MỤC LỤC A. DANH MỤC HÌNH 3 B. NỘI DUNG 3 I. CHỦ ĐỀ: 3 II. CÂU CHUYỆN: 3 III. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA 4 IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÌM KIẾM CÂU TRẢ LỜi 4 Câu 1: Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ? 4 Câu 2: Ảnh hưởng của bong bóng dotcom đến thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính thế giới ? 8 Câu 3: Mỹ đã làm gì để phục hồi nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính sau khi vỡ bong bóng dotcom? 10 Câu 4: Bài học nào cho thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam? 11 C. TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 A. DANH MỤC HÌNH Hình 1: Lãi suất cơ bản của Fed 7 Hình 2: Chỉ số NASDAQ giai đoạn 19952002 8 Hình 3: Tổng vốn đầu tư mạo hiểm của Mỹ giai đoạn 19952017 9 B. NỘI DUNG I. CHỦ ĐỀ: Chủ đề: Toàn cầu hoá, Tự do hóa tài chính. II. CÂU CHUYỆN: Bong bóng dotcom bắt đầu diễn ra từ sau năm 1990 cùng với sự phát triển của Internet và máy tính trở nên quan trọng hơn trong cuộc sống hằng ngày. Giá trị của thị trường chứng khoán về lĩnh vực công nghệ NASDAQ đã tăng từ 1.000 điểm vào năm 1995 lên hơn 5.000 điểm vào năm 2000. Ngày 981995, công ty Netscape tiến hành IPO và giá mỗi cổ phiếu của Netscape có lúc hơn 5 lần giá dự kiến. Trong suốt năm 1995, giá trị công ty này tăng gấp đôi sau mỗi quý. Thành công của Netscape chính là sự khởi đầu của bong bóng dotcom, kéo theo sự ra đời của hàng loạt công ty công nghệ, dịch vụ mạng và tạo ra niềm tin của các nhà đầu tư vào các công ty này. Các công ty công nghệ tham gia thị trường lần lượt IPO với giá rất cao và đôi khi giá tăng gấp hai chỉ sau ngày ra mắt đầu tiên. Nhưng mọi chuyện bắt đầu thay đổi vào tháng 3 năm 2000. Ngày 10 tháng 3 năm 2000, trị giá của thị trường chứng khoán NASDAQ là 6.710 tỷ USD và sự đổ vỡ bắt đầu từ ngày 11 tháng 3. Đến ngày 30 tháng 3 thì trị giá của NASDAQ chỉ còn 6.020 tỷ USD. Vào ngày 6 tháng 4 nó chỉ còn 5.780 tỷ USD. Chỉ chưa đầy một tháng, gần 1 nghìn tỷ USD của trị giá thị trường chứng khoán đã bị bốc hơi. Tại thời điểm cuối năm 2000, chỉ số NASDAQ đã giảm hơn một nửa còn 2471. Đến tháng 92002, chỉ số này tiếp tục sụt giảm còn 1173. Nói cách khác, 73% trị giá của cơn sốt dotcom đã bay hơi. Trong vòng 3 năm kể từ 2000 đến 2004: không đầy một nửa số công ty IT và Internet sống sót qua cuộc đại khủng hoảng. Tại Thung lũng Silicon, số người bị sa thải lên tới mức 200.000. Thành phố San Francisco, nơi từng là trung tâm công nghệ trong thời kỳ dotcom, bỗng chốc trở thành bãi hoang khi 30.000 người bỏ đi chỉ trong vòng vài tháng. Bong bóng này là sự khởi đầu cho một giai đoạn khủng hoảng kéo dài của nền kinh tế Mỹ gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống tài chính và nền kinh tế thế giới. III. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA 1. Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ? 2. Ảnh hưởng của bong bóng dotcom đến thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính thế giới ? 3. Mỹ đã làm gì để phục hồi nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính sau khi vỡ bong bóng dotcom? 4. Bài học nào cho thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam? IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÌM KIẾM CÂU TRẢ LỜI Câu 1: Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ? “Bong bóng sẽ xảy ra nếu giá cả vượt quá giá trị nền tảng của tài sản” Nguyên nhân của hiện tượng “Bong bóng dotcom” Sự bùng nổ của các công ty công nghệ Bong bóng dotcom được tạo ra do sự phổ biến của một phát minh mới, đó là Internet. Internet được mệnh danh là “mốt công nghệ của thập kỷ”, cho đến tận ngày nay, không ai có thể phủ nhận được lợi ích to lớn mà Internet mang lại cho nhân loại, nhưng ở thời điểm mà nó mới xuất hiện đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ phổ cập Internet đến tất cả mọi người. Điều này đánh dấu sự chuyển mình sang Thời đại Thông tin, một nền kinh tế dựa trên công nghệ thông tin, dẫn đến sự thành lập nhiều công ty mới. Tuy nhiên, vấn đề là họ đã không có kế hoạch kinh doanh thích hợp và tập trung tạo ra dòng tiền bằng cách nâng cấp giá trị cốt lõi của công ty. Với tư duy “ăn lãi về sau” , dòng vốn thu được từ IPO đã được các công ty đổ vào truyền thông để quảng bá hình ảnh khuếch đại hiệu ứng mạng lưới, xây dựng thị phần nhanh nhất có thể, sử dụng khẩu hiệu như get big fast và get large or get lost mặc dù hầu hết công ty dotcom có lỗ vận hành ròng. Tinh thần tăng trưởng trên lợi nhuận và ánh hào quang của nền kinh tế mới bất bại khiến một số công ty chi tiêu hoang phí cho cơ sở doanh nghiệp và kỳ nghỉ thượng lưu cho nhân viên. Khi ra đời một sản phẩm hay trang web mới, công ty thường sẽ tổ chức một bữa liên hoan đắt tiền, gọi là bữa tiệc dotcom. ⇨ Hiện tượng thông tin bất cân xứng trong các cuộc khủng hoảng thường làm lộ rõ ra các động cơ sai lệch của những người chơi quan trọng trên thị trường với vai trò là phải cung cấp thông tin trung thực và đưa ra những cảnh báo về bong bóng nhưng lại không thực hiện tốt chức năng của mình. Các nhà phân tích cổ phiếu giấu đi các đánh giá tiêu cực về các doanh nghiệp, các cơ quan xếp hạng tín nhiệm chần chừ trong việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm thấp cho trái phiếu, các công ty kiểm toán bỏ sót những lựa chọn gây tranh cãi. Sau sự sụp đổ của bong bóng dotcom, người ta phát hiện ra rằng các nhà phân tích thường đưa ra các khuyến nghị “mua mạnh” trong khi giữ quan điểm cá nhân là bi quan về doanh nghiệp. Sự đầu cơ của các nhà đầu tư Với nguồn vốn rẻ có được do lãi suất thấp, các nhà đầu tư mạo hiểm đã đổ rất nhiều tiền vào các công ty khởi nghiệp công nghệ và Internet. Sự kết hợp giữa giá cổ phiếu tăng nhanh chóng và niềm tin rằng các công ty sẽ sinh lời trong tương lai đã khiến nhiều nhà đầu tư bỏ qua những chỉ số truyền thống như tỉ số PE được tính bằng: Giá thị trường của cổ phiếu (Price)Thu nhập trên một cổ phiếu (EPS). Tỉ số PE càng cao càng thể hiện sự kỳ vọng tăng trưởng của nhà đầu tư vào cổ phiếu đó. Giữa năm 1995 và 2000, tỉ số PE đạt 200, vượt qua đỉnh là 80 của chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản thời bong bóng bất động sản Nhật Bản năm 1991 chứng tỏ sự lạc quan thái quá của nhà đầu tư vào các công ty dotcom trên thực tế lỗ vận hành ròng của các công ty. Tuy nhiên, liệu có phải tất cả các nhà đầu tư đều không nhận ra sự lạc quan của mình là thiếu căn cứ? Câu trả lời là không. Tất nhiên, với giả thiết các nhà đầu tư là những người duy lý, chắc hẳn trong số họ sẽ nhận ra điều bất thường, họ biết được rằng một ngày bong bóng sẽ vỡ, nhưng đây chính là cách họ kiếm lời trong khủng hoảng. Trường hợp này có thể ví như “cuộc đua tới đáy” của những người nắm giữ cổ phiếu xem ai sẽ là người cuối cùng chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sự thay đổi chính sách tiền tệ của FED: Trong quý cuối cùng của năm 1999, 3 con số đáng lo ngại được đưa ra: sản lượng thiết bị doanh nghiệp tăng 74%, chi phí xây dựng đã tăng 35% so với năm 1992 nhưng lượng hàng hóa tiêu thụ chỉ tăng 18%. Cục Dự trữ Liên bang bắt đầu nhận ra rằng nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng một cách quá nóng và vội vã tìm cách tăng lãi suất. Điều này đặt ra nguy cơ rằng các công ty Dotcom sẽ không thể trả nổi tiền lãi vay. Nhận lệnh từ FED, các ngân hàng bắt đầu siết chặt cho vay, và những khoản đã cho vay rồi thì phải tăng lãi suất lên. Các nhà đầu tư hiểu rằng thời đại tăng trưởng nóng đã chấm dứt và bắt đầu rút vốn khỏi các dotcom. Vốn giảm, nhu cầu IT cũng giảm sút khiến chi phí dành cho quảng cáo trực tuyến cũng giảm. Khi doanh thu của các công ty quảng cáo trực tuyến như Yahoo và các công ty hạ tầng như Oracle, Cisco, thị trường càng trở nên ảm đạm, nhà đầu tư càng sợ hãi, chỉ số NASDAQ càng giảm. Nhiều nhà đầu tư cùng bán cổ phiếu một lúc tạo ra làn sóng cùng bán, cùng chốt lời khiến thị trường chứng khoán chao đảo. Chỉ số NASDAQ giảm mạnh không ngừng và là lần giảm điểm lớn thứ 4 trong lịch sử của chỉ số này. Hình 1: Lãi suất cơ bản của Fed Nguồn: Investing.com Nguyên nhân sâu xa: chủ nghĩa tự do kinh tế mới đã thống trị trong cách vận hành kinh tế ở các quốc gia và các nền kinh tế lớn trên thế giới gần ba thập kỷ qua, bắt đầu từ thời tổng thống Ronald Wilson Reagan của Mỹ và thủ tướng M.Thatcher của Anh ( những năm 80 của thế kỷ XX) với khẩu hiệu “Nhà nước yếu và thị trường mạnh”. Chính sách này đã khuyến khích tối đa các hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế dưới sự điều tiết tự phát của quy luật kinh tế khách quan, các chính phủ gần như can thiệp rất ít vào nền kinh tế và thiếu sự kiểm soát các hoạt động của các định chế tài chính trên thị trường. Sự thất bại của chủ nghĩa tự do kinh tế đã được thể hiện qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực bắt đầu từ 271997 ở Thái Lan. Nhưng chính phủ các nước đã bỏ qua bài học khủng hoảng 1997 ở Thái Lan và vẫn làm ngơ theo đuổi chủ nghĩa tự do kinh tế khi các chính phủ buông lỏng sự kiểm tra, kiểm soát hoạt động cho vay của các định chế tài chính trên thị trường tài chính lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản,…Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các cuộc khủng hoảng kinh tế đều xuất phát từ chủ nghĩa tự do. Chủ nghĩa tự do kinh tế trong giai đoạn này chính là toàn cầu hóa thị trường tài chính. Năm 1999, dưới áp lực của các nhóm đặc quyền tài chính, Bill Clinton đã ký đạo luật mới (GrammleachBliey), khai tử đạo luật GlassSteagal (1933). Điều này cho phép các ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động đầu tư rất rủi ro (chủ yếu là trong lĩnh vực bất động sản), làm khởi đầu bong bóng nhà đất ngay từ năm 2000. Tuy nhiên, trong thực tế nền kinh tế không thể tự cân bằng dưới sự điều tiết của các quy luật kinh tế khách quan mà luôn mất cân bằng, thể hiện qua các cuộc khủng hoảng kinh tế. Câu 2: Ảnh hưởng của bong bóng dotcom đến thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính thế giới ? Đối với thị trường tài chính Mỹ: Sự kiện vỡ bong bóng dotcom năm 2001 cùng với ảnh hưởng từ vụ khủng bố ngày 119 đã khiến cho toàn bộ nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng suy thoái, bao gồm thị trường tài chính Mỹ. Sự phát nổ của bong bóng đánh dấu trào lưu bán tháo ồ ạt. Hàng loạt các công ty công nghệ cao phá sản, tiêu biểu là Netscape và 5000 tỷ USD bốc hơi trong toàn bộ giai đoạn đầu tư (19952001). Chỉ số tổng hợp NASDAQ sụt giảm 78%, từ 5046,86 xuống 1114,11. Hình 2: Chỉ số NASDAQ giai đoạn 19952002 Nguồn: MacroTrends Năm 1999, có 457 đợt IPO và hơn 25% tăng gấp đôi giá cổ phiếu. Nhưng trong vòng hai năm, vụ tai nạn dotcom khét tiếng đã xóa bỏ phần lớn tiến bộ đó. Số lượng IPO giảm mạnh xuống chỉ còn 76. Nhiều công ty hứa hẹn nhất đã nộp đơn xin phá sản bao gồm Pets.com, WorldCom và FreeInternet.com. Hình 3: Tổng vốn đầu tư mạo hiểm của Mỹ giai đoạn 19952017 Nguồn: Statista Trong thời kỳ đỉnh cao của bong bóng dotcom, các khoản đầu tư mạo hiểm là hơn 30 tỷ đô la hàng quý. Nó gấp hơn sáu lần số tiền đã được đầu tư trong hầu hết các năm trong những năm 1990. Sự cường điệu quá lớn đến nỗi vào năm 2015 khi các khoản đầu tư đạt đỉnh trở lại, những khoản này hầu như không vượt quá 20 tỷ đô la. Đối với thị trường tài chính thế giới: Bong bóng dotcom phát nổ không chỉ tác động đến thị trường Mỹ mà thị trường tài chính các quốc gia cũng bị ảnh hưởng. Ngày 1032000, chỉ số tổng hợp NASDAQ đạt mức cao nhất là 5.048,62, mức cao sẽ không đạt được nữa cho đến tháng 42015. Sau đó với tin tức Nhật Bản đã bước vào một cuộc suy thoái, các nhà đầu tư bắt đầu nhanh chóng chuyển tiền đầu tư của họ sang các công cụ tài chính khác. Một đợt bán tháo rộng rãi đã diễn ra trên toàn cầu, làm mất đi một lượng lớn các khoản đầu tư gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến NASDAQ và kết quả là nó đã bị mất điểm lớn thứ tư trong lịch sử. Có thể thấy tâm lý đối với cổ phiếu công nghệ đã bắt đầu thay đổi mạnh mẽ, nguyên nhân là do các nhà đầu tư nhận ra rằng hầu hết các công ty khởi nghiệp công nghệ không thể thu về lợi nhuận trong thời gian ngắn. Chỉ số tổng hợp NASDAQ đã mất 40% giá trị trong năm 2000. Đến tháng 72002, hầu hết các cổ phiếu Dotcom được giao dịch công khai đã phá sản và số vốn trị giá hàng nghìn tỷ đô la bị xóa sổ. Năm 2007, các chỉ số chứng khoán chủ chốt toàn cầu đã giảm 1225%, trong đó giảm mạnh nhất là TTCK Tokyo mất tới 23,6%. Tiếp theo là TTCK Paris, mất 20,7%. Chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones và SP 500, đều của Mỹ, để tuột 14,8% và 13,6%. Các mức giảm 12,2% và 12,1% thuộc về các TTCK London và Frankfurt . Sự hốt hoảng của các nhà đầu tư liên quan tới sức khoẻ của chứng khoán có bảo đảm bằng thế chấp có nhiều rủi ro của Mỹ đã đè nặng lên ngành tài chính. Các ngân hàng chủ chốt thế giới đều thông báo thua lỗ nặng và tổn thất tài sản, trong khi một số ngân hàng khác phải dựa vào bảo lãnh với chi phí hết sức tốn kém.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
*** BONG BÓNG DOT-COM – SỰ TRỖI DẬY VÀ SỤP ĐỔ CỦA INTERNET STOCK NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC
ĐỘNG TOÀN CẦU
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1: Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ? 4 Câu 2: Ảnh hưởng của bong bóng dot-com đến thị trường tài chính Mỹ và thị
Câu 3: Mỹ đã làm gì để phục hồi nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính sau khi
Câu 4: Bài học nào cho thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam? 11
Trang 3A DANH MỤC HÌNH
Hình 3: Tổng vốn đầu tư mạo hiểm của Mỹ giai đoạn 1995-2017 9
B NỘI DUNG
Chủ đề: Toàn cầu hoá, Tự do hóa tài chính
II CÂU CHUYỆN:
Bong bóng dotcom bắt đầu diễn ra từ sau năm 1990 cùng với sự phát triển của Internet
và máy tính trở nên quan trọng hơn trong cuộc sống hằng ngày Giá trị của thị trường chứng khoán về lĩnh vực công nghệ NASDAQ đã tăng từ 1.000 điểm vào năm 1995 lên hơn 5.000 điểm vào năm 2000 Ngày 9/8/1995, công ty Netscape tiến hành IPO và giá mỗi cổ phiếu của Netscape có lúc hơn 5 lần giá dự kiến Trong suốt năm 1995, giá trị công ty này tăng gấp đôi sau mỗi quý Thành công của Netscape chính là sự khởi đầu của bong bóng dotcom, kéo theo sự ra đời của hàng loạt công ty công nghệ, dịch vụ mạng và tạo ra niềm tin của các nhà đầu tư vào các công ty này Các công ty công nghệ tham gia thị trường lần lượt IPO với giá rất cao và đôi khi giá tăng gấp hai chỉ sau ngày
ra mắt đầu tiên Nhưng mọi chuyện bắt đầu thay đổi vào tháng 3 năm 2000 Ngày 10 tháng 3 năm 2000, trị giá của thị trường chứng khoán NASDAQ là 6.710 tỷ USD và sự
đổ vỡ bắt đầu từ ngày 11 tháng 3 Đến ngày 30 tháng 3 thì trị giá của NASDAQ chỉ còn 6.020 tỷ USD Vào ngày 6 tháng 4 nó chỉ còn 5.780 tỷ USD Chỉ chưa đầy một tháng, gần 1 nghìn tỷ USD của trị giá thị trường chứng khoán đã bị bốc hơi Tại thời điểm cuối năm 2000, chỉ số NASDAQ đã giảm hơn một nửa còn 2471 Đến tháng 9/2002, chỉ số này tiếp tục sụt giảm còn 1173 Nói cách khác, 73% trị giá của cơn sốt dot-com đã bay hơi Trong vòng 3 năm kể từ 2000 đến 2004: không đầy một nửa số công ty IT và Internet sống sót qua cuộc đại khủng hoảng Tại Thung lũng Silicon, số người bị sa thải lên tới mức 200.000 Thành phố San Francisco, nơi từng là trung tâm công nghệ trong
Trang 4thời kỳ dot-com, bỗng chốc trở thành bãi hoang khi 30.000 người bỏ đi chỉ trong vòng vài tháng Bong bóng này là sự khởi đầu cho một giai đoạn khủng hoảng kéo dài của nền kinh tế Mỹ gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống tài chính và nền kinh tế thế giới
III CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA
1 Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ?
2 Ảnh hưởng của bong bóng dot-com đến thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính thế giới ?
3 Mỹ đã làm gì để phục hồi nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính sau khi vỡ bong bóng dot-com?
4 Bài học nào cho thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam?
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÌM KIẾM CÂU TRẢ LỜI
Câu 1: Nguyên nhân sâu xa của bong bóng dotcom là gì? Với giả định những nhà đầu tư đều là những người duy lý, tại sao họ lại không nhận ra được sự “lạc quan” quá mức vào sự phát triển của những công ty công nghệ lúc bấy giờ?
“Bong bóng sẽ xảy ra nếu giá cả vượt quá giá trị nền tảng của tài sản”
Nguyên nhân của hiện tượng “Bong bóng dotcom”
- Sự bùng nổ của các công ty công nghệ
Bong bóng dotcom được tạo ra do sự phổ biến của một phát minh mới, đó là Internet Internet được mệnh danh là “mốt công nghệ của thập kỷ”, cho đến tận ngày nay, không
ai có thể phủ nhận được lợi ích to lớn mà Internet mang lại cho nhân loại, nhưng ở thời điểm mà nó mới xuất hiện đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ phổ cập Internet đến tất cả mọi người Điều này đánh dấu sự chuyển mình sang Thời đại Thông tin, một nền kinh
Trang 5tế dựa trên công nghệ thông tin, dẫn đến sự thành lập nhiều công ty mới Tuy nhiên,
vấn đề là họ đã không có kế hoạch kinh doanh thích hợp và tập trung tạo ra dòng tiền bằng cách nâng cấp giá trị cốt lõi của công ty Với tư duy “ăn lãi về sau” , dòng
vốn thu được từ IPO đã được các công ty đổ vào truyền thông để quảng bá hình ảnh khuếch đại hiệu ứng mạng lưới, xây dựng thị phần nhanh nhất có thể, sử dụng khẩu
hiệu như "get big fast" và "get large or get lost mặc dù hầu hết công ty dot-com có lỗ
vận hành ròng Tinh thần "tăng trưởng trên lợi nhuận" và ánh hào quang của "nền kinh
tế mới" bất bại khiến một số công ty chi tiêu hoang phí cho cơ sở doanh nghiệp và kỳ nghỉ thượng lưu cho nhân viên Khi ra đời một sản phẩm hay trang web mới, công ty thường sẽ tổ chức một bữa liên hoan đắt tiền, gọi là bữa tiệc dot-com
⇨ Hiện tượng thông tin bất cân xứng trong các cuộc khủng hoảng thường làm lộ rõ ra
các động cơ sai lệch của những người chơi quan trọng trên thị trường với vai trò là phải cung cấp thông tin trung thực và đưa ra những cảnh báo về bong bóng nhưng lại không thực hiện tốt chức năng của mình Các nhà phân tích cổ phiếu giấu đi các đánh giá tiêu cực về các doanh nghiệp, các cơ quan xếp hạng tín nhiệm chần chừ trong việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm thấp cho trái phiếu, các công ty kiểm toán bỏ sót những lựa chọn gây tranh cãi Sau sự sụp đổ của bong bóng dot-com, người ta phát hiện ra rằng các nhà phân tích thường đưa ra các khuyến nghị “mua mạnh” trong khi giữ quan điểm cá nhân
là bi quan về doanh nghiệp
- Sự đầu cơ của các nhà đầu tư
Với nguồn vốn rẻ có được do lãi suất thấp, các nhà đầu tư mạo hiểm đã đổ rất nhiều tiền vào các công ty khởi nghiệp công nghệ và Internet Sự kết hợp giữa giá cổ phiếu tăng nhanh chóng và niềm tin rằng các công ty sẽ sinh lời trong tương lai đã khiến nhiều nhà
đầu tư bỏ qua những chỉ số truyền thống như tỉ số P/E được tính bằng: Giá thị trường
của cổ phiếu (Price)/Thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) Tỉ số P/E càng cao càng thể
hiện sự kỳ vọng tăng trưởng của nhà đầu tư vào cổ phiếu đó Giữa năm 1995 và 2000, tỉ
số P/E đạt 200, vượt qua đỉnh là 80 của chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản thời bong bóng bất động sản Nhật Bản năm 1991 chứng tỏ sự lạc quan thái quá của nhà đầu tư
vào các công ty dot-com trên thực tế lỗ vận hành ròng của các công ty
Trang 6Tuy nhiên, liệu có phải tất cả các nhà đầu tư đều không nhận ra sự lạc quan của mình là thiếu căn cứ?
Câu trả lời là không Tất nhiên, với giả thiết các nhà đầu tư là những người duy lý,
chắc hẳn trong số họ sẽ nhận ra điều bất thường, họ biết được rằng một ngày bong bóng sẽ vỡ, nhưng đây chính là cách họ kiếm lời trong khủng hoảng Trường hợp này
có thể ví như “cuộc đua tới đáy” của những người nắm giữ cổ phiếu xem ai sẽ là người
cuối cùng chịu thiệt hại nặng nề nhất
- Sự thay đổi chính sách tiền tệ của FED:
Trong quý cuối cùng của năm 1999, 3 con số đáng lo ngại được đưa ra: sản lượng thiết bị doanh nghiệp tăng 74%, chi phí xây dựng đã tăng 35% so với năm 1992 nhưng lượng hàng hóa tiêu thụ chỉ tăng 18% Cục Dự trữ Liên bang bắt đầu nhận ra rằng nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng một cách quá "nóng" và vội vã tìm cách tăng lãi suất Điều này đặt ra nguy cơ rằng các công ty Dot-com sẽ không thể trả nổi tiền lãi vay
Nhận lệnh từ FED, các ngân hàng bắt đầu siết chặt cho vay, và những khoản đã cho vay rồi thì phải tăng lãi suất lên Các nhà đầu tư hiểu rằng thời đại tăng trưởng nóng đã chấm dứt và bắt đầu rút vốn khỏi các dot-com Vốn giảm, nhu cầu IT cũng giảm sút khiến chi phí dành cho quảng cáo trực tuyến cũng giảm Khi doanh thu của các công ty quảng cáo trực tuyến như Yahoo và các công ty hạ tầng như Oracle, Cisco, thị trường càng trở nên ảm đạm, nhà đầu tư càng sợ hãi, chỉ số NASDAQ càng giảm Nhiều nhà đầu tư cùng bán cổ phiếu một lúc tạo ra làn sóng cùng bán, cùng chốt lời khiến thị trường chứng khoán chao đảo Chỉ số NASDAQ giảm mạnh không ngừng và là lần giảm điểm lớn thứ 4 trong lịch sử của chỉ số này
Trang 7Hình 1: Lãi suất cơ bản của Fed
Nguồn: Investing.com
- Nguyên nhân sâu xa: chủ nghĩa tự do kinh tế mới đã thống trị trong cách vận
hành kinh tế ở các quốc gia và các nền kinh tế lớn trên thế giới gần ba thập kỷ qua, bắt đầu từ thời tổng thống Ronald Wilson Reagan của Mỹ và thủ tướng M.Thatcher của Anh ( những năm 80 của thế kỷ XX) với khẩu hiệu “Nhà nước yếu và thị trường mạnh” Chính sách này đã khuyến khích tối đa các hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế dưới sự điều tiết tự phát của quy luật kinh tế khách quan, các chính phủ gần như can thiệp rất ít vào nền kinh tế và thiếu sự kiểm soát các hoạt động của các định chế tài chính trên thị trường Sự thất bại của chủ nghĩa tự do kinh tế đã được thể hiện qua cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực bắt đầu từ 2/7/1997 ở Thái Lan Nhưng chính phủ các nước đã bỏ qua bài học khủng hoảng 1997 ở Thái Lan và vẫn làm ngơ theo đuổi chủ nghĩa tự do kinh tế khi các chính phủ buông lỏng sự kiểm tra, kiểm soát hoạt động cho vay của các định chế tài chính trên thị trường tài chính lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản,…Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các cuộc khủng hoảng kinh tế đều xuất
phát từ chủ nghĩa tự do Chủ nghĩa tự do kinh tế trong giai đoạn này chính là toàn cầu hóa thị trường tài chính Năm 1999, dưới áp lực của các nhóm đặc quyền tài chính,
Bill Clinton đã ký đạo luật mới (Gramm-leach-Bliey), khai tử đạo luật Glass-Steagal
Trang 8(1933) Điều này cho phép các ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động đầu
tư rất rủi ro (chủ yếu là trong lĩnh vực bất động sản), làm khởi đầu bong bóng nhà đất ngay từ năm 2000 Tuy nhiên, trong thực tế nền kinh tế không thể tự cân bằng dưới sự điều tiết của các quy luật kinh tế khách quan mà luôn mất cân bằng, thể hiện qua các cuộc khủng hoảng kinh tế
Câu 2: Ảnh hưởng của bong bóng dot-com đến thị trường tài chính Mỹ và thị trường tài chính thế giới ?
- Đối với thị trường tài chính Mỹ:
Sự kiện vỡ bong bóng dot-com năm 2001 cùng với ảnh hưởng từ vụ khủng bố ngày 11/9 đã khiến cho toàn bộ nền kinh tế Mỹ lâm vào tình trạng suy thoái, bao gồm thị
trường tài chính Mỹ Sự phát nổ của bong bóng đánh dấu trào lưu bán tháo ồ ạt.
Hàng loạt các công ty công nghệ cao phá sản, tiêu biểu là Netscape và 5000 tỷ USD bốc
hơi trong toàn bộ giai đoạn đầu tư (1995-2001) Chỉ số tổng hợp NASDAQ sụt giảm
78%, từ 5046,86 xuống 1114,11
Hình 2: Chỉ số NASDAQ giai đoạn 1995-2002
Nguồn: MacroTrends
Trang 9Năm 1999, có 457 đợt IPO và hơn 25% tăng gấp đôi giá cổ phiếu Nhưng trong vòng hai năm, vụ tai nạn dot-com khét tiếng đã xóa bỏ phần lớn tiến bộ đó Số lượng IPO giảm mạnh xuống chỉ còn 76 Nhiều công ty hứa hẹn nhất đã nộp đơn xin phá sản bao gồm Pets.com, WorldCom và FreeInternet.com
Hình 3: Tổng vốn đầu tư mạo hiểm của Mỹ giai đoạn 1995-2017
Nguồn: Statista
Trong thời kỳ đỉnh cao của bong bóng dotcom, các khoản đầu tư mạo hiểm là hơn 30 tỷ
đô la hàng quý Nó gấp hơn sáu lần số tiền đã được đầu tư trong hầu hết các năm trong những năm 1990 Sự cường điệu quá lớn đến nỗi vào năm 2015 khi các khoản đầu tư đạt đỉnh trở lại, những khoản này hầu như không vượt quá 20 tỷ đô la
- Đối với thị trường tài chính thế giới:
Bong bóng dot-com phát nổ không chỉ tác động đến thị trường Mỹ mà thị trường tài
chính các quốc gia cũng bị ảnh hưởng Ngày 10/3/2000, chỉ số tổng hợp NASDAQ đạt
mức cao nhất là 5.048,62, mức cao sẽ không đạt được nữa cho đến tháng 4/2015 Sau
đó với tin tức Nhật Bản đã bước vào một cuộc suy thoái, các nhà đầu tư bắt đầu nhanh chóng chuyển tiền đầu tư của họ sang các công cụ tài chính khác Một đợt bán tháo rộng rãi đã diễn ra trên toàn cầu, làm mất đi một lượng lớn các khoản đầu tư gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến NASDAQ và kết quả là nó đã bị mất điểm lớn thứ tư trong lịch sử Có thể thấy tâm lý đối với cổ phiếu công nghệ đã bắt đầu thay đổi mạnh
mẽ, nguyên nhân là do các nhà đầu tư nhận ra rằng hầu hết các công ty khởi nghiệp
công nghệ không thể thu về lợi nhuận trong thời gian ngắn Chỉ số tổng hợp NASDAQ
đã mất 40% giá trị trong năm 2000 Đến tháng 7/2002, hầu hết các cổ phiếu
Trang 10Dotcom được giao dịch công khai đã phá sản và số vốn trị giá hàng nghìn tỷ đô la
bị xóa sổ
Năm 2007, các chỉ số chứng khoán chủ chốt toàn cầu đã giảm 12-25%, trong đó
giảm mạnh nhất là TTCK Tokyo mất tới 23,6% Tiếp theo là TTCK Paris, mất
20,7% Chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones và S&P 500, đều của Mỹ, để tuột 14,8% và 13,6% Các mức giảm 12,2% và 12,1% thuộc về các TTCK London và Frankfurt
Sự hốt hoảng của các nhà đầu tư liên quan tới "sức khoẻ" của chứng khoán có bảo đảm
bằng thế chấp có nhiều rủi ro của Mỹ đã đè nặng lên ngành tài chính Các ngân hàng
chủ chốt thế giới đều thông báo thua lỗ nặng và tổn thất tài sản, trong khi một số ngân hàng khác phải dựa vào bảo lãnh với chi phí hết sức tốn kém.
Câu 3: Mỹ đã làm gì để phục hồi nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính sau khi vỡ bong bóng dot-com?
- Năm 2000, sau khi vỡ bong bóng chứng khoán, Fed hạ thấp lãi suất cơ bản nhằm được mục tiêu kép:
(i) Kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước
(ii) Làm giảm giá trị của đồng USD so với các đồng ngoại tệ mạnh khác, nhằm kích thích xuất khẩu, cho phép giảm thâm hụt ngoại thương và kiềm chế nợ nước ngoài
Về dài hạn, sự kích thích đầu tư, đẩy mạnh tiến bộ công nghệ và tăng năng suất lao động sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh quốc tế và sức mạnh của đồng USD Mỹ Điều đó dẫn đến kỳ vọng về một sự thịnh vượng dài hạn của đất nước và người dân Mỹ
- “Hiệu ứng phụ” của việc giảm lãi suất cơ bản của Fed là giảm lãi suất vay, do đó, làm tăng tổng số cho vay đầu tư vào bất động sản (mortgages) Điều này được thúc đẩy bởi niềm tin của người dân vào sự giàu có ngày càng tăng của Mỹ; vào dân số tiếp tục tăng;
và giới hạn của đất đai; nên giá bất động sản sẽ chỉ có tăng Nói một cách khác, bong bóng bất động sản bắt đầu hình thành, mở đầu cho cuộc đại khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Trang 11Bài học từ khủng hoảng kinh tế ở Mỹ cho thấy, kích cầu tự bản thân nó không phải là giải pháp cho phép nền kinh tế vượt nhanh ra khỏi khủng hoảng; mà ngược lại, có thể là hiểm họa tiềm ẩn gây nên lạm phát và suy thoái, nếu thể chế tài chính có những khiếm khuyết, khiến cho dòng vốn kích cầu bị lái trệch khỏi mục tiêu ban đầu, hoặc bị sử dụng quá kém hiệu quả Ở kịch bản xấu nhất, dòng vốn kích cầu có thể bị lái vào đầu cơ bong bóng chứng khoán hoặc bất động sản, vì bản chất của nó vẫn chỉ là chính sách nới lỏng tiền tệ, dựa trên việc hạ thấp lãi suất như Mỹ đã làm Điều này có thể là một nguy cơ dễ xảy ra, bởi rủi ro lựa chọn tồi và hiểm họa do sự vô trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, và cũng bởi chính hành vi trục lợi có thể xảy ra ở ngay tại các tổ chức tài chính, do thiếu sự giám sát chặt chẽ Chúng ta cần tách biệt rõ giữa ý nguyện đúng đắn của chính sách kích cầu với khiếm khuyết hay rủi ro có thể xảy ra của hệ thống tài chính mà ngay
cả Mỹ cũng có vấn đề
Do đó, mãi đến năm 2008 sau khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nổ ra với thị trường bất động sản, chính phủ Mỹ mới thực hiện những biện pháp cứu trợ, điều tiết nền kinh tế có hiệu quả
Câu 4: Bài học nào cho thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam?
Bài học cho nhà đầu tư:
Bài học thứ nhất là bài học về giá trị của công nghệ
Dot-com là một thời đại quá đặc biệt trong cả lịch sử nước Mỹ Nỗi sợ hãi và tò mò dành cho Internet cũng như sự cố Y2K đến gần đưa nhu cầu đầu tư vào hạ tầng IT tăng cao đột biến, cùng lúc các đột phá của Netscape và Internet Explorer cũng như định luật Moore giúp Internet trở thành sân chơi "mở" của hàng triệu người Những ấn tượng mơ
hồ về Internet thời đại mở cửa khiến cho hàng loạt startup ra đời với những mô hình hoạt động hoàn toàn xa rời thực tế, các nhà đầu tư mờ mắt chạy theo các IPO có giá trị
"ảo" mà không nhận ra rằng nguồn vốn, nguồn lực con người là cực kỳ giới hạn
Con người ta từ trước đến nay vẫn luôn lúng túng trước bài toán xác định giá trị cho các đột phá công nghệ mới Đã hơn 20 năm sau bong bóng dot-com, vẫn còn nhiều điều chúng ta vẫn mù mờ về giá trị của các công nghệ tân tiến, là IoT, Blockchain, Crypto, AI Thị trường tài chính công nghệ của chúng ta ngày nay dường như vẫn được xây