mặt kinh tế

CÂU HỎI THẢO LUẬN Câu 1: Kẻ gian đã lợi dụng khâu nào trong quá trình xuất khẩu?

Một số phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay là:

1 Thứ nhất, điện chuyển tiền (T/T - Telegraphic Transfer): Ngân hàng sẽ

chuyển một số tiền cho bên xuất khẩu bằng phương tiện chuyển tiền điện Swift/telex dựa trên chỉ định của bên nhập khẩu

2 Thứ hai, nhờ thu (D/P - Documents against payment): Giao tiền thì giao

chứng từ, tức là nhà xuất khẩu chỉ định ngân hàng xuất trình chỉ giao các chứng từ cho nhà nhập khẩu nếu nhà nhập khẩu thanh toán đầy đủ hóa đơn hoặc hối phiếu kèm theo

3 Thứ ba, thư tín dụng (L/C - Letter of Credit) Nói dễ hiểu, L/C là thư cam kết

của ngân hàng về việc trả tiền người bán Khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ do người bán gửi đến và kiểm tra bộ chứng từ đó phù hợp với quy định trong L/C thì ngân hàng sẽ trả tiền

Trong vụ việc trên, các doanh nghiệp xuất khẩu đã lựa chọn phương thức thanh toán D/P tức trả tiền – giao chứng từ (gần giống với phương thức giao hàng COD nội địa)

● Quy trình thanh toán D/P cụ thể & lỗ hổng trong khâu thanh toán:

Trang 6

Theo nguyên tắc mà 5 doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều Việt Nam áp dụng ở thương vụ này, chỉ khi giao tiền ngay cho ngân hàng phía nhập khẩu (để chuyển giao cho các ngân hàng Việt Nam chi trả cho nhà xuất khẩu), khách hàng mới được giao chứng từ gốc để đi nhận hàng từ hãng vận chuyển

Tuy vậy, các ngân hàng Việt Nam chưa hề nhận được tiền chuyển Còn ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ thì thông báo rằng, người mua không phải khách hàng của họ và

đã trả lại bộ chứng từ, nhưng không ghi rõ trả theo hình thức nào, không cung cấp số vận đơn cho ngân hàng Việt Nam Trong khi đó, ngân hàng tại Italia thì thông báo cho ngân hàng Việt Nam rằng, họ đã nhận được bộ chứng từ, nhưng là các bản sao, không phải bản gốc

Như vậy, bộ chứng từ gốc đã lọt vào tay kẻ lạ Vinacas (Hiệp hội Điều Việt Nam) cho rằng, tổ chức lừa đảo này hết sức tinh vi, hiểu rất rõ các doanh nghiệp điều ở Việt Nam và đã nghiên cứu kỹ đường đi, nước bước giao nhận vận chuyển hàng hóa, chứng từ Dấu hiệu thể hiện điều này:

Đầu tiên, mức giá hợp đồng không quá cao, nhưng thời điểm giao hàng là từ

tháng 2/2022, tức là thời điểm sau Tết Nguyên đán ở nước ta, giao dịch rất hạn chế Như vậy, người mua đã đánh đúng tâm lý muốn bán được hàng trong lúc này

Tiếp đến, kẻ lừa đảo rải ra mua hàng của nhiều doanh nghiệp và nhiều đợt,

chứ không tập trung vào một đơn vị, một khối lượng nhất định Kẻ lừa đảo còn chuẩn

bị rất kỹ về thông tin, bởi khi tra cứu về người mua và cả hệ thống ngân hàng tại Italia, thì đều có thông tin chính xác trên các website Bên cạnh đó, địa điểm giao hàng đều là các cảng nằm xa trung tâm…

Mấu chốt vụ án là con đường đi tới tay kẻ lạ của bộ chứng từ gốc - hồ sơ quyết

định “sống còn” trong thanh toán D/P Ở vụ việc này, đường đi của bộ chứng từ gốc bắt đầu từ doanh nghiệp, chuyển tới các ngân hàng Việt Nam, rồi ngân hàng chuyển cho hãng vận chuyển DHL để giao tới các ngân hàng bên Italia do nhà nhập khẩu cung cấp

Có hàng loạt nghi vấn đã được đặt ra Nghi vấn đầu tiên, doanh nghiệp Việt Nam cố tình gửi chứng từ photocopy để mưu toan khác Nhưng nghi vấn này rất

thiếu cơ sở, bởi tiền chưa nhận, nhưng hàng hóa trị giá hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp đã lên đường trước, nếu lừa gạt, thì doanh nghiệp Việt không chỉ không nhận được tiền hàng, mà còn vô cùng tốn kém chi phí cho ngân hàng ủy thác, cho hãng vận

Trang 7

chuyển và những rủi ro cho hàng hóa trên biển, trong khi việc khiếu kiện quốc tế ngày càng khó khăn

Nghi vấn khác thì cho rằng, chứng từ gốc bị đánh tráo ở khâu vận chuyển từ các ngân hàng Việt Nam tới hãng vận chuyển DHL, hoặc từ hãng này tới các ngân hàng bên Italia DHL là hãng vận chuyển hàng hóa và cung cấp các giải pháp về

logistics quốc tế uy tín, lâu năm, nên cũng không dễ gì để cá nhân trong hệ thống đại

lý liên kết với tội phạm quốc tế

Một số doanh nghiệp đặt nghi ngờ, Công ty Kim Hạnh Việt (đơn vị môi giới) chủ trì phi vụ này, nhưng Kim Hạnh Việt lại không phải đơn vị vận chuyển giao nhận

chứng từ gốc Để lấy được bộ chứng từ này giao cho phía kẻ lừa đảo để lấy hàng, thì Công ty Kim Hạnh Việt phải xây dựng được “dây chuyền” không chỉ ở Italia, mà cả trong hệ thống vận chuyển

Nói tóm lại, mặc dù có rất nhiều giả thuyết khác nhau đã được đưa ra nhưng đều hướng đến một kết luận rằng “kẻ gian” đã khai thác lỗ hổng tại khâu thanh toán để tiến hành hành vi “lừa đảo” của mình Bởi lẽ, với hình thức D/P, họ chỉ cần nắm trong tay

bộ chứng từ gốc là có thể lấy hàng, bất kể đã thanh toán hay chưa

● Như vậy, vì sao doanh nghiệp lại chọn phương thức thanh toán D/P mà không phải L/C hay T/T trong khi D/P tồn tại rủi ro như vậy?

Theo các chuyên gia, phương thức thanh toán nào cũng có rủi ro Điều quan trọng là phải biết cách "chọn mặt gửi vàng" và không bị lóa mắt bởi lời hứa hấp dẫn

Cụ thể, với phương thức D/P này, khả năng rủi ro của người bán sẽ thấp hơn vì nếu người mua không trả tiền thì sẽ không thể lấy được hàng Trong trường hợp đó, người bán không mất hàng, nhưng sẽ mất chi phí để đưa hàng quay trở về hoặc tìm khách hàng khác để bán lại lô hàng đó

Hình thức thanh toán D/P phổ biến nhất hiện nay là đặt cọc trước, ví dụ 10% trị giá hợp đồng hoặc trị giá lô hàng Khi hàng quá cảnh mà khách hàng không đi nhận bộ chứng từ và không nhận hàng thì bị mất cọc, nhưng cách này cũng có rủi ro có thể người mua họ không nhận hàng do giá cả thị trường giảm hơn 10% D/P có lợi thế là thủ tục đơn giản và quan trọng là không mất phí nên hiện nay có đến 80% - 90% doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều chọn D/P

Giải thích chi tiết hơn, hàng nông sản giá trị thấp, mỗi lô hàng có trị giá vài trăm nghìn USD Người mua thì không mua nhiều một lúc, mà họ mua gối đầu, từng lô nhỏ

Trang 8

Trong trường hợp lô hàng nào cũng mở L/C thì mỗi tháng doanh nghiệp có thể phải

mở đến vài chục L/C Trong khi, mở L/C thì phải ký quỹ ngân hàng theo một tỷ lệ nào

đó Như vậy, người mua sẽ bị đọng vốn ở ngân hàng trong suốt thời gian chờ nhận hàng lên đến cả tháng trời Và không người mua nào muốn như thế cả Nếu doanh nghiệp xuất khẩu khăng khăng đòi L/C thì người mua sẽ đi tìm người đối tác khác Bản chất D/P hay L/C đều nhờ thu qua ngân hàng Trong trường hợp đối tác đã muốn lừa đảo thì có thể diễn ra với bất kỳ hình thức thanh toán nào

Câu 2: Những nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp rơi vào "bẫy lừa đảo" như trên là gì?

Mặc dù phương thức thanh toán D/P tồn tại rất nhiều rủi ro và trên thực tế, tổ chức tại Italia cũng đã khai thác khâu thanh toán này để thực hiện hành vi “lừa đảo” của mình, nhưng như đã giải thích ở trên và cũng theo nhiều chuyên gia, đây lại không được coi là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp xuất khẩu điều lâm vào tình cảnh trên Cụ thể, theo ông Ngô Khắc Lễ (thuộc VIAC - Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam), D/P là điều kiện thanh toán rất phổ biến trên thế giới, được áp dụng bởi cả các doanh nghiệp đến từ các thị trường lớn như Châu Âu hay Mỹ “Không thể nói vì phương thức D/P mà dẫn đến rủi ro” - ông nhấn mạnh

Như vậy, nguyên nhân chính dẫn đến vụ việc có thể được chia thành 2 nhóm như sau:

a Nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam tin tưởng môi

giới và bị động, phụ thuộc vào môi giới trong quá trình giao dịch, biết quá ít thông tin

về bên mua

Quá trình liên lạc/giao dịch trong vụ việc có thể được tóm tắt qua sơ đồ như sau:

Bên bán (đặt vấn đề) → Môi giới (tìm kiếm đối tác) → Bên mua

● Giữa môi giới và bên bán:

Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất khẩu điều của Việt Nam đã từng làm việc thành công với công ty môi giới Kim Hạnh Việt nhiều lần trước đó Vậy nên các doanh nghiệp này hoàn toàn tin tưởng vào Kim Hạnh Việt, đều ký hợp đồng mua bán qua môi giới mà không tìm hiểu, liên hệ trực tiếp hay gặp mặt trực tiếp với bên mua

“Mấu chốt của sự việc không phải do doanh nghiệp Việt Nam yếu kém về nghiệp vụ,

đó là doanh nghiệp Việt Nam quá thật thà, tin người môi giới” và “Không tự mình xác

Trang 9

minh đối tác trước khi ký kết hợp đồng.” - ông Nguyễn Đức Thanh, Tham tán thương

mại Việt Nam tại Italia cho biết Thay vì chủ động kiểm tra thông tin, chỉ đến khi rủi

ro đã xảy ra, các doanh nghiệp này mới tìm đến sự hỗ trợ của thương vụ tại nước sở tại

● Giữa môi giới và bên mua:

Theo giải trình của đại diện Công ty Kim Hạnh Việt (đơn vị môi giới) cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu 100 container hạt điều đi Italia thì có 36 container

bị mất bộ chứng từ gốc có khả năng bị lừa đảo Đặc biệt, trong quá trình làm việc với Thương vụ, đại diện Công ty Kim Hạnh Việt cũng khẳng định “không biết công ty mua hàng mà chỉ làm việc qua một người môi giới khác tại Italia”

Nói cách khác, bản thân công ty môi giới Kim Hạnh Việt cũng không thật sự hiểu rõ bên mua hàng là ai, không có thông tin về người mua mà làm việc thông qua tầng trung gian khác Độ uy tín, minh bạch của bên mua chưa được công ty này kiểm chứng và xác nhận rõ ràng Sau khi môi giới xong thì công ty Kim Hạnh Việt đẩy hết quy trình cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp cũng không hiểu về bên mua và bị động trong việc kiểm soát tình hình

Tóm lại, việc bị động, phụ thuộc vào bên trung gian môi giới trong quy trình làm việc với bên mua cũng như năng lực phòng tránh rủi ro còn hạn chế là

những nguyên nhân chủ quan chính khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam rơi vào bẫy lừa đảo

b Nguyên nhân khách quan: Hệ thống thanh toán quốc tế (1) còn tồn tại lỗ hổng

trong thanh toán và (2) chưa có cơ chế bảo vệ lợi ích khách hàng (là các doanh nghiệp) khi xảy ra sự cố

● Chưa có hệ thống ngân hàng chung, còn tồn tại lỗ hổng trong thanh toán:

Hiện tại vẫn chưa có hệ thống ngân hàng nào phủ sóng trên toàn thế giới, phần lớn các giao dịch quốc tế hiện tại phải thông qua hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT Với hệ thống này, tiền từ tài khoản này sẽ phải đi qua rất nhiều ngân hàng trung gian trên nhiều quốc gia khác nhau trước khi đến được đích tại tài khoản khác, đặc biệt là các giao dịch có sử dụng ngoại tệ, vô hình chung khiến khả năng xảy ra rủi ro lớn hơn rất nhiều so với chuyển thẳng trực tiếp trong cùng một hệ thống ngân hàng

Cụ thể trong trường hợp này, trong quá trình gửi hồ sơ thu hộ từ ngân hàng Việt Nam tới ngân hàng được bên mua chỉ định tại Ý đã nhiều lần có sự thay đổi về số

Trang 10

SWIFT (mã số định danh ngân hàng - mã riêng của từng ngân hàng được sử dụng trong các giao dịch liên ngân hàng trên toàn cầu), khiến điểm đích đến của bộ chứng từ

bị thay đổi, chuyển sang một ngân hàng khác tại Thổ Nhĩ Kỳ Sau khi ngân hàng này nhận được bộ chứng từ thì thông báo người mua không phải khách hàng của họ và đã trả lại bộ chứng từ, nhưng không ghi rõ trả theo hình thức nào cũng như không cung cấp số vận đơn cho ngân hàng Việt Nam cho dù ngân hàng Việt Nam đã liên hệ rất nhiều lần

Như vậy, bản thân sự liên kết giữa các ngân hàng trong hệ thống thanh toán toàn cầu chưa thực sự chặt chẽ, quá trình làm việc giữa các bên vẫn tồn tại những bất cập nhất định như chậm trễ và thiếu rõ ràng Cùng với thủ đoạn tinh vi của người mua, bộ chứng từ gốc bao gồm cả Bill of Lading đã bị đánh tráo và thay vào

đó là các bộ copy hay giấy trắng tại khâu nào đó trong quá trình chuyển giao từ chuyển phát nhanh sang ngân hàng người mua

● Chưa có cơ chế bảo vệ lợi ích khách hàng:

Khi các ngân hàng bên mua nhận ra sự bất thường trong giao dịch (nhận được

bộ chứng từ không phải từ khách hàng, nhận bản sao của Bill of Lading thay vì bản gốc), các ngân hàng đã không chủ động trong việc phân tích tình hình, thông báo sự bất thường và các trường hợp có thể xảy ra cho ngân hàng bên bán mà chỉ đơn thuần trả lại bộ chứng từ (nhưng cũng rất thiếu trách nhiệm khi không ghi rõ hình thức cũng như số vận đơn) Điều này đã đẩy các doanh nghiệp bên mua và ngân hàng bên mua vào thế bị động, buộc phải nhờ đến sự hỗ trợ của Vinacas và Đại sứ quán và Thương

vụ Việt Nam tại Italy hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách làm việc với các cơ quan có thẩm quyền và hãng tàu tại Italy để giải quyết vấn đề

Có thể thấy, các ngân hàng quốc tế chưa có cơ chế, quy trình rõ ràng hỗ trợ doanh nghiệp khách hàng khi xảy ra sự cố, đẩy khách hàng vào thế bị động cũng như nguy cơ tổn hại tài sản

Câu 3: Các đơn vị liên quan đã làm gì để khắc phục hậu quả của vụ việc trên?

a Phía doanh nghiệp

Ngay khi nhận ra dấu hiệu của việc lừa đảo trong vụ việc 100 container hạt điều xuất khẩu đi thị trường Italy, một số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đã nhanh chóng tìm cách dừng vận chuyển hàng Trước việc xử lý kịp thời, các doanh nghiệp Việt Nam đã dừng không giao bộ chứng từ gốc, đòi được một số bộ chứng từ chuyển ngược

Ngày đăng: 12/10/2022, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w