1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

14 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài 2: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vấn Đề Dân Tộc Và Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc
Trường học Đại học Khoa học Xã hội Và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Lý luận Chính trị
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 620,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu  Nắm vững tính khoa học và cách mạng sâu sắc về vấn đề dân tộc thuộc địa, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế

Trang 1

BÀI 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này,học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

1 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh Bộ Giáo dục và đào tạo NXB Chính trị quốc gia

H, 2011 Các trang 57-95

2 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin NXB Chính trị quốc gia H,

2003 Các trang 96-118

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr 113, 119

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr 75, 96, 192,

243, 274-275, 321, 416, 464-465, 468-469; t.2, tr 124, 128, 261-262, 266-268; t.3,

tr 1, 3, 10, 198, 554- 555; t.4, tr 56, 198, 298, 480,496; t.6, tr 172-173, 175, 184, 522; t.8, tr 562; t.9, tr 173, 314; t.10 tr 128; t.12 tr 108, 302, 304

 Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Trang Web môn học

Nội dung

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

 Kết luận

Mục tiêu

 Nắm vững tính khoa học và cách mạng sâu sắc về vấn đề dân tộc thuộc địa, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc

tế trong sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc

 Nắm vững lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống những quan điểm sáng tạo, độc đáo: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản; Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do

Đảng cộng sản lãnh đạo; Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn

dân tộc; Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc; Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực

 Làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn to lớn những luận điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

 Khẳng định sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam của Đảng và nhân dân ta chính là kế thừa và vận dụng sáng tạo những giá trị di sản lý luận to lớn của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Tình huống 1:

Tại sao có thể khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có những luận điểm sáng tạo và đặc sắc, làm phong phú thêm học thuyết Mác – Lênin về cách mạng thuộc địa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành 1 trong 100 con người làm nên lịch sử thế

kỷ XX?

Tình huống 2:

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945- 1975)

đã chứng minh tinh thần độc lập, tự chủ, tính khoa học, tính cách mạng và sáng tạo của tư tưởng

Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam, soi sáng cho dân tộc Việt Nam tiến lên, cùng nhân loại biến thế kỷ XX thành thế kỷ giải trừ chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới như thế nào?

Nắm vững các nội dung phần thứ nhất này sẽ giúp chúng ta có cơ sở lý luận khoa học để giải thích đúng vấn đề trên

Trang 3

2.1 Tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân tộc

2.1.1 Vấn đề dân tộc thuộc địa

2.1.1.1 Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa

Mác – Ăngghen nghiên cứu trong Chủ nghĩa tư bản đưa ra các quan điểm có tính chất

phương pháp luận để giải quyết các vấn đề dân tộc: nguồn gốc, đặc trưng dân tộc,

quan hệ giai cấp – dân tộc, thái độ của giai cấp công nhân và đảng cộng sản đối với vấn đề dân tộc

V.I Lênin nghiên cứu trong Chủ nghĩa đế quốc chỉ ra hai xu

hướng phát triển khách quan của dân tộc, xây dựng cương lĩnh

dân tộc tạo cơ sở cho đường lối, chính sách dân tộc của các

Đảng cộng sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa

Hồ Chí Minh không bàn về vấn đề dân tộc nói chung Xuất

phát từ nhu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam và đặc điểm

của thời đại, Người dành sự quan tâm đến các dân tộc thuộc

địa trong chủ nghĩa thực dân. Đi sâu vấn đề dân tộc thuộc địa

mà cốt lõi là đấu tranh tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải

phóng dân tộc Xác định con đường cách mạng: Tư sản dân

quyền, Thổ địa cách mạng, Xây dựng xã hội cộng sản Hồ Chí

Minh viết nhiều tác phẩm tố cáo tội ác thực dân như: Tâm địa

thục dân, Bình đẳng, Vực thẳm thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người… tố cáo chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh”của chúng

Nếu như C.Mác bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin bàn nhiều

về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân C.Mác và Lênin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp

ở các nước tư bản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh tập trung bàn về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa Đây cũng chính là sự kế thừa, phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta Từ đó, lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc: con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Trong “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”

2.1.1.2 Độc lập dân tộc - nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa

Hồ Chí Minh tiếp cận những nhân tố về quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”1776 của nước Mỹ, “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền”1791 của cách mạng Pháp: Quyền bình đẳng, Quyền tự do, Quyền mưu cầu hạnh phúc Hồ Chí Minh đã khái quát, nâng cao thành quyền dân tộc, xây dựng trên hai cơ sở, truyền thống dân tộc và cơ sở thời đại: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Độc lập dân tộc phải gắn với quyền bình đẳng giữa các dân tộc - Độc lập dân tộc trong

tư tưởng Hồ Chí Minh có những nội dung sau:

 Độc lập dân tộc phải gắn liền Độc lập, Chủ quyền, Thống nhất và Toàn vẹn lãnh thổ

Trang 4

 Độc lập dân tộc phải gắn liền với những quyền cơ bản dân tộc phải đạt được: Quyền tự quyết chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tức là quyền được lựa chọn con đường phát triển không phụ thuộc vào bên ngoài

 Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Trong thư trả lời Tổng thống Mỹ Johnson (15-2-1967), Hồ Chí Minh viết: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố

có thể bị tàn phá Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ Không có gì quý hơn

độc lập tự do”

 Độc lập dân tộc phải đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho mọi người dân

Nội dung độc lập dân tộc là vấn đề cốt lõi thể hiện qua các tác phẩm của Hồ Chí Minh:

 Trong bản yêu sách 8 điểm gửi tới hội nghị Vecxây

(6/1919), Nguyễn Ái Quốc đã đòi những quyền tự do, dân chủ cho nhân dân An Nam

 Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tư tưởng

cốt lõi là độc lập, tự do cho dân tộc

 Tháng 5/1941, Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị lần VIII của

Ban chấp hành TW Đảng, chỉ rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là “cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”

 Cách mạng Tháng Tám thành công, Người thay mặt cho

Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập để khẳng định nền độc lập và quyền tự do của dân tộc Việt Nam

 Sau cách mạng tháng Tám, trong thư gửi Liên hợp quốc và Chính phủ các nước,

Hồ Chí Minh trịnh trong tuyên bố nền độc lập của ta và quyết tâm sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập ấy

 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần 2 và chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh cùng TW Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc chiến

và luôn nêu cao khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

2.1.1.3 Chủ nghĩa yêu nước chân chính - Một động lực lớn của đất nước

Từ những năm 1920 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với dân tộc thuộc địa càng nặng nền thì phản ứng của dân tộc bị áp bức càng quyết liệt, dẫn đến sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào

Phân tích về quan hệ giai cấp và truyền thống dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính là một

động lực lớn của các nước thuộc địa Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính do tinh thần

yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”

Trang 5

2.1.2 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp

2.1.2.1 Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau, giải phóng

dân tộc tạo tiền đề để giải phóng dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc Từ khi ra đời,

ở mỗi dân tộc, trong mỗi giai đoạn lịch sử, có một giai cấp đứng ra làm đại diện Giai cấp sẽ trở thành đại diện chân chính cho dân tộc Áp bức dân tộc thực chất là áp bức giai cấp Muốn xóa bỏ áp bức giai cấp phải đi từ đấu tranh giai cấp, thực hiện cách mạng để xóa bỏ giai cấp thống trị Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, ngay từ đầu đã mang tính dân tộc

Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc Quan hệ giữa dân tộc và giai cấp thực chất là quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp Nhưng tùy từng thời kỳ để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này Xuất phát thực tiễn Việt Nam, giải phóng dân tộc là tiền đề giải phóng giai cấp Tháng 5

năm 1941, Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng khẳng định: “Trong lúc này

quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”

2.1.2.2 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa Mác- Lênin hướng tới giải phóng con người trước hết từ chính những điều

kiện áp bức họ, để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản: “Xây dựng một

xã hội liên hiệp, trong đó sự tự do phát triển của mỗi người, là điều kiện cho sự tự do

và phát triển của tất cả mọi người Con người bước từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do”

Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, sau khi giành được

độc lập thì phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Độc

lập dân tộc là cơ sở là tiền đề đi tới chủ nghĩa xã hội Chủ

nghĩa xã hội chính là để bảo vệ thành quả độc lập dân tộc,

thực hiện mục tiêu cách mạng: ấm no, hạnh phúc cho

nhân dân Người khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân

dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên

chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một no ấm

thêm Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm” Tư tưởng

này là tư tưởng xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động của

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đó chính là xu hướng phát triển chủ yếu của loài người trong thời đại ngày nay Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh

Trang 6

đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân

tộc và chủ nghĩa xã hội Năm 1960, Người nói: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa

cộng sản mói giải phong được các dân tộc bị áp bức và những người lao đông trên thế giới khỏi ách nô lệ”

2.1.2.3 Giữ vững độc lập của dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập của các dân

tộc khác

Là một chiến sĩ chân chính, hoạt động không mệt mỏi

vì hòa bình thế giới, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh

cho dân tộc mình, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất

cả các dân tộc bị áp bức Với 3 nước Đông Dương,

Người hết sức ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật

của nhân dân Trung Quốc, các cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược

của nhân dân Lào và Campuchia Với các nước thuộc địa: Người cũng hết sức ủng hộ

cả sức người, sức của, cả tinh thần và vật chất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân, đế quốc Tư tưởng Hồ Chí Minh có những nội dung sau:

 Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết của mỗi dân tộc

 Thực hiện nghĩa vụ quốc tế:

 Tôn trọng độc lập của các dân tộc khác

 Đấu tranh cho dân tộc mình đồng thời đấu tranh cho dân tộc khác

 Ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Với những tư tưởng này Nguyễn Ái Quốc không chỉ được tôn vinh là "anh hùng giải phóng dân tộc”của Việt Nam mà còn được thừa nhận là "người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỉ XX"

2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

2.2.1 Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

Sự phân hóa giai cấp ở các nước thuộc địa phương Đông không giống như ở các nước

tư bản phương Tây Các giai cấp ở đây cũng có sự phân hóa tuy nhiên không gay gắt

và sâu sắc như các nước phương Tây Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội các nước thuộc địa phương Đông không giống mâu thuẫn trong xã hội tư bản phương Tây Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa phương Đông là: dân tộc bị thống trị với dân tộc thống trị, còn trong xã hội tư bản phương Tây là: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Do vậy

“cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra không giống như ở phương Tây” Do mâu thuẫn chủ yếu khác nhau nên đối tượng cách mạng ở các nước thuộc địa phương Đông cũng khác với đối tượng cách mạng ở các nươc tư bản phương Tây Các nước thuộc địa ở

Trang 7

phương Đông là: chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động, các nước tư bản phương Tây là: giai cấp tư sản

Các giai cấp tồn tại trong xã hội Việt Nam: giai cấp địa chủ, nông dân, công nhân, tư sản, tiểu tư sản Các mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân và tay sai, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và địa chủ Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam là dân tộc với chủ nghĩa đế quốc, tay sai

Đối tượng cách mạng ở các nước thuộc địa: chủ nghĩa thực dân và tay sai, yêu cầu bức thiết của cách mạng thuộc địa là độc lập dân tộc, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc, tính chất của cách mạng thuộc địa chính là làm cách mạng giải phóng dân tộc giành chính quyền và dần dần từng bước đi tới xã hội cộng sản

Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc: Lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế

quốc, giành độc lập dân tộc và giành chính quyền về tay nhân dân Trong Cương lĩnh

chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã xác định: Đánh đổ bọn đế

quốc Pháp; bọn phong kiến và giai cấp tư sản phản cách mạng làm cho nước Việt Nam được độc lập Tại Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành trung uơng Đảng (5/1941) do Hồ Chí Minh chủ trì đã kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân

tộc, nhấn mạnh đó là “nhiệm vụ bức thiết nhất” Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên

của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã xác định: sau khi giành độc lập thì dựng lên chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông, hình thành nhà nước dân tộc độc lập và tự do lựa chọn con đường phát triển của dân tộc phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, tiến bộ xã hội

2.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách

mạng vô sản

Hồ Chí Minh đã rút ra kinh nghiệm thất bại của các phong trào yêu nước: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến lạc hậu, lỗi thời (Khởi nghĩa Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế ); phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản cải lương, thỏa hiệp (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…) Người nhận thấy con đường của Phan Bội Châu chẳng khác gì “Đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, con đường của Phan Chu Trinh chẳng khác gì “Xin giặc rủ lòng thương” Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước là do thiếu một đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã thành một hệ thống thế giới

Hồ Chí Minh đã quyết tâm ra đi tìm con đường mới để cứu nước cứu dân

Trong khoảng 10 năm đầu đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã khảo sát các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới, tiêu biểu là cách mạng tư sản Mỹ, cách mạng tư sản Pháp Người nhận thấy, các cuộc cách mạng tư sản là không triệt để, cách mạng

Phan Bội Châu

“Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”

Phan Chu Trinh

“Xin giặc rủ long thương”

Hoàng Hoa Thám

“Mang nặng cốt cách phong kiến”

Trang 8

“chưa đến nơi”, nó không giải phóng con người một cách triệt để và sau khi làm cách mạng quay lại đàn áp, bóc lột nhân dân, áp bức dân tộc thuộc địa “Cách mệnh Pháp, cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng

là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”

Cách mạng tháng mười Nga đã mở ra một con đường mới: con đường cách mạng vô sản, một thời kỳ mới: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: “Chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể đem lại độc lập cho các dân tộc thuộc địa”

Hồ Chí Minh khẳng định: Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần từng bước "đi tới xã hội cộng sản"; Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân

mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản; Lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và lao động trí óc; Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế

2.2.3 Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng cộng sản

lãnh đạo

Các nhà yêu nước tiền bối cũng đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của chính đảng cách mạng nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và một đường lối tổ chức chặt chẽ Trong tác phẩm: “Đường cách mệnh”, Người

khẳng định: Cách mạng trước hết phải có Đảng “Cách mệnh muốn thành công trước

hết phải có đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công Cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”

Đảng lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo

tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng của giai cấp công nhân,

Đảng được xây dựng theo các nguyên tắc Đảng kiểu

mới của Lênin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác -

Lênin Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp

công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân,

mang bản chất giai cấp công nhân Đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc nên Đảng còn là Đảng của nhân dân lao động và cả dân tộc Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Đảng cách mệnh tiên phong, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn bó với nhân dân và dân tộc, một lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Nhờ đó ngay từ khi ra đời Đảng đã nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam Đảng là ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng

2.2.4 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh được xây dựng trên hai cơ sở: Truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc và nguyên lý cách mạng là sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 9

Trong cách mạng tháng tám 1945 cũng như hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ,

Hồ Chí Minh lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh Quan điểm “Lấy dân làm gốc”xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người “Có dân là có tất cả”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Khi còn hoạt động ở nước ngoài Hồ Chí Minh nói: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành

tự do, độc lập”

Người khẳng định “Cách mạng là việc chung cả dân

chúng chứ không phải việc một hai người” Toàn dân

tộc là tất cả mọi giai cấp, tầng lớp trong đó nòng cốt là

liên minh giai cấp: công nhân, nông dân và trí thức

Năm 1924, Hồ Chí Minh đã nghĩ đến một cuộc khởi

nghĩa vũ trang toàn dân (gồm tất cả già, trẻ, gái, trai,

dân, lính đều tham gia đánh giặc); Năm 1944, Người

viết: “Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”…Kháng chiến chống Mỹ: “Cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước”; “ba mốt triệu đồng bào ta… là ba mốt triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”

Người cho rằng: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương

phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng” Toàn dân tộc là tất cả mọi

giai cấp, tầng lớp trong đó nòng cốt là liên minh giai cấp: công nhân, nông dân và trí

thức Hồ Chí Minh phân tích: “…Dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là

sĩ, nông, công thương đều nhất trí chống lại cường quyền”

Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang

Người khẳng định: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống

lại nổi” Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc theo Hồ Chí Minh bao gồm

toàn dân tộc Cụ thể, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

 Động lực của cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân “Công nông là người

chủ cách mệnh”, “Công nông là gốc cách mệnh”, “Cách mệnh phải lấy công nông làm gốc” Vì các giai cấp công nhân, nông dân có số lượng đông nhất và họ

bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, nên “Lòng cách mạng càng bền, chí cách mạng

càng quyết”

 Tầng lớp tiểu tư sản, trí thức cũng bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột và có đặc điểm nổi bật là “Có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng” Họ là bầu bạn của công nông: “Những học trò, nhà buôn nhỏ, địa chủ nhỏ ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách

mệnh của công nông thôi”

 Đối với giai cấp tư sản dân tộc, đánh giá cao tinh thần yêu nước của họ và thấy rõ

họ “Cũng bị đế quốc và phong kiến ngăn trở “con đường phát triển vì vậy theo Người: “Giai cấp tư sản dân tộc cũng là động lực của cách mạng”

 Những bộ phận khác, trung, tiểu địa chủ và một số cá nhân thuộc giai cấp bóc lột

có tinh thần yêu nước, hay “chưa rõ mặt phản bội”dân tộc, thì cần phải tranh thủ, lôi kéo họ về phía cách mạng

Trang 10

Bạn đồng minh của cách mạng: Người coi tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận giai cấp địa chủ là đồng minh của cách mạng: “Những học trò, nhà buôn nhỏ, địa chủ nhỏ ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”

Quan điểm về lực lượng cách mạng như trên biểu hiện tầm nhìn chính trị sắc sảo và nhạy bén của Hồ Chí Minh, thể hiện sự sáng tạo của Người so với chủ nghĩa Mác-Lênin Nó đã đúng trong đấu tranh giải phóng dân tộc và vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc, xây dựng đất nước hiện nay

2.2.5 Cánh mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và

có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Chủ nghĩa Mác – Ăngghen chỉ rõ mục tiêu của giai cấp công nhân và Đảng của nó là

tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền, trở thành giai cấp thống trị trong lòng dân tộc Các Ông chưa có sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc thuộc địa, nói nhiều hơn đến vấn

đề đấu tranh giai cấp và cách mạng vô sản

Đến V.I.Lênin vấn đề dân tộc đã được đặt ra với

những người cộng sản, song trọng tâm cuộc đấu tranh

của giai cấp vô sản thế giới vẫn đang tập trung ở Tây

Âu, do vậy tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc

ở thuộc địa vẫn được nhìn nhận trong sự phụ thuộc vào

cách mạng vô sản ở chính quốc

Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập Cùng với sự kết án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh,

Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” Vì thế, “Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” Người kiến nghị về cương lĩnh hành động của Quốc tế cộng sản là: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa Quốc tế”

Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách chính là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính “là một bộ phận của tinh thần quốc tế”, “khác hẳn tinh thần”vị quốc “của bọn phản động”

Xuất phát từ thực tiễn, các nước thuộc địa là một trong những nguồn sống của chủ nghĩa đế quốc, đây là thị trường rộng lớn đồng thời là nơi cung cấp nguyên liệu cho

chủ nghĩa tư bản, “Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ

thuộc địa” Đồng thời, nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn,

với sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản và các dân tộc trên thế giới thì dân tộc thuộc địa được xem là khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc Người thẳng thắn phê bình một số Đảng cộng sản không thấy được vấn đề quan trọng đó Người chỉ rõ: “Bàn về khả

Ngày đăng: 12/10/2022, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

quần chúng”. Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu - BÀI 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
qu ần chúng”. Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu (Trang 12)
 Là cơ sở hình thành cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng. - BÀI 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
c ơ sở hình thành cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w