1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam

97 205 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí Hồng Nam
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Nam Định
Chuyên ngành Kế Toán, Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 753,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý chi phí không thể dựa vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí riêng biệt mới có thể đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất phân loại chi phí sản xuất theo nhữ

Trang 1

LUẬN VĂN:

Hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí

Hồng Nam

Trang 2

PHần mở đầu

Trong những năm qua với quá trình mở cửa đất nước, nền kinh tế cuả nước ta cũng

có nhiều đổi mới ngày càng sâu sắc và toàn diện

Theo đà phát triển đó công tác kế toán với tư cách là công cụ phục vụ quản lý kinh tế cũng đã có sự đổi mới và phát triển không ngừng về nội dung phương pháp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế đất nước

Trước ngưỡng cửa nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có được nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng phải đương đầu với không ít những khó khăn mà khó khăn lớn nhất là cạnh tranh gay gắt, không những trong nước mà còn cạnh tranh với những doanh nghiệp nước ngoài

Để tồn tại và phát triển thì mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp không chỉ sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt mà còn phải tìm mọi biện pháp hạ giá thành Gía thành sản phẩm cao hay thấp, nó phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư, tiền vốn, lao động của doanh nghiệp Việc quản lý, sử dụng hợp lý tiết kiệm các nguồn lực nói trên sẽ là tiền đề, là cơ sở để hạ giá thành sản phẩm và ngược lại

Để giải quyết những vấn đề đó phải hoàn thiện công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Công việc này không chỉ mang lại ý nghĩa về mặt lý luận mà mang ý nghĩa thực tiễn to lớn và cấp bách trong quá trình đổi mới cơ chế quản

lý kinh tế của doanh nghiệp sản xuất ở nước ta nói chung và nhà máy cơ khí Hồng Nam nói riêng

Được tiếp nhận về thực tập , tìm hiểu tình hình thực tế ở nhà máy cơ khí Hồng Nam

em nhận thấy công tác quản lý giá thành giữ vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý của toàn doanh nghiệp Xuất phát từ nhận thức đó nên em đã chọn đề

tài “Hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí

Hồng Nam” cho báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình

Trang 3

Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần:

Phần I - Lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp

Phần II- Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí Hồng Nam

Phần III- Phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại nhà máy cơ khí Hồng Nam

Với kiến thức còn hạn chế, chưa có điều kiện tiếp xúc thực tế, em mong đựoc sự giúp

đỡ của thầy cô và các anh ,chị, cô, bác phòng kế toán chuyên đề được hoàn thiện hơn

Trang 4

Có sự phân biệt giữa chi tiêu và chi phí Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật

tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm: chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua vật tư, hàng hoá ), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý ) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi phí vận chuyển bốc , dỡ, quảng cáo ).Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng tính vào chi phí kỳ sau (chi mua nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước) Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng

Trang 5

Từ đó ta có thể kết luận: chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn

bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong kỳ để thực hiện quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm Thực chất chi phí là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp- chuyển dịch giá trị của các giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính gía nhất định (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ), nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh

Gía thành sản phẩm

Gía thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành

Qúa trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao phí sản phẩm và mặt kết quả sản xuất Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ,

kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra

có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ

Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với gía thành sản phẩm

Về thực chất, chi phí và giá thành là hai mặtkhác nhau của quá trình sản xuất Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất

Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua sơ đồ dưới đây:

CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ

Tổng giá thành sản phẩm CPSX dở dang cuối kỳ

Qua sơ đồ ta thấy:

Tổng giá

thành sản

phẩm

= Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ

+ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

- Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Trang 6

Khi giá trị sản phẩm dở dang (CPSX dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Như vậy, giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi cho sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà khồng bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố chi phí trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

II Phân loại CPSX và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều khoản khác nhau về nội dung, tính chất công dụng,vai trò, vị trí và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau Quản lý chi phí không thể dựa vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí riêng biệt mới có thể đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức thích hợp sẽ đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý vừa đáp ứng được yêu cầu của kế toán tập hợp chi phí sản xuất, lập dự toán chi phí và thúc đẩy công ty không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, phát huy hơn nữa vai trò của công cụ kế toán đối với sự phát triển của doanh nghiệp Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định Vì vậy, nó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác hạch toán cũng như công tác kế hoạch hoá, kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp và từng bộ phận cấu thành trong công ty

Xét về mặt lý luận cũng như trên thực tế có rất nhiều cách phân loại khác nhau như phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng , theo vị trí, theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất Mỗi cách phân loại đều đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý,

Trang 7

hạch toán, kiêm tra kiểm soát chi phí phát sinh ở các độ khác nhau Và ở cách phân loại nào cũng dựa trên một số chỉ tiêu như: đặc điểm của chi phí theo ngành , theo đơn

vị Vì thế các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Trên góc độ tài chính, CPSX thường được phân theo những tiêu thức sau:

a) Phân theo yếu tố chi phí (theo nội dung kinh tế) của chi phí sản xuất

Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có nội dung kinh tế được xếp chung vào một yếu tố,không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào, dùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý của mỗi nước, mỗi thời

kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau Theo qui định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố

 Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm giá trị nguyên , vật liệu chính , vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)

 Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)

 Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức

 Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: phản ánh phần BHXH,BHYT,KPCĐ trích theo

tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên chức

 Yếu tố khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng sốkhấu haoTSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong kỳ

 Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh

 Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

Cách phân loại này cho biết những chi phí đã chi vào quá trình sản xuất và tỷ trọng của từng loại chi phí đó chiếm bao nhiêu trong tổng số chi phí sản xuất của doanh nghiệp, làm cơ sở để tập hợp chi phí sản xuất và lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu

Trang 8

tố Phân loại theo cách này còn là cơ sở để lập và cân đối các kế hoạch với nhau, kế hoạch lao động và tiền lương, kế hoạch cung ứng vật tư , là cơ sở tính toán xác định các nhu cầu tiêu hao vật chất cho doanh nghiệp

b) Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

Theo cách phân loại này, người ta căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm để thuận tiện cho việc tính giá thành, toàn bộ chi phí đượcphân chia theo khoản mục Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng.Theo qui định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở Việt nam bao gồm 3 khoản mục chi phí:

 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT): Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ

 Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT): Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ của tiền lương phát sinh

 Chi phí sản xuất chung (CPSXC): Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất nhưng có tính chất phục vụ chung cho quá trình sản xuất sản phẩm (trử CPNVLTT,CPNCTT)

Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng

Mặc dù việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng trong thực tế khó tính giá theo yếu tố Vì doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm nên tính giá thành theo yếu tố phải tính toán phân bổ nhiều lần và như vậy rất phức tạp Do đó người ta dùng cách tập hợp những khoản chi phí cần phân bổ vào những nhóm riêng có cùng một công dụng kinh tế để phân bổ một lần Do vậy việc phân loại chi phí theo khoản mục ngoài tác dụng kiểm tra tình hình sử dụng chi phí trong phạm vi doanh nghiệp cũng như theo từng loại sản phẩm riêng biệt, còn đáp ứng nhu cầu tính giá thành sản phẩm

c) Phân loại chi phí theo chức năng sản xuất kinh doanh

Dựa vào chức năng hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh và chi phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng chi phí sản xuất kinh doanh gồm 3 loại:

Trang 9

 Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: gồm những chi phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng

 Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ

 Chi phí thực hiện chức năng quản lý: gồm các chi phí quảnlý kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công xưởng, giá thành toàn bộ, xác định giá trị hàng tồn kho, phân biệt chiphí theo từng chức năng cũng như làm căn cứ để kiểm soát và quản lý chi phí

d) Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí

 Toàn bộ CPSXKD được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ Chi phí sản phẩm là chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra được được mua Còn chi phí thời kỳ là những làm giảm lợi tức trong một thời kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất hoặc được mua nên được xem là phí tổn được khấu trừ ra từ lơị tức của thời kỳ mà chúng phát sinh

e) Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc hoàn thành:

Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí, đồng thời làm căn cứ cho việc

đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí kinh doanh được phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí

Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp

Định phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng , phương tiện kinh doanh, Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi

Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng với kế toán quản trị trong quá trình phân tích tình hình tiết kiệm chi phí, xác định phương hướng nâng cao hiệu quả chi phí

f) Phân theo quan hệ với quá trình sản xuất

Trang 10

Theo cách phân loại này chi phí bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:

Chi phí trực tiếp là những chi phí tự bản thân chúng có quan hệ trực tiếp tới quá trình sản xuất và có thể chuyển trực tiếp cho sản phẩm hay đối tượng chịu chi phí

Chi phí gián tiếp là những chi phí chung, không phân định được cho từng đối tượng nên cần phân bổ

Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn và hợp lý

g ) Phân loại theo khả năng kiểm soát

Theo cách này toàn bộ chi phí bao gồm chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được Đây là khoản mục chi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của các nhà quản trị các cấp đối với các chi phí đó

Bên cạnh các cách phân loại trên, trong quản lý kinh tế người ta còn sử dụng một số thuật ngữ khác như chi phí khác biệt, chi phí cơ hội, chi phí tới hạn

Chi phí khác biệt là những chi phí được đem so sánh các phương án khác nhau Trước khi ra quyết định, nhà quản lý phải so sánh chi phí và kết quả các phượng án tối

ưu Khi so sánh, sẽ thấy một số khoản chi phí xuất hiện trong phương án này nhưng chỉ xuất hiện một phần hay biến mất ở phương án khác và chúng được goị là chi phí khác biệt

Chi phí thời cơ là khoản chi phí hoàn toàn không xuất hiện trên sổ sách kế toán Đó chính là khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất khi chọn một phương án kinh doanh này để thay một phương án kinh doanh khác Nói cách khác, khoản thu nhập thực sự của phương án kinh doanh bị huỷ bỏ sẽ trở thành chi phí cơ hội của phương án được chọn

Chi phí tới hạn là khoản chi phí mà doanh nghiệp đầu tư bổ sung để làm thêm số sản phẩm ngoài dự kiến Đây là một chìa khoá để doanh nghiệp số lượng sản phẩm cần sản xuất, tiêu thụ nhằm đạt lợi nhuận tối đa hoặc hạn chế số lỗ tới mức thấp nhất (nếu đang

bị lỗ)

Như vậy mỗi cách phân loại nói trên đều có tác dụng và ý nghĩa riêng Đồng thời, có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác dụng bổ sung với nhau và nhằm mục đích chung là quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Qua cách phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp cho phép xác định một cơ cấu chi phí khác nhau và hiểu được cặn

Trang 11

kẽ nội dung, tính chất và vị trí của từng loại trong sản xuất taọ ra sản phẩm Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải đứng trên góc độ khác nhau để xem xét nghiên cứu các cách phân loại này

2 Phân loại giá thành

Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau Về lý luận cũng như trên thực tiễn ngoài các khái niệm giá thành xã hội, giá thành cá biệt còn có các khái niệm giá thành toàn bộ, giá thành công xưởng

a) Xét trên phạm vi phát sinh chi phí , giá thành chia làm 2 loại:

 Gía thành sản xuất (hay giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất (CPNLVTT, NCTT, SXC)

 Gía thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chi phí thực tế của số sản phẩm, dịch vụ

đã tiêu thụ của doanh nghiệp (chi phí bán hàng, quản lý, chi phí sản xuất) Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ và được tính theo công thức

+

Chi phí quản

lý doanh nghiệp

+

Chi phí tiêu thụ sản phẩm

b) Xét về thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành , gồm:

 Gía thành kế hoạch: là gía thành được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức , dự toán chi phí thời kỳ kế hoạch

 Gía thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xác định trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt

cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng)

Trang 12

nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm

 Gía thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong qúa trình sản xuất sản phẩm

Việc xem xét chỉ tiêu giá thành sản phẩm trên các góc độ khác nhau là cần thiết Bởi

vì mỗi loại giá thành có ý nghĩa khác nhau trong quá trình quản lý kinh tế và quá trình kinh doanh Chẳng hạn, giá thành công xưởng dùng để đánh giá hạch toán kinh tế nội

bộ, giá thành tiêu thụ xác định kết quả kinh doanh

Thông tin về hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thông tin chủ yếu, mang tính quyết định và là cơ sở để ra các quyết định kinh doanh cụ thể như sản lượng hoà vốn, tối đa lợi nhuận Vì thế muốn tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đáp ứng đầy đủ trung thực, kịp thời yêu cầu quản lý chi phí và giá thành của doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

 Căn cứ quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành thích hợp

 Tổ chức tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã xây dựng và bằng phương pháp thích hợp đã chọn, cung cấp số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí cả sản phẩm dở dang cuối kỳ

III Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

Trang 13

Qua lý luận trên chúng ta có thể hiểu rõ đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn để tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ đó Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh có thể là nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận ) hoặc có thể là đối tượng chịu chi phí (như sản phẩm, nhóm sản phẩm )

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu phí Vì vậy, khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí Sau đó căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí

Xác định đối tượng tập hợp chi phí và phù hợp với đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản

lý của doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức hạch toán tập hợp chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến việc tổ chức tập hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết

Đối tượng tính giá thành sản phẩm

Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm, bán thành phẩm , dịch vụ, lao vụ hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất hay tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm

Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất chung chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí và giá thành Nhưng chúng cũng có điểm khác nhau:

 Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi phát sinh chi phí để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ Xác định đối tượng tính giá thành có liên quan đến kết quả sản xuất

 Một đối tượng tập hợp chi phí có thể có nhiều đối tượng tính giá thành

Tuy nhiên ở nhiều trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng với đối tượng tính gía thành Do đó để phân biệt đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một cần căn cứ vào:

 Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp

Với sản xuất giản đơn, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản

Trang 14

phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao động) Đối tượng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng Với sản xuất phức tạp, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm Còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo

 Loại hình sản xuất: đơn chiếc, sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn

Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng hạch toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn

Đối với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn, phụ thuộc vào qui trình công nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ Còn đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm như đã nêu ở trên

 Dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính gía thành

Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành

ở các góc độ khác nhau; ngược lại, nếu trình độ thấp thì đối tượng đó có thể bị hạn chế

và thu hẹp lại

Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn, mang tính định hướng cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Đồng thời thể hiện được mục đích và phạm vi tiến hành 2 giai đoạn của công tác kế toán

2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất (CPSX)

-Phương pháp quy lạp trực tiếp: Theo phương pháp này được áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng chi phí sản xuất Do vậy khi phát sinh chi phí sản xuất liên quan đến từng đối tượng thì toàn bộ chi phí tập hợp hết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

Trang 15

Ưu điểm :Đảm bảo chính xác của việc tập hợp chi phí sản xuất cho các đối tượng tập

+Xác định chi phí sản xuất có liên quan đến các đối tượng

+Chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí:

Trong đó :

H :Hệ số phân bổ

C :Tổng chi phí cần phân bổ

T :Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ của các đối tượng

+Tính mức phân bổ cho từng đối tượng Ci =H x Ti

Trong đó : Ci : Chi phí phân bổ cho từng đối tượng i

Tuỳ theo đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như yêu cầu và trình

độ của công tác quản lý, công tác kế toán của từng doanh nghiệp, từng loại hình sản xuất cụ thề, kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá thành mang tính

kỹ thuật- nghiệp vụ sau:

H =

C

T

Trang 16

 Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than , gỗ ) GTSP theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng chi phí sản xuất công hoặc trừ số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành

 Phương pháp tổng cộng chi phí: áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất GTSP được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận , chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm

Gía thành sản phẩm= Z1 + Z2+ +Zn

Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc

 Phương pháp hệ số: phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp

mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất Theo phương pháp này trước hết, kế toán phải căn cứ vào hệ

số quy đổi để qui các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính gía thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm

Trang 17

+

Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

x

Tỷ lệ giữa chi phí thực tế so với chi phí kế hoạch hoặc

định mức

 Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: đối với doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, ),để tính giá thành sản phẩm chính, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ

có thể được xác định theo nhiều phương pháp như giá trị có thể sử dụng, giá trị ước tính, gía kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu

+

Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

-

Gía trị sản phẩm phụ thu hồi

-

Gía trị sản phẩm chính dở dang cuối kỳ

 Phương pháp liên hợp: là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất qui trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp sản xuất hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc Trên thực tế, kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ

Trang 18

IV Trình tự hạch toán chi tiết và các hình thức tổ chức sổ kế toán chi phí sản

xuất và tính giá thành sản phẩm

Để đáp ứng yêu cầu công tác kế toán tài chính cũng như phục vụ cho kế toán quản trị, mỗi doanh nghiệp đều phải nghiên cứu, thiết kế hệ thống sổ hạch toán tổng hợp và chi tiết sao cho phù hợp với đặc điểm trình độ quản lý của doanh nghiệp Tuỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí, công việc hạch toán chi tiết chi phí sản xuất có thể khác nhau nhưng có thể khái quát:

Bước 1: Mở sổ (thẻ) hạch toán chi tiết CPSX theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất …)

Bước 2: Tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ có liên quan cho từng đối tượng hạch toán

Bước 3: tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh theo từng nội dung thuộc từng đối tượng hạch toán làm cơ sở cho việc tính giá thành, đồng thời lập phiếu tính giá thành

Theo chế độ hiện hành có 4 hình thức tổ chức sổ kế toán chi phí sản xuất

Hình thức nhật ký sổ cái

Hình thức nhật ký chung

Chứng từ gốc

Nhật ký chung Các bảng

Bảng phân

bổ

Số 1,2,3

Sổ chi tiết giá thành

TK

Chừng từ

Nhật ký sổ cái

Sổ chi tiết

TK 154 (631)

Bảng tính giá thành sản phẩm

Trang 20

Hình thức chứng từ ghi sổ

Hình thức nhật ký chứng từ

Chứng từ gốc

Phiếu tính giá thành sản phẩm

Chứng từ ghi sổ

Sổ chi tiết

TK 154

Bảng kê

số 6 (142,335

Sổ cái TK

621, 622,

Ghi hàng ngày Ghi cuối

kỳ Quan hệ đối Ghi

chú:

Trang 21

Nội dung và điều kiện áp dụng

 Thực chất của phương pháp này là phương pháp mà ở đó các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được cập nhật sổ sách thường xuyên liên tục Đây là phương pháp được áp dụng phổ biến cho mọi loại hình doanh nghiệp Nó giúp cho việc theo dõi quản lý một cách thường xuyên, liên tục mọi biến động về tài sản, công nợ về chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp cho việc tính được giá thành của bán sản phẩm( trong trường hợp

có bán thành phẩm tiêu thụ) Tuy nhiên chi phí cho bộ máy kế toán thường lớn

Hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp kê khai thường xuyên

CPNVLTT bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt( phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, )thì hạch toán cho từng đối tượng đó.Trường hợp nguyên vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể

tổ chức hạch toán riêng được thì áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để được phân

bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan

Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ

số, theo trọnglượng, số lượng sản phẩm

Công thức phân bổ như sau:

Tỷ lệ ( hay hệ số) phân bổ

Trong đó:

Tỷ lệ hay hệ số

= Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ

Trang 22

phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng

Để theo dõi các khoản CPNVLTT, kế toán thường sử dụng TK 621- CPNVLTT Nội dung TK này dùng để phản ánh các CPNLV sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, phát sinh trong kỳ Cuối kỳ tập hợp kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá NLV thực sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ vào các TK có liên quan để tính giá

thành sản phẩm, lao vụ Cách hạch toán được thể hiện ở sơ đồ:

Hạch toán CPNCTT theo phương pháp kê khai thường xuyên

CPNCTT (chi phí nhân công trực tiếp) là khoản thù lao lao động phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, thêm giờ Ngoài ra CPNCTT còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ BHXH (bảo hiểm xã hội ) ,BHYT (bảo hiểm y tế), KPCĐ (kinh phí công đoàn) do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất

Để theo dõi CPNCTT, kế toán sử dụng TK 622-CPNCTT.Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí như TK621 Cách hạch toán được thể hiện trên sơ đồ sau:

Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT)

Kết chuyển chi phí nguyên liệu , vật liệu trực

Vật liệu dùng không hết nhập kho hay chuyển kỳ

lương phải trả cho

công nhân trực tiếp

Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

Các khoản đóng góp

theo tỷ lệ với tiền

lương của công nhân

trực tiếp sản xuất

Trang 23

4 Hạch toán CPSXC (chi phi sản xuất chung) theo phương pháp KKTX

CPSXC là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau CPNVLTT và CNTT Đây là những chi phí trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp Kế toán sử dụng TK627- “ CPSXC”, để theo dõi CPSXC, TK này mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, dịch vụ

TK này không có số dư và được mở chi tiết thành nhiều khoản để phản ánh chi tiết

Do CPSX liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trong phân xưởng nên cần phải phân bổ chi phí này cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp Trên thực tế, các tiêu thức chủ yếu dùng để phân bổ CPSXC là theo định mức, theo giờ làm việc thực tế của công nhân sản xuất.TK này được chi tiết ra thành 6 tiểu khoản

TK 6271: Chiphí nhân viên phân xưởng: phản ánh chi phí tiền lương chính , lương phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng (quản đốc, phó quản đốc, nhân viên hạch toán phân xưởng, thủ kho, bảo vệ của phân xưởng ) và các khoản đóng góp cho các quỹ BHXH, BHYT,KPCĐ trích theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh

TK 6272: Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm các khoản chi phí về vật liệu sản xuất chung cho phân xưởng như xuất sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị nhà cửa, kho tàng, vật kiến trúc (trường hợp tự làm), các chi phí vật liệu cho quản lý phân xưởng( giấy bút, văn phòng phẩm )

TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất: là những chi phí về công cụ, dụngcụ sản xuất dùng trong phân xưởng

TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh khấu hao TSCĐ các phân xưởng sản xuất kinh doanh chính sản xuất kinh doanh phụ như máy móc, thiết bị, nhà cửa, kho tàng

TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm những chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các phân xưởng, bộ phận như chi phí sửa chữa TSCĐ, nước, điện thoại

TK 6278: Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí còn lại ngoài các chi phí kể trên như chi phí hội nghị, lễ tân, tiếp khách, giao dịch của phân xưởng, bộ phận sản xuất

Trang 24

Ngoài ra, tuỳ yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, từng ngành,TK 627 có thể mở thêm một số tiểu khoản khác để phản ánh một số nội dung hoặc yếu tố chi phí

Do CPSXC có liên quan đến nhiều loại , lao vụ, dịch vụ trong phân xưởng nên cần thiết phải phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ) tiêu thức phù hợp

cả các đối tượng

Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng

Trong thực tế, các tiêu thức thường được sử dụng phổ biến để phân bổ CPSXC như phân bổ theo định mức, theo giờ làm việc thực tế của công nhân sản xuất, theo tiền lương công nhân sản xuất Cách hạch toán được thể hiện trrên sơ đồ sau:

sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung (SXC)

5 Hạch toán chi phí trả trước và chi phí phải trả

5.1 Hạch toán chi phí trả trước

Chi phí trả trước (chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết vào CPSX KD của kỳ này,mà được tính cho 2 hay nhiều kỳ

Đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kỳ hạch toán Thuộc chi phí trả trước

có thề gồm các khoản sau:

Gía trị CCDC nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần (từ 2 lần trở lên)

Gía trị sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch

Chi phí nhân viên

Chi phí vật liệu

TK 152,

153

TK 152, 111,

Các khoản ghi giảm

Chi phí SXC (Phế liệu thu hồi, vật tư

TK 334,

Trang 25

Tiền thuê TSCĐ, phương tiện kinh doanh trả trước

Chi nghiên cứu, phát minh,sáng chế

Gía trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê

Dịch vụ mua ngoài trả trước ( điện, điện thoại, vệ sinh, nước )

Chi phí bán hàng, chi phí quản lý kinh doanh chờ kết chuyển (với doanh nghiệp có cuối kỳ kinh doanh dài)

Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông, bến bãi

Lãi thuê mua TSCĐ (thuê tài chính, ),lãi tiền vay trả trước

Để theo dõi các khoản chi phí trả trước, kế toán sử dụng TK142-chi phí trả trước và

TK 242 “chi phí trả trước dài hạn”

TK 1421 : chi phí trả trước

TK 1422: chi phí chờ kết chuyển

-TK 242 là những chi phí có liên quan đến nhiều kỳ kế toán

sơ đồ hạch toán chi phí trả trước ngắn hạn

Sơ đồ hạch toán chi phí trả trước dài hạn

trước thực tế phát

TK 911

Kết chuyển chi bán hàng, chi

Phân bổ dần chi phí trả trước vào

Kết chuyển chi phí bán hàng,chi phí quản lý vào TK xác định kết quả kinh

Tập hợp CP trả trước thực tế phát sinh giá trị CCDC nhỏ xuất dùng

có liên quan đến nhiều năm tài chính; tiền thuê phương tiện, mặt bằng kinh doanh trả trước nhiều năm; chi phí đào tạo nhân

Phân bổ chi phí trả trước dài

Giá trị thu hồi hay bồi thường khi báo hỏng mất, hết hạn sử dụng

Trang 26

5.2 Hạch toán chi phí phải trả

Chi phí phải trả (còn lại là chi phí trích trước) là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng chưa ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán Đây là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà do tổ chức quản lý nên được tính trước vào chi phí kinh doanh cho các đối tượng chịu chi phí nhằm bảo đảm cho giá thành sản phẩm, lao vụ chi phí bán hàng, chi phí quản lý khỏi đột biến tăng khi những khoản chi phí này phát sinh

Chi phí phải trả trong doanh nghiệp bao gồm:

+Tiền lương phép của công nhân sản xuất (với các doanh nghiệp sản xuất mang tính chất thời vụ)

+Chi phí sửa chữa TSCĐ trong kế hoạch

+Thiệt hại về ngừng sản xuất trongkế hoạch

+Chi phí bảo hành sản phẩm trong kế hoạch

+Lãi tiền vay chưa đến hạn trả

+Tiền thuê TSCĐ, mặt bằng kinh doanh, dụng cụ, công cụ chưa trả

+Các dịch vụ mua ngoài sẽ cung cấp

Các khoản chi phí được theo dõi, phản ánh trên TK 335- chi phí phải trả

Sơ đồ hạch toán chi phí phải trả

6 Hạch toán các khoản thiệt hại sản xuất

6.1 Hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng

Tính trước chi phí phải trả vào

Tính trước lương ngừng việc của công nhân sản xuất Các chi phí

khác thực tế phát sinh

Trang 27

Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn chất lượng và đặc điểm

kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp tuỳ theo mức

độ hư hỏng mà sản phẩm hỏng được chia làm 2 loại:

Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được là những sản phẩm hỏng mà về mặt kỹ thuật

có thể sữa chữa được và việc sửa chữa đó có lợi về mặt kinh tế

Sản phẩm hỏng không sửa chữa được là những sản phẩm mà về mặt kỹ thuật không thể sửa chữa được hoặc có thể sửa chữa được nhưng không có lợi về mặt kinh tế

Trong quan hệ với công tác kế hoạch, cả 2 loại sản phẩm hỏng nói lên được chi tiết thành sản phẩm hỏng trong định mức và sản phẩm hỏng ngoài định mức Những sản phẩm hỏng mà doanh nghiệp dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình sản xuất được coi là sản phẩm hỏng trong định mức Đây là những sản phẩm được xem là không tranh khỏi trong quá trình sản xuất nên phần chi phí cho những sản phẩm này (giá trị sản phẩm hỏng không thể sữa chữa được và chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng có thể sữa được) được coi là chi phí sản xuất chính phẩm Sở dĩ phần lớn doanh nghiệp chấp nhận một tỷ

lệ sản phẩm hỏng bởi vì họ không muốn tốn thêm chi phí để hạn chế hoàn toàn sản phẩm hỏng do việc bỏ thêm chi phí này tốn kém nhiều hơn việc chấp nhận một tỷ lệ tối thiểu về sản phẩm hỏng

Sơ đồ hạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức

6.2 Thiệt hại về ngừng sản xuất

Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan (thiên tai, địch hoạ, thiếu, NVL ) các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra một khoản chi phí

để duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu hao TSCĐ,chi phí bảo dưỡng Những khoản chi phí chi ra trong thời gian này được coi là thiệt hại về ngừng sản xuất Với những khoản chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến kế toán đã

Chi phí sửa chữa

Giá tri thiệt hại thực về sản phẩm hỏng ngoài định Giá tri sản phẩm

hỏng không sửa

chữa được

Giá trị thu hồi

Trang 28

theo dõi ở TK 335- chi phí phải trả Trường hợp ngừng sản xuất bất thường, các chi phí bỏ ra trong thời gian này do không được chấp nhận nên phải theo dõi riêng , trong các trường hợp tương tự như hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng ngoài định mức (TK

154, 627,1421,1381 thiệt hại về ngừng sản xuất) cuối kỳ sau khi trừ phần thu hồi (nếu có) do bồi thường, giá trị thiệt hại thực tế sẽ trừ vào thu nhập như khoản chi phí thời kỳ Cách hạch toán thể hiện ở sơ đồ sau:

Sơ đồ hạch toán tổng hợp thiệt hại sản xuất ngoài kế hoạch

7 Tổng hợp chi phí kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

 Để tổng hợp chi phí sản xuất ta sử dụng TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” TK này được mở chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí,…Phương pháp hạch toán cụ thể được thể hiện trên sơ đồ sau:

 Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang

Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn nằm trong quá trình sản xuất Để tính được giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần phải tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang.Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất,quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:

phẩm

TK 157

TK 632

Nhập kho Gửi bán

Tiêu thụ thảng

Giá thành thực tế

Trang 29

-Với bán thành phẩm: Có thể tính theo chi phí thực tế hoặc kế hoạch

-Với sản phẩm đang chế tạo dở dang: có thể áp dụng một trong các phương pháp:

+ Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương:

Dựa theo mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến còn các chi phí NVL chính phải xác định theo số thực tế đã dùng

+Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính:

Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm Do vậy, trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm sản phẩm chính mà thôi

+Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến:

Để đơn giản cho việc tính toán, đối với các loại sản phẩm mà chi phí chế biến chiếm

tỷ trọng thấp trong tổng chi phí, kế toán thường sử dụng phương pháp này Thực chất

Số lượng thành phẩm

Số lượng sản phẩm

Giá trị sản phẩm

dở dang cuối kỳ (không quy đổi)

Sản phẩm

dở dang quy đổi ra

Số lượng sản phẩm

dở dang cuối kỳ quy đổi

ra thành +

Số lượng thành phẩm

Số lượng sản phẩm dở dang

Số lượng sản phẩm

dở +

x

=

Trang 30

đây là một dạng của phương pháp ước tính theo sản phẩm tương đương, trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm

+Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp :

Theo phương pháp này, trong giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí trực tiếp mà không tính đến chi phí khác

+Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: Căn cứ định mức tiêu hao cho các khâu, các bước, các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang

Ngoài ra,trên thực tế, người ta còn áp dụng các phương pháp khác đẻ xác định giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp tính theo chi phí vật liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang, v v…

VII Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK)

Về nguyên tắc thì nội dung và trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh áp dụng phương pháp KKĐK đối với hàng tồn kho cũng giống như trong doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKTX

Tuy nhiên do có sự khác nhau về phưong pháp kế toán hàng tồn kho nên so với phương pháp KKTX thì kế toán chi phí sản suất theo pghương pháp KKĐK có một số đặc điểm sau:

-Trước hết đối với khoản chi phí NVL(nguyên vật liệu):

Vật liệu nhập kho không theo dõi trên TK 152,153 mà được theo dõi trên TK 611

“Mua hàng”

Vật liệu dùng cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh không được tính toán xác định trên cơ sở chứng từ xuất mà căn cứ vào kết quả kiểm kê NVL,CCDC Do vậy khó xác định số xuất dùng cho sản xuất, phục vụ cho quản lý ,nhu cầu bán hàng Đây cũng là hạn chế của phương pháp kê khai hàng tồn kho theo định kỳ

-Đặc điểm thứ hai: Do chi phí NVL,CCDC khó phân tích theo mục đích sử dụng nên trong chi phí sản xuất chung ,chi phí bán hàng ,chi phí quản lý sẽ không có khoản chi

Giá trị sản

phẩm dở

dangchưa hoàn

Giá trị NVL chính nằm trong

SP dở dang

50% chi phí chế biến

Trang 31

phí NVL,CCDC Chính vì vậy giá thành sản phẩm trong trường hợp này được tính theo các khoản mục sau: Chi phí NVL, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung

-Đặc điểm thứ 3 :Để tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm ,kế toán sử dụng TK 631 “Giá thành sản xuất”

Như vậy trong các doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp KKĐK thì TK154 không phải là TK tập hợp chi phí sản xuất,tính giá thành sản phẩm mà chỉ dùng

để phản ánh giá tri sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ kết chuyển sang TK631 Cách hạch toán cụ thể được thể hiện trên sơ đồ sau:

Sơ đồ kế toán tập hợp CPSX toàn doanh nghiệp

(Theo phương pháp kiểm kê định kỳ)

TK 154

TK 152

Kết chuyển CPSX

Kết chuyển CPSX

TK 334

TK 338

Kết chuyển CPNC,các

Kết chuyển CPNL

Ghi giảm CPSX NVL trực tiếp

TK 631

Trang 32

I Tổng quan về nhà máy cơ khí Hồng Nam

1.Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy

Nhà máy cơ khí Hồng Nam là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lâp theo quyết định số 2445CL/CB ngày 04/11/1971 của Bộ cơ khí luyện kim nay là Bộ công nghiệp

Nhà máy cơ khí Hồng Nam là một doanh nghiệp trực thuộc công ty xây lắp và sản xuất công nghiệp chuyên sản xuất, lắp đặt và sửa chữa các thiết bị nâng vận chuyển (hay còn gọi là máy nâng hạ) phục vụ cho các ngành công nghiệp khác nhau như:

Nhóm máy trục: bao gồm các loại máy vận chuyển không liên tục như cầu trục, cổng trục các loại máy này được sử dụng nhiều trong ngành cơ khí luyện kim, hoá chất xây dựng và sử dụng cho cảng để bốc xếp hàng hoá, nguyên vật liệu và sản phẩm

Trang 33

Nhóm máy vận chuyển liên tục: như băng tải, gầu vít,vít tải, băng chuyền thường được sử dụng trong ngành khai thác khoáng,vật liệu xây dựng và các máy sản xuất dây chuyền (như dây chuyền lắp ráp ô tô,ti vi )

Thang máy: gồm các loại thang máy chở người, chở hàng, thang máy tốc độ cao, thang máy vận chuyển hầm mỏ phục vụ các đối tượng có nhu cầu khác nhau

Nhà máy cơ khí Hồng Nam là đơn vị đầu tiên của cả nước chuyên sản xuất máy nâng

hạ Trong suốt thời gian hoạt động của mình, nhà máy vẫn luôn là đơn vị dẫn đầu khối các doanh nghiệp sản xuất máy nâng hạ về sản lượng, chủng loại cũng như độ phức tạp của thiết bị

Trong những năm gần đây, nền kinh tế của cả nước nói chung và ngành công nghiệp nói riêng đã có tốc độ tăng trưởng khá Đứng trước tình hình phát triển chung của đất nước Nhà máy đã không ngừng nâng cao năng lực chế tạo và lắp đặt thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu ngày càng tăng của các ngành kinh tế

Cơ cấu tổ chức sản xuất của nhà máy là sự tập hợp các bộ phận sản xuất chính, sản xuất phụ trợ và các bộ phận phục vụ cho tính chất sản xuất với mối quan hệ giữa các bộ phận đó với nhau trong quá trình sản xuất

2.Chức năng nhiệm vụ của nhà máy cơ khí Hồng Nam

Nhà máy cơ khí Hồng Nam tiền thân là một xưởng sửa chữa toa xe lửa của Bộ Quốc phòng, sản phẩm truyền thống kể từ khi thành lập được Nhà nước giao nhiệm vụ chủ yếu chế tạo các thiết bị thuộc nhóm thiết bị nâng hạ ( cơ giới hoá công việc bốc xếp và vận chuyển hàng hoá phục vụ toàn bộ nền kinh tế quốc dân)

Địa chỉ cơ quan: Lĩnh Nam- Thanh Trì-Hà Nội

Số điện thoại:

3.Đặc điểm quy trình sản xuất công nghệ của đơn vị:

Đặc điểm của quá trình sản xuất máy nâng hạ chủ yếu là gia công cơ khí và lắp ráp

kế cấu Thiết bị nâng hạ 60%, thiết bị phi tiêu chuẩn và kêt cấu thép là 30% các sản phẩm có tính chất công nghiệp là 10%.Sau đây là sơ đồ công nghệ gia công chế tạo thiết

bị nâng và kết cấu thép:

Trang 34

Sơ đồ công nghệ gia công chế tạo thiết bị nâng và kết cấu thép

Toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất có thể được mô tả như sau:

Nguyên vật lệu và bán thành phẩm mua về được phân loại và nhập kho

Vật liệu thép trước tiên được đưa vào bộ phận tạo phôi,ở đây chúng được pha cát theo thiết kế

Phân xưởng cơ khí được trang bị mội số máy tiện, phay, bào, doa để sản xuất các chi tiết có yêu cầu công nghệ không cao , còn các chi tiết đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao thì được đạt hàng gia công tại cơ sở khác.Hoạt động của phân xưởng này chịu sự điều phối của kỹ sư chủ nhiệm công trình

Phân xưởng lắp ráp được chia làm 5 tổ chuyên môn hoá:

-Tổ 1: Chuyên lắp ráp cổng trục và cầu trục >20 tấn

-Tổ 2: Chuyên lắp ráp cầu trục < 20 tấn

Kho vật liệu

Kho bán thành phẩm và tiêu chuẩn mua ngoài

Kết cấu lắp

Kết cấu

Lắp ráp

và thí

Kết cấu

Trang 35

-Tổ 3: Chuyên lắp ráp băng tải và hành phi tiêu chuẩn

-Tổ 4 và 5: Chuyên sản xuất khung kho nhà xưởng

Toàn bộ công việc lắp ráp được thược hiện bằng các cầu trục lắp đặt trong nhà xưởng

Sản phẩm sau khi được lắp ráp được chuyển qua giai đoạn hoàn thiện bằng hệ thống đường goong, tại đây chúng được làm sạch bằng máy phun cát,kiểm tra mối hàn bằng máy siêu âm và sau đó đưa qua khu vực sơn trang trí

Sau khi hoàn thiện,thiết bị được tháo ra xếp lại để vận chuyển đi lắp đặt cho khách hàng

4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy cơ khí Hồng Nam:

sơ đồ tổ chức quản lý của nhà máy cơ khí HồngNam

Các tổ đội sản xuất lưu động

Văn phòng đội

Phòng

tổ chức

Phòng vật

Phân xưởng

Phân xưởng cơ

Phân xưởng cơ

Trang 36

Quan hệ hai chiều gián tiếp

Xuất phát từ nhiệm vụ và đặc điểm kinh doanh của Nhà máy, bộ maý quản lý của nhà máy được tổ chức theo mô hình trực tuyến, đứng đầu Nhà máy là Giám đốc Giám đốc chịu trách nhiệm cao nhất trước Nhà nước và Tổng công ty về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện chế độ chính sách với người lao động, giứp việc cho Giám đốc

là Phó giám đốc và Kế toán trưởng

Phó giám đốc là người cộng tác đắc lực của giám đốc chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước giám đốc về phần việc được phân công Còn kế toán trưởng giúp cho giám đốc tổ chức,chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán,thống kê, thông tin kinh tế ở nhà máy theo

cơ chế quản lý mới đồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát viên kinh tế tài chính nhà nước tại nhà máy

Với yêu cầu tổ chức bộ máy quản lý gọn,phù hợp với tổ chức sản xuất mới,nhà máy

Văn phòng đội trưởng: Có nhiệm vụ quản lý chấm công cho công nhân

Phòng tài chính kế toán:Có trách nhiệm lập kế hoạch tài chính trong năm ,lập sổ ghi chép phản ánh chính xác kịp thời thể hiện nghiêm túc thanh toán.Tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ cho các phòng ban, phân xưởng tổ chức kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách và thực hiện nhiệm vụ kế toán nội bộ,tổ chức phối hợp với các phòng ban khác, tổ chức quản lý bảo quản sổ sách và chứng từ kế toán

Phòng vật tư: có nhiệm vụ nghiên cứu nhu cầu thị trường và năng lực của Nhà máy, lập kế hoạch giá thành , lao động vật tư kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh, triển khai kế hoạch được duyệt, mở rộng quan hệ với các bộ phận để xác định công việc tính toán giá cả, lại hợp đồng, lập kế hoạch tác nghiệp, theo dõi tiến độ sản xuất, quản lý

Trang 37

kho cùng với kế toán phân tích hoạt động kinh tế, tổ chức hội nghị khách hàng cung cấp

số liệu cần thiết cho phòng nghiệp vụ khác

Căn cứ đặc điểm kinh tế, kế hoạch sản xuất, nhà máy cơ khí Hồng Nam tổ chức sản xuất thành 3 phân xưởng: phân xưởng lắp ráp, phân xưởng cơ điện, phân xưởng cơ khí bên cạnh nó có các tổ đội sản xuất lưu động,các phân xưởng, các tổ đội đều có bộ máy gọn nhẹ đủ khả năng quản lý sản xuất kinh doanh, cơ chế trả lương theo sản phẩm với

sự quản lý chung của các phòng nghiệp vụ Đứng đầu mỗi phân xưởng là quản đốc phân xưởng

Các phòng ban là các đơn vị có chuyên môn nghiệp vụ, có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho ban giám đốc trong việc điều hành và quản lý nhà máy Giúp ban giám đốc thực hiện tốt các chế độ quản lý kinh tế theo đúng chủ trương chính sách,pháp luật cuả Đảng và Nhà nước Các bộ phận của nhà máy đã thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ cho nhau giải quyết các vấn đề phát sinh kịp thời Các bộ phận luôn làm tròn trách nhiệm của mình, cùng nhau tạo ra hiệu quả tốt trong quá trình quản lý và sản xuất kinh doanh

5.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của nhà máy cơ khí Hồng Nam

Phòng kế toán là bộ phận tham mưu cho giám đốc quản lý các mặt kế toán tài chính

về sử dụng và khai thác nguồn vốn hiệu quả, tham mưu cho giám đốc về biện pháp thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và luôn chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn kịp thời cho sản xuất kinh doanh của nhà máy Hơn nữa phòng kế toán còn có chức năng quản lý kiểm tra toàn bộ công tác kế toán, quản lý chặt chẽ chế độ hạch toán và chế độ quản lý kinh tế tài chính trong toàn nhà máy Phòng kế toán có nhiệm vụ lập kế hoạch tài chính hàng năm, lập sổ sách ghi chép phản ánh kịp thời chủ độngthu vốn, vay vốn, sử dụng vốn hợp lý, tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ 6 tháng một lần Ngoài ra phòng kế toán cần chủ động phối hợp với phòng nghiệp vụ tổ chức hạch toán cần chủ động phối hợp với phòng nghiệp vụ hạch toán kinh tế phân tích hoạt động kinh tế hàng năm, quyết định sản xuất kinh doanh và kiểm kê tài sản hàng năm

Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ trên,đồng thời căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất,quản lý nên bộ máy kế toán của nhà máy được tổ chức theo hình thức tập trung Bộ máy kế toán nhà máy bao gồm nhiều phần hành kế toán có liên quan chặt chẽ với nhau

và thực hiện chức năng, nhiệm vụ dưới sự phân công của kế toán trưởng

Trang 38

Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 39

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

Nhiệm vụ cụ thể của từng phần hành kế toán:

-Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về toàn bộ hoạt động của phòng Thực hiện tổ chức bộ máy kế toán và kiểm tra toàn bộ công tác trong phạm vi nhà máy, hướng dẫn chỉ đạo và kiểm tra các bộ phận trong nhà máy thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu, chế độ hạch toán, chế độ quản lý tài chính Trực tiếp phụ trách hạch toán sản xuất kinh doanh toàn nhà máy lập báo cáo quyết toán quý,năm theo chế độ qui định, lập kế hoạch tín dụng kế hoạch ngân hàng tháng, quý, năm Ký toàn bộ các chứng từ giao dịch với ngân hàng,các chứng từ thu chi toàn nhà máy là thành viên của hội đồng giá, hội đồng nâng lương và hội đồng kiểm kê tài sản

-Kế toán thanh toán, giá thành tiêu thụ: theo dõi chi tiết các khoản tiền gửi, tiền vay ngân hàng, viết séc uỷ nhiệm chi thanh toán với ngân hàng, khách hàng mua bán hàng, ghi chép theo dõi nhật ký chứng từ số 2,4,5 bảng kê số 2,4 ghi chép tổng hợp số nhiên liệu, xuất thành phẩm hàng hoá gửi bán, tổng hợp hoá đơn tiêu thụ sản phẩm, xác định

lỗ lãi về tiêu thụ sản phẩm lên báo cáo cho khách hàng, tham gia kiểm kê thành phần hàng gửi bán

-Kế toán vật tư TSCĐ: ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất vật tư, xác định số lượng và giá trị vật tư, tiêu hao thực tế của công cụ, phân bố vật liệu, vật rẻ tiền mau hỏng cho các đối tượng sử dụng Kiểm tra việc chấp hành bảo quản, nhập xuất vật tư phụ tùng, phát hiện kịp thời những vật tư phụ tùng kém phẩm chất thừa thiếu, ghi chép theo dõi phản ánh tổng hợp về số lượng và TSCĐ hiện có, tình hình tăng, giảm TSCĐ (giá trị) tính và phân bổ khấu hao hàng tháng,lập hoá đơn thanh toán với khách hàng, tham gia kiểm kê vật tư tài sản theo định kỳ

Kế toán trưởng

Kế toán

thanh toán

giá thành

Kế toán hạch toán

Kế toán vật tư TSCĐ

Thủ quỹ

Trang 40

-Thủ quỹ: theo dõi tài sản công cụ văn phòng nhà máy hạch toán tiền lương, BHXH,BHYT,KPCĐ, lập báo cáo theo yêu cầu của cấp trên, lĩnh tiền mặt tại ngân hàng

về nhập quỹ, thu tiền mặt bán hàng đồng thời mở sổ theo dõi công văn và các văn bản khác

Tình hình tổ chức sổ kế toán:

Do đặc điểm sản xuất, trình độ quản lý và sự chuyên môn hoá trong lao động kế toán, nhà máy đã sử dụng hình thức “ Nhật ký chứng từ ” trong việc tổ chức hạch toán kế toán Theo hình thức này,hệ thống sổ nhà máy đã áp dụng theo hệ thống được ban hành theo quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính.Cũng trên 3 nguyên tắc: thống nhất, đặc thù và hiệu quả, nhà máy đã áp dụng theo hệ thống kế toán của Nhà nước quy định phù hợp với đặc điểm sản xuất và quy mô của doanh nghiệp

Hệ thống tài khoản của nhà máy cũng chính là hệ thống tài khoản được ban hành thống nhất của Bộ tài chính quy định áp dụng từ ngày 1/11/1996 Hệ thống tài khoản này là cơ sở lập bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh.Tuy nhiên do đặc điểm riêng của nhà máy nên tài khoản được mở theo yêu cầu quản lý và được quy định

cụ thể

Sơ đồ hạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ

Chứng từ gốc Bảng tổng hợp chứng từ gốc

Sổ kế toán chi

tiết

Các bảng kê

và các bảng phân bổ

Báo cáo quỹ hàng ngày

Bảng chi

tiết số phát sinh

Các nhật ký chứng từ

Sổ Cái

Bảng cân đối kế toán và các báo cáo

kế toán khác

Ngày đăng: 11/03/2014, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức nhật ký sổ cái - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Hình th ức nhật ký sổ cái (Trang 18)
Hình thức chứng từ ghi sổ - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Hình th ức chứng từ ghi sổ (Trang 20)
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT). - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT) (Trang 22)
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung (SXC) - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán chi phí sản xuất chung (SXC) (Trang 24)
Sơ đồ hạch toán chi phí trả trước ngắn hạn - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán chi phí trả trước ngắn hạn (Trang 25)
Sơ đồ hạch toán chi phí phải trả - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán chi phí phải trả (Trang 26)
Sơ đồ hạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức (Trang 27)
Sơ đồ hạch toán tổng hợp thiệt hại sản xuất ngoài kế hoạch - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán tổng hợp thiệt hại sản xuất ngoài kế hoạch (Trang 28)
Sơ đồ kế toán tập hợp CPSX toàn doanh nghiệp - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ k ế toán tập hợp CPSX toàn doanh nghiệp (Trang 31)
Sơ đồ công nghệ gia công chế tạo thiết bị nâng và kết cấu thép - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ c ông nghệ gia công chế tạo thiết bị nâng và kết cấu thép (Trang 34)
Sơ đồ tổ chức quản lý của nhà máy cơ khí HồngNam - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ t ổ chức quản lý của nhà máy cơ khí HồngNam (Trang 35)
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ t ổ chức bộ máy kế toán (Trang 39)
Sơ đồ hạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Sơ đồ h ạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ (Trang 40)
Bảng kê số 4 - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Bảng k ê số 4 (Trang 45)
Bảng phân bổ lương - hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí hồng nam
Bảng ph ân bổ lương (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w