1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp bằng mô hình kinh tế lượng

26 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 738,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp không những cung cấp hầuhết các công cụ, tư liệu sản xuất xây dựng cơ sở vật chất cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị góp phần phát t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH

- -TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:

Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp bằng

mô hình kinh tế lượng

Giáo viên hướng dẫn : TS TRÂN THỊ PHUONG

Sinh viên thực hiện : TRẦN NAM PHONG

Mã sinh viên : CQ530041

1

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Công nghiệp là ngành sản xuất ra khối lượng của cải vất chất rất lớn cho xã hội, cóvai trò chủ đạo trong nền kinh tế Quốc Dân Công nghiệp không những cung cấp hầuhết các công cụ, tư liệu sản xuất xây dựng cơ sở vật chất cho tất cả các ngành kinh tế

mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị góp phần phát triển nền Kinh tế vànâng cao trình độ văn minh của Xã hội Vì vậy tăng trưởng công nghiệp có tác dụngthúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như: Nông nghiệp, Thương mại,Giao thông vận tải, Dịch vụ, Quốc phòng…Do công nghiệp có vai trò quan trọng nhưvậy nên khi đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia tiêu chuẩn đầu tiênphải đề cập đến là tỷ trọng của ngành công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng của toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

Ngày nay, một nước muốn có trình độ kinh tế cao, nhất thiết phải có một hệthống các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng trong đó các nghành mũi nhọn phảiđược chú ý thích đáng Do vậy chỉ có tăng trưởng công nghiệp mới giúp các quốc giađang phát triển xây dựng nền công nghiệp bền vững và xoá bớt khoảng cách với cácnước phát triển kể cả về mặt Kinh tế lẫn văn minh Xã hội Nhận thức rõ điều này Đảng

và Nhà Nước ta từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) đã có chủ trương đổi mớinền công nghiệp từ tập trung phát triển công nghiệp nặng sang phát triển đồng bộ cácngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và hàng tiêu dùng Chính từ chủtrương đổi mới đó sau gần 20 năm Công nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu đáng

kể, tăng trưởng công nghiệp này càng cao và ổn định, các sản phẩm công nghiệp đápứng được nhu cầu trong nước và còn xuất khẩu cạnh tranh với các sản phẩm của nướcngoài Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công nghiệp Việt Nam cònmột số điểm kém phát triển như lao động trong ngành công nghiệp có trình độ chưacao, sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh chưa cao…Với những thành tựu cũngnhư thực trạng này chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp để nước

ta trở thành một nước công nghiệp trong thời gian sắp tới

Để có được sự tăng trưởng trong công nghiệp như vậy thì cần phải xét tớinhững yếu tố đã tác động tới sự phát triển đó Bằng việc sử dụng mô hình trong kinh tếlượng phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng công nghiệp là việc xem xét mốiquan hệ giữa các biến số và nắm được nhân tố nào quan trọng nhất trong các nhân tố có

Trang 3

ảnh hưởng tới biến phụ thuộc trong mô hình Phân tích số liệu, tìm hiểu, nghiên cứucác vấn đề trên sẽ có ý nghĩa trong việc phân tích đánh giá đầy đủ hơn về tăng trưởngcông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Từ đó xây dựng mô hình tăng trưởng phùhợp với điều kiện hiện nay của đất nước.

Do những yếu tố nêu trên, nhóm đã chọn đề tài “ Phân tích các nhân tố cơ

bản ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp bằng mô hình kinh tế lượng.”

Trang 5

CHƯƠNG I THỰC TRẠNG VỀ NỀN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

1.Khái niệm và phân loại ngành công nghiệp của Việt Nam hiện nay:

1.1 Khái niệm ngành công nghiệp:

Ngành công nghiệp bao gồm các hoạt động kinh tế khai thác tài nguyên khoángsản sẵn có trong thiên nhiên chưa có tác động của bàn tay con người (trừ tài nguyênrừng và thuỷ hải sản) và các hoạt động chế biến những sản phẩm của ngành Nông lâmnghiệp, Thuỷ sản và Công nghiệp thành các sản phẩm có giá trị sử dụng mới so với giátrị sửa dụng của sản phẩm ban đầu đưa vào chế biến

1.2 Phân loại ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay:

(1) Công nghiệp khai thác mỏ gồm:

- Khai thác than

- Khai thác dầu thô và khí tự nhiên

- Khai thác quặng, kim loại

- Khai thác đá, cát sỏi và các mỏ khác

(2) Công nghiệp chế biến gồm:

- Sản xuất thực phẩm đồ uống

- Sản xuất thuốc lá, thuốc lào

- Dệt, may, thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da

- Chế biến gỗ và lâm sản

- Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy

- Xuất bản, in và sao bản ghi các loại

Trang 6

- Sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế và nhiên liệu hạt nhân.

- Sản xuất hoá chất và các sản phẩm hoá chất

- Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic

- Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại

- Sản xuất kim loại

- Sản xuất các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc, thiết bị)

- Sản xuất máy móc, thiết bị văn phòng, máy tính

- Sản xuất radio, ti vi và thiết bị truyền thông

- Sản xuất dụng cụ y tế, thiết bị chính xác (cân đo)

- Sản xuất xe có động cơ

- Sản xuất các loại phương tiện khác

- Sản xuất giường tủ, bàn ghế và các sản phẩm khác chưa được phân vào đâu

- Tái chế phế liệu, phế phẩm

(3) Sản xuất tập trung và phân phối điện, ga, nước sạch và nước nóng gồm:

- Sản xuất, tập trung và phân phối điện, ga

- Sản xuất và phân phối nước sạch, nước nóng

2 Thực trạng nền công nghiệp Việt Nam:

Nền công nghiệp Việt Nam hình thành khá muộn so với nền công nghiệp ThếGiới, mãi đến năm 1945 khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời thì nó mới thực sựtrở thành ngành độc lập Xuất phát điểm công nghiệp thấp không chỉ về mặt kỹ thuật,công nghệ mà còn cả về khả năng ứng dụng và môi trương kinh tế để có thể phát triển.Thêm vào đó là những chủ trương, chính sách sai lầm sau ngày giải phóng Tất cảnhững điều kiện trên đã tạo thành bức rào cản kiên cố ngăn không cho kinh tế ViệtNam nói chung và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng phát triển như các nước

Trang 7

trong khu vực, hoà cùng nhịp đi lên của thế giới Việt Nam trong điều kiện ấy thứcự đã

bị tụt hậu quá xa nhưng lại chỉ chậm chạp, năng nề lê từng bước để đuổi theo sự pháttriển với tốc độ chóng mặt của nền kinh tế Thế Giới

Ngay từ những năm đầu tiên của nền kinh tế non trẻ nước ta, công nghiệp đónggóp một phần rất lớn trong các chỉ tiêu kinh tế Đến năm 1986, tỷ trọng công nghiệptrên giá trị tổng sản lượng công-nông nghiệp là 53,5%, chiếm 42,8% trong tổng sảnphẩm xã hội, 28,6% thu nhập quốc dân, vốn đầu tư cho công nghiệp chiếm 43,9% vốnđầu tư phát triển Các tỷ lệ này được tăng dần trong các năm 1987,1988 nhưng đếnnăm1989 cùng với sự giảm sụt về giá trị sản lượng công nghiệp, tỷ trọng công nghiệptrong các chỉ tiêu kinh tế đều giảm xuống còn mức gần bằng năm 1986

Do tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo hướngtích cực, chất lượng sản phẩm có nhiều tiến bộ nên vai trò của công nghiệp trong dịchchuyển cơ cấu kinh tế quốc dân trong 4 năm đầu thế kỷ XXI đã thể hiện khá rõ nét Tỷtrọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm2001; 38,49% năm 2002; 39,95% năm 2003; 40,09% năm 2004 và 41,02% năm 2005.Nhìn chung, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển đầu tư vào công nghiệp thường cao hơn tỷtrọng công nghiệp trong GDP Điều này cũng dễ hiểu vì công nghiệp luôn đòi hỏi phảiđầu tư lớn về cơ sở hạ tầng: nhà xưởng, máy móc, thiết bị Nếu tỷ trọng trung bìnhcủa công nghiệp trong GDP giai đoạn 1990-1995 là 21,36%; 1996-2000 là 27,17% thìvốn đầu tư phát triển cho công nghiệp chiếm 42,92% trong nửa đầu thập niên 90 vàgiảm xuống 32,72% trong nửa cuối

So với công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khíđốt thì tỷ trọng của công nghiệp chế biến trong GDP, vốn đầu tư phát triển đều cao hơn

cả Như năm 2000 GDP ngành công nghiệp chế biến chiếm 18,6% GDP, đến năm 2003chiếm tới 20,45% GDP của toàn bộ nền kinh tế

Năm 1995, vốn đầu tư phát triển dành cho công nghiệp 31,2% thì có 17% là chocông nghiệp chế biến, 9,2% công nghiệp điện, nước, khí đốt và chie có 5% cho côngnghiệp khai thác Đến năm 2000, với tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp là 33,8% vốn đầu tưphát triển thì tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp chế biến đạt 20,1%, công nghiệp sản xuất vàphân phối điện, nước, khí đốt là 11,7%, công nghiệp khai thác mỏ chỉ chiếm 2,6% Đâycũng là xu hướng chung về tăng vốn đầu tư cho công nghiệp chế biến và giảm dần cho

Trang 8

công nghiệp khai thác mỏ giai đoạn 2000-2003 Vẫn biết rằng các ngành như điện, khaikhoáng là những ngành đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến hành CNH, HĐHnên cần tập trung đầu tư nhưng bản thân các ngành phải cố gắng nhiều hơn nữa đểnâng cao hiệu suất sử dụng vốn và chính phủ cần có những biện pháp để sớm khắcphục tình trạng sử dụng vốn bừa bãi thì mới có thể đẩy nhanh quá trình CNH đất nước.Trong những năm qua do mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, văn hoá và khoa học

kỹ thuật với các nước trên thế giới, trong đó có những nước công nghiệp phát triển vàcông nghiệp mới (NIC) chúng ta đã đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu theo chiều sâutheo công nghệ Trước đây trình độ công nghệ, trang thiết bị trong ngành công nghiệphết sức lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Quá trình đổimới với sự nỗ lực tập trung đầu tư, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đạivào sản xuất mà trực tiếp đổi mới máy móc thiết bị kỹ thuật phù hợp đã tạo một bướctiến mới, nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp, tạo năng suấtlao động cao, chất lượng sản phẩm được cải tiến là cơ sở để mở rộng thị trường hànghóa công nghiệp Việt Nam cả trong nước và nước ngoài Ở một số ngành công nghiệp

đã có sự chuyển biến theo hướng tiếp cận công nghiệp tiên tiến, hiện đại, hình thànhmột cơ cấu công nghiệp đa dạng về xuất xứ và trình độ, đan xen trong từng doanhnghiệp, từng ngành sản xuất công nghiệp

Thấy được tầm quan trọng của công nghệ hiện đại nên những năm vừa qua vốnđầu tư cho ngành công nghiệp ngày càng tăng để các ngành công nghiệp nhanh chóngtiếp cận với công nghệ hiện đại trên thế giới Vốn đầu tư trong năm 1986 mới chỉ là 15

tỷ đồng thì cho đến năm 1990 vốn đầu tư đã là 1995,6 tỷ đồng tăng gấp hơn 100 lần sovới năm 1986; tới năm 1995 là 22673,3 tỷ đồng; năm 2000 là 49892,9 tỷ đồng; năm

2005 là 64390,9 tỷ đồng Tuy nhiên không phải năm nào vốn đầu tư cũng tăng vì đầu tư

có độ trễ về mặt thời gian để tạo ra được kết quả nên có khi năm trước đầu tư nhiều thìnăm sau có thể giảm lượng vốn đầu tư đi như năm 1995 lượng vốn đầu tư giảm 2,96%

so với năm 1994

*Đầu tư cho ngành công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức

Tỷ trọng đầu tư cho ngành công nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sốvốn đầu tư toàn xã hội song số vốn đó chưa đủ để cơ cấu lại toàn bộ nền công nghiệp

Cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp cũng như tỷ trọng vốn tham gia của các thành

Trang 9

phần kinh tế chưa thực sự hướng tới một nền kinh tế thị trường hoà hợp và cạnh tranhquyết liệt Nhiều ngành, lĩnh vực công nghiệp có vai trò và tác động lớn như chế tạomáy móc thiết bị, công nghiệp nguyên liệu… chưa được quan tâm đúng mức trong khi

đó vốn đầu tư vào các ngành xi măng, mía đường không mang lại hiệu quả Đầu tư vẫncòn thiếu tập trung, dàn trải mới thấy lợi trước mắt là đầu tư mà chưa thấy được triểnvọng phát triển lâu dài

* Sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt Nam còn thấp

Ngoài những nguyên nhân về chi phí cao dẫn đến giá thành cao, công nghệ lạc hậukhiến sản phẩm kém chấ lượng thì còn một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như:doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam chưa chú ý nhiều đến khâu bao bì đóng gói, mẫu

mã sản phẩm còn chưa phong phú Vì thế các sản phẩm công nghiệp Việt Nam cònkhông thể tồn tại ngay ở thị trường trong nước chứ chưa nói đến những đòi hỏi khắtkhe của thị trường nước ngoài Một nguyên nhân hết sức quan trọng nữa là vấn đềthương hiệu của sản phẩm Nhiều tên các sản phẩm nổi tiếng của công nghiệp ViệtNam đã bị các công ty nước ngoài chiếm dụng để kinh doanh mà không sao do cácdoanh nghiệp Việt Nam chưa dăng ký thương hiệu các sản phẩm của mình

Trang 10

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ĐẾN TĂNG

TRƯỞNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Với chương này bằng việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng vào để phân tíchnhững nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong thời

kỳ đổi mới Như vậy xuất phát từ thực trạng trong ngành công nghiệp nhómsẽ xâydựng một mô hình phù hợp nhất với những biến số là những nhân tố cơ bản có thể tácđộng tới quá trình tăng trưởng của ngành công nghiệp Sau khi xây dựng được mô hìnhphù hợp nhómsẽ áp dụng kết quả ước lượng của mô hình để dự báo giá trị của ngànhcông nghiệp trong một vài năm tới, cuối cùng là một số kiến nghị và giải pháp chongành công nghiệp Việt Nam

1 Lựa chọn mô hình

Đầu tiên khi lựa chọn mô hình là phải xác định các biến số đâu là biến phụ thuộcđâu là biến độc lập Vì vậy nhómxin giới thiệu các biến và cách thức được sử dụngtrong mô hình

1.1 Biến phụ thuộc ( biến được giải thích) trong mô hình:Là tổng sản phẩm của

ngành công nghiệp hàng năm ;Ký hiệu : GOCN

1.2 Biến độc lập ( biến giải thích) trong mô hình:

* Vốn đầu tư sản xuất cho ngành công nghiệp (ICN)

Là lượng vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp bao gồm cả vốn của khu vực kinh tếquốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực đầu tư nước ngoài Vốn đầu

tư là yếu tố hết sức quan trọng đối với tăng trưởng của công nghiệp, để biết được vốnđầu tư có được sử dụng hiệu quả hay không ta xem xét tới việc khi đầu tư thêm mộtđồng vốn thì yạo ra thêm được bao nhiêu giá trị sản phẩm

* Số lao động trong ngành công nghiệp (LCN)

Trang 11

Là tổng số lao động cả lao động trí óc và lao động tay chân có tham gia sản xuấttrong ngành công nghiệp Bất kỳ quốc gia nào đều cần đến lao động, lao động là nguồnlực quý nhất, nguồn lực quyết định trong số các nguồn lực tác động tới phát triển Donước ta vẫn là nước công nghiệp còn lạc hậu, nhiều ngành công nghiệp còn cần sửdụng 100% là lao động thủ công thì lao động lại càng là nhân tố quyết định quan trọngđến tăng trưởng công nghiệp

* Giá trị xuất khẩu của các sản phẩm công nghiệp (ECN)

Là toàn bộ giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thô hay tinh chế hàng năm Giátrị xuất khẩu hàng năm của ngành công nghiệp có đóng góp lớn vào tổng sản phẩmquốc dân từ đó thúc đẩy tới tăng trưởng của ngành công nghiệp riêng cũng như toàn bộnền kinh tế nói chung Đồng thời chính sách mở cửa kinh tế, hội nhập quốc tế và việccải cách chính sách ngoại thương đã làm tăng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hang côngnghiệp trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp

* Biến giả (D i ):

Biến giả phản ánh một thời kỳ đặc biệt trong cả giai đoạn phát triển Như chúng ta

đã biết thời kỳ từ năm 1986 tới năm 1990 là thời kỳ công nghiệp Việt Nam có sự thayđổi mạnh mẽ về cơ cấu cũng như các chính sách phát triển các ngành công nghiệp Do

dó mục đích khi cho biến giả này của nhóm là xem xét việc thay đổi chính sách có ảnhhưởng đến giá trị sản phẩm công nghiệp hay không

D1 = 1 nếu năm quan sát thuộc thời kỳ 1986-1990

0 nếu năm quan sát thuộc thời kỳ sau năm 1990

2 Xây dựng mô hình:

Xuất phát từ mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas và qua thực nghiệm nhómđưa ra

mô hình cho sự tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam như sau:

Log(GOCN) = 0 + 1*D1 + 2*log(ICN) + 3*log(LCN) + 4*log(ECN)

Trong đó : -GOCN:là biến phụ thuộc

Trang 12

-ICN,LCN,ECN: là biến độc lập

-D1 :là biến giả

- i ( i=1,4) :là hệ số của các biến tương ứng

-0 :là hệ số chặn

2.1 Ước lượng mô hình:

Bằng việc sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để ước lượng môhình trên và ước lượng là chính xác nhất thì kết quả ước lượng mô hình phải thoã mãncác giả thiết của OLS

Giả thiết: 1 Biến giải thích là phi ngẫu nhiên, tức là các giá trị của chúng là các số đã

Dependent Variable: LOG(GOCN)

Trang 13

Method: Least Squares

Date: 04/11/06 Time: 10:12

Sample(adjusted): 1990 2005

Included observations: 16 after adjusting endpoints

Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

Ngày đăng: 12/10/2022, 16:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w