Tính mới và sáng tạo nêu điểm mới, sáng tạo trong đề tài; trong khoảng 100 từ Đề tài vận dụng lý thuyết khung quy chiếu thời gian, một hệ thống lý thuyết chưa được giới thiệu và ứng dụn
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ
CÁC KHUNG QUY CHIẾU THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ
CÁC KHUNG QUY CHIẾU THỜI GIAN
TRONG TIẾNG VIỆT
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
1 ThS Lê Thị Cẩm Vân Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP -
Đại học Huế, Ngôn ngữ học
2 PGS TS Trương Thị Nhàn Khoa Ngữ văn - Trường ĐHKH
- Đại học Huế, Ngôn ngữ học
3 ThS Trần Thị Huyền Gấm Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP -
Đại học Huế, Ngôn ngữ học
4 ThS Nguyễn Thị Hoài Phương Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP -
Đại học Huế, Ngôn ngữ học
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 4ii
MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước 2
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trên thế giới 2
2.1.1 Nghiên cứu xác lập hệ thống các khung quy chiếu 2
2.1.2 Nghiên cứu sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang khung quy chiếu thời gian 12
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam 16
3 Mục tiêu nghiên cứu 24
3.1 Mục tiêu tổng thể 24
3.2 Các mục tiêu cụ thể 24
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
4.1 Đối tượng nghiên cứu 24
4.2 Phạm vi nghiên cứu 24
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 25
5.1 Cách tiếp cận 25
5.2 Phương pháp nghiên cứu 25
6 Cấu trúc của đề tài 26
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 27
1.1 Thời gian và các biến thể của ý niệm thời gian 27
1.2 Các thuộc tính của thời gian 28
1.3 Phối cảnh thời gian 29
1.4 Các mối quan hệ thời gian 31
1.5 Khái niệm khung quy chiếu và khung quy chiếu thời gian 32
1.5 Lý thuyết khung quy chiếu không gian của Levinson 33
1.6 Lý thuyết khung quy chiếu thời gian của Bender và cộng sự 38
Chương 2 HỆ THỐNG KHUNG QUY CHIẾU THỜI GIAN 42
TRONG TIẾNG VIỆT 42
2.1 Khung quy chiếu thời gian tuyệt đối trong tiếng Việt 42
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 52.2 Khung quy chiếu thời gian nội tại trong tiếng Việt 47
2.2.1 Khung quy chiếu nội tại trực chỉ 47
2.2.2 Khung quy chiếu nội tại chuỗi nối tiếp 49
2.3 Khung quy chiếu thời gian tương đối trong tiếng Việt 51
2.4 Vai trò của trung tâm trực chỉ và logic của khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt 55
2.5 Các chiến lược quy chiếu thời gian trong tiếng Việt 55
Chương 3 58
SỰ ĐỒ CHIẾU TỪ CÁC KHUNG QUY CHIẾU KHÔNG GIAN LÊN 58
CÁC KHUNG QUY CHIẾU THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT 58
3.1 Các khung quy chiếu không gian trong tiếng Việt 58
3.1.1 Khung quy chiếu không gian tuyệt đối trong tiếng Việt 58
3.1.2 Khung quy chiếu không gian nội tại trong tiếng Việt 59
3.1.3 Khung quy chiếu không gian tương đối trong tiếng Việt 61
3.1.4 Các trường hợp lưỡng khả 62
3.2 Các bình diện đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian lên khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt 65
3.2.1 Sự đồ chiếu các mô hình khung quy chiếu 66
3.2.2 Sự đồ chiếu trường tổng thể 68
3.2.3 Sự đồ chiếu các trục bất đối xứng và hướng 70
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
NGUỒN NGỮ LIỆU 82 PHỤ LỤC 1
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng MĐ1: Các quan niệm khác nhau về hệ thống khung quy chiếu thời gian 11 Bảng 1.1: Lược đồ các biến thể của ý niệm thời gian 28 Bảng 2.1: Chiến lược quy chiếu và quan hệ thời gian trong khung quy chiếu thời gian của
tiếng Việt 56
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Phối cảnh Con mèo ở phía trước chiếc xe 33
Hình 1.2: Các khung quy chiếu không gian 37
Hình 1.3 Các khung quy chiếu thời gian 39
Hình 2.1 Quan hệ thời gian trong khung quy chiếu tuyệt đối 45
Hình 2.2 Khung quy chiếu thời gian tuyệt đối trong tiếng Việt 47
Hình 2.3 Khung quy chiếu thời gian nội tại trong tiếng Việt 51
Hình 2.4: Khung quy chiếu thời gian tương đối trong tiếng Việt 54
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 8vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sự đồ chiếu quan hệ chuỗi trong không gian lên thời gian 67
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
gốc của hệ toạ độ
2 Quy ước trình bày
Chúng tôi dùng chữ in hoa cỡ nhỏ khi trình bày một ý niệm
Dấu ‘…’ được chúng tôi sử dụng khi trình bày đối tượng phân tích hoặc khi chỉ nghĩa đối dịch của các ví dụ bằng tiếng Anh
Dấu “…” được chúng tôi sử dụng khi trình bày phần dịch nghĩa ra tiếng Việt các ví dụ tiếng Anh
Chữ in nghiêng được sử dụng cho các biểu thức ví dụ
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 10viii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ
1 Thông tin chung
1.1 Tên đề tài: Các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt
1.2 Mã số: DHH2020-03-137
1.3.Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Thị Cẩm Vân
1.4 Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
1.5.Thời gian thực hiện: tháng 01 năm 2020 – tháng 12 năm 2021
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác lập khung quy chiếu không gian theo trục ngang trong tiếng Việt
- Phân tích sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian lên khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt
3 Tính mới và sáng tạo (nêu điểm mới, sáng tạo trong đề tài; trong khoảng 100 từ)
Đề tài vận dụng lý thuyết khung quy chiếu thời gian, một hệ thống lý thuyết chưa được giới thiệu và ứng dụng nghiên cứu ở Việt Nam, để nghiên cứu các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt Chúng tôi đã phân tích và khái quát được ba khung quy chiếu thời gian cùng các biến thể của chúng trong tiếng Việt, phân tích sự
đồ chiếu từ các khung quy chiếu không gian sang các khung quy chiếu thời gian trong ngôn ngữ này Kết quả nghiên cứu của chúng tôi giúp hoàn thiện lý thuyết khung quy chiếu thời gian theo đường hướng Ngôn ngữ học Tri nhận
4 Các kết quả nghiên cứu thu được (nêu vắn tắt các kết quả chính ứng với các nội dung nghiên cứu, gồm thông tin, số liệu và đánh giá)
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 114.1 Giới thiệu tổng quan lịch sử nghiên cứu khung quy chiếu thời gian của các nhà nghiên cứu trên thế giới, giới thiệu lý thuyết khung quy chiếu không gian của Levinson và lý thuyết khung quy chiếu thời gian của Bender và cộng sự
4.2 Phân tích hệ thống khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt Chúng tôi
đi đến khẳng định tiếng Việt có ba khung quy chiếu thời gian là khung quy chiếu tuyệt đối, khung quy chiếu nội tại và khung quy chiếu tương đối Khung quy chiếu nội tại gồm hai biến thể là biến thể trực chỉ và biến thể chuỗi nối tiếp Khung quy chiếu thời gian tương đối tiếng Việt cung cấp một thực tế khác với những gì được xác lập về mặt lý thuyết cho đến nay: khi G là một thời điểm thuộc tương lai, biến thể tìm thấy là biến thể phản chiếu; khi G là một thời điểm thuộc quá khứ, biến thể trong tiếng Việt là biến thể chuyển dịch; phối kết cả hai trường hợp chúng tôi đưa mô hình mới chưa từng được phân tích trong các văn liệu về khung quy chiếu thời gian trong ngôn ngữ tự nhiên
4.3 Phân tích các khung quy chiếu không gian theo trục ngang trong tiếng Việt Với khung quy chiếu không gian tuyệt đối, ngoài sử dụng các phương địa lí, người Việt còn dùng trục biển – đất liền để xác định hướng quy chiếu Với khung quy chiếu nội tại, ngoài biến thể như mô tả của Levinson, tiếng Việt có thêm biến thể trong đó nền là đối tượng không có cấu trúc định hướng nội tại, F là con người, hướng quy chiếu được xác định dựa vào F Với khung quy chiếu tương đối, tiếng Việt chỉ tồn tại biến thể phản chiếu theo hệ thống phân loại của Levison, tuy nhiên tiếng Việt
có thêm biến thể hàm ẩn biểu thị quan hệ giữa một Hình được định vị trong một Nền, hướng của khung quy chiếu được xác lập từ không gian hàm ẩn
4.4 Phân tích sự đồ chiếu từ các khung quy chiếu không gian sang các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt: có sự đồ chiếu mô thức của các khung quy chiếu giữa hai phạm trù, tuy vậy, không phải mọi nguyên tắc nhận thức và biểu đạt không gian đều được chuyển di sang phạm trù thời gian Không gian có ba trục nhưng chỉ trục TRƯỚC/SAU là được đồ chiếu lên thời gian TRƯỚC có thể đồ chiếu sang quá khứ hoặc tương lai tuỳ vào khung quy chiếu và không hề mâu thuẫn khi TRƯỚC vừa có thể được ấn định thuộc quá khứ vừa có thể được ấn định thuộc tương lai Khung quy chiếu không gian nội tại có hai biến thể nhưng chỉ biến thể thể hiện quan hệ song tố giữa Hình và Nền, hướng quy chiếu của khung được xác định dựa vào hướng nội tại của Nền, vị trí của người quan sát không quan yếu được đồ chiếu lên thời gian; còn biến thể có hướng quy chiếu được xác định dựa vào Hình, xuất hiện khi Nền là đối tượng không có cấu trúc định hướng nội tại và Hình là con người không được đồ chiếu sang thời gian Khung quy chiếu không gian tương đối gồm hai biến thể nhưng chỉ biến thể gồm ba biến số Hình, Nền và điểm nhìn của người quan sát được đồ chiếu sang thời gian; còn biến thể hàm ẩn biểu thị quan hệ tam tố giữa một Hình được định
vị trong một Nền, hướng của khung quy chiếu được xác lập từ không gian hàm ẩn thì
không
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 12x
5 Các sản phẩm của đề tài (số lượng, tên gọi, thông tin vắn tắt của mỗi loại sản phẩm; xóa đi mục nào không có thông tin)
5.1 Sản phẩm khoa học: 03 bài báo đăng tạp chí chuyên ngành
1 Le Thi Cam Van, Truong Thi Nhan (2021), Temporal uses of trước and sau:
An analysis of temporal frames of reference in Vietnamese, Hue University Journal
of Science: Social Sciences and Humanities, Vol 130 No 6D
2 Lê Thị Cẩm Vân (2021), Khung quy chiếu thời gian tương đối trong tiếng
Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 11A (318), tr.22 - 27
3 Lê Thị Cẩm Vân, Trương Thị Nhàn (2022), Sự đồ chiếu từ không gian lên
thời gian trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 2 (322), tr.14 – 22
5.2 Sản phẩm đào tạo: Tham gia đào tạo 01 học viên cao học làm luận văn
thạc sĩ
Tên luận văn: Sự biểu đạt thời gian trong ca dao Thừa Thiên Huế
Trang 13MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
UNIVERSITY OF EDUCATION
INFORMATION ON STUDY RESULTS RESEARCH PROJECT ASSIGNED BY HUE UNIVERSITY
1 General information of project
1.1 Project title: Temporal Frames of Reference in Vietnamese
1.2 Project code: DHH2020-03-137
1.3 Coordinator: Le Thi Cam Van
1.4 Implementing institution: University of Education, Hue University
1.5 Implementing duration: from 01/2020 to 12/2021
Analyzing and modelling temporal frames of reference in Vietnamese
Analyzing spatial frames of reference on the horizontal axis in Vietnamese Analyzing the mapping from spatial frames of reference to temporal frames of reference in Vietnamese
3 Novelty and creativeness of the study
This research project applies the theory of temporal frames of reference - a theoretical system that has not been introduced and used to research in Vietnam - to study temporal frames of reference in Vietnamese We analyze and propose three temporal frames of reference and their variants in Vietnamese, analyzing the mapping from spatial frames of reference to temporal frames of reference in this language Our research results contribute to developing the cognitive theory of temporal frames of reference
4 Main study results
4.1 Reviewing the theory of the temporal frames of reference, introducing Levinson's theory of spatial frames of reference and Bender et al.'s theory of temporal frames of reference
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 14xii
4.2 Analyzing temporal frames of reference in Vietnamese We prove that there are three temporal frames of reference in Vietnamese: the absolute, the intrinsic, and the relative frame of reference The intrinsic frame of reference consists of the deictic and the sequential variant The relative temporal frame of reference provides
a reality different from what has been theoretically proposed so far: when G is a future time, the temporal frame of reference found is the reflection variant; when G is a past time, the one found is the translation variant; combining the two cases, we propose a new model that has never been analyzed in the literature on temporal frames of reference in natural language
4.3 Analyzing horizontally spatial frames of reference in Vietnamese: the absolute, the intrinsic, and the relative frame of reference Besides using the cardinal directions for the absolute spatial reference frame, Vietnamese people also use the sea-land axis to determine the direction of reference For the intrinsic frame of reference, in addition to the variant proposed by Levinson (2003), there is another variant in which the Ground is an object without an intrinsically oriented structure, the Figure is a human being, and the reference direction is determined based on the Figure For the relative frame of reference, there is only the reflective variant according to Levison's taxonomy in Vietnamese; however, this language has an implicit variant indicating the relationship between a Figure located in a Background, the orientation of the frame of reference determined from the implicit-function space Therefore, there are two variants in Vietnamese that have not been analyzed in the literature on spatial frames of reference
4.4 Analyzing the mapping from spatial frames of reference to temporal frames of reference in Vietnamese We confirm that there is mapping the patterns of frames of reference between the two domains; however, not all elements and relations
of spatial frames of reference map onto the domain of time and vice versa, and not all elements and relations of temporal frames of reference are mapped from space Space has three axes, but only the FRONT/BEHIND axis is mapped onto time BEFORE
can map to the past or the future depending on the frame of reference used, and there
is no contradiction when BEFORE can both be assigned to the past and the future The intrinsic spatial reference frame has two variants However, only the one that shows the binary relationship between the Figure and the Ground, the frame's reference direction determined based on the Ground's intrinsic direction, and the observer's position irrelevant are mapped onto time In contrast, the variant in which the reference direction is determined based on the Figure, occurring when the Ground is
an object without an intrinsically oriented structure and the Figure is a human being,
is not mapped into time The relative spatial frame of reference has two variants However, only the one that consists of three elements, the Figure, the Ground and the Viewpoint of observer, is mapped to time; while the implicit variant, which represents
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 15a ternary relationship between a Figure located in a Background, the orientation of the frame of reference established from the implicit space, is not
5 Project outputs
5.1 Publications: 03 scientific articles
Le Thi Cam Van, Truong Thi Nhan (2021) Temporal uses of trước and sau:
An analysis of temporal frames of reference in Vietnamese Hue University Journal
of Science: Social Sciences and Humanities, Vol 130 No 6D
Le Thi Cam Van (2021) Relative Temporal Frames of Reference in
Vietnamese Journal of Language and Life, No 11A (318), p.22 - 27
Le Thi Cam Van, Truong Thi Nhan (2022), Mapping from Space to Time in
Vietnamese, Journal of Language and Life, No 2 (322), p.14 – 22
5.2 Training and education:
- 01 MSc student
Student’s full name: Pham Thi Lieu
Thesis title: Expressions of Time in Fork Songs of Thua Thien Hue
Thesis defense date: 26/04/2022
5.3 Applied products:
5.4 Others:
6 Contributions, application possibility and ways of transfer of study results
The project's study results can be used as a reference for lecturers, students, graduate students, and PhD students in philology and linguistic fields
Date: 04/08/2022
Implementation institution
(sign and seal)
Project coordinator
(sign and full name)
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 16Trong lịch sử ngôn ngữ học thế giới, vấn đề thời gian đã được tiếp cận từ góc độ nghiên cứu ngữ nghĩa của hệ thống ngữ pháp, bao gồm thì, thể và tình thái (Tense, Aspect, Modality - TAM), từ hệ thống ẩn dụ cơ sở mang tính phổ niệm
(Lý thuyết Ẩn dụ tri nhận – khởi đi từ công trình Metaphors We Live By (1980)
của George Lakoff và Mark Johnson) và gần đây là xem xét sự biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ và nhận thức của con người về thời gian như chúng được biểu thị trong giao tiếp bằng ngôn ngữ độc lập với các ẩn dụ ý niệm chỉ thời gian (Lý
thuyết Ý niệm từ vựng và Mô hình tri nhận – Khởi đi từ công trình How Words
Mean – Lexical Concepts, Cognitive Models, and Meaning Construction (2009)
của Vyvyan Evans), từ Lý thuyết khung quy chiếu thời gian Tuy vậy ở Việt Nam, vấn đề quy chiếu thời gian mới chỉ được quan tâm từ hướng nghiên cứu về thì, thể theo Lý thuyết Ngữ học cấu trúc, Ngữ học chức năng, Ngữ học tạo sinh, Ngữ học tri nhận, hướng nghiên cứu về định vị và cách biểu đạt thời gian từ Lý thuyết Ẩn
dụ ý niệm Việc tiếp cận thời gian từ các khung quy chiếu theo quan điểm Tri nhận luận là mảng hoàn toàn khuyết thiếu trong truyền thống Việt ngữ học
Từ thực tế đó, chúng tôi hướng đến nghiên cứu các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt theo quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận, cụ thể là Lý thuyết khung quy chiếu thời gian do Bender và các cộng sự của ông đề xuất, nhằm giới thiệu các vấn đề lý thuyết mới hiện chưa được phổ biến ở Việt Nam và ứng dụng lý thuyết vào nghiên cứu một ngôn ngữ khác biệt về cơ tầng văn hoá và loại hình ngôn ngữ so với đa số các ngôn ngữ đã được nghiên cứu cho đến nay Việc ứng dụng của chúng tôi nhằm quan sát và phân tích vấn đề trên cứ liệu tiếng Việt,
từ đó đối chiếu với các mô tả lý thuyết hiện có để kiểm chứng và bổ sung lý thuyết
Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt” để nghiên cứu
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 172 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước
Lý thuyết về khung quy chiếu thời gian được xác lập bởi các nhà Tri nhận luận trong vòng hai thập niên gần đây Số lượng ngôn ngữ được miêu tả, phân tích thực tế là chưa nhiều so với toàn bộ các ngôn ngữ hiện có trên thế giới Để nghiên cứu vấn đề này trong tiếng Việt, chúng tôi trình bày tình hình nghiên cứu khung quy chiếu thời gian trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ được đề tài đặt ra
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Ở tiểu mục này, chúng tôi tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới theo hai chủ đề chính gắn với việc phân tích vấn đề trên cứ liệu tiếng Việt là nghiên cứu xác lập hệ thống các khung quy chiếu và nghiên cứu sự đồ chiếu từ không gian lên thời gian
2.1.1 Nghiên cứu xác lập hệ thống các khung quy chiếu
Cho đến nay lý thuyết về khung quy chiếu thời gian vẫn chưa đi đến sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Từ các công trình được công bố, xét về số
lượng khung quy chiếu, chúng tôi nhận thấy có hai hướng phân loại chính: hướng xác lập hệ thống khung quy chiếu gồm hai loại và hướng xác lập hệ thống khung quy chiếu gồm ba loại Ngoài ra còn có một lệ ngoại là hệ
thống phân chia gồm bốn khung quy chiếu thời gian trên cứ liệu tiếng Quan Thoại của Yu (2012)
Thuộc hướng đầu có các tác giả như Moore (2004, 2006, 2011, 2014), Núñez và Sweetser (2006) Hệ thống khung quy chiếu do các tác giả này xác lập
chỉ gồm hai khung quy chiếu Mỗi khung có mốc quy chiếu riêng
Moore (2004, 2006) đề xuất hai loại khung quy chiếu thời gian là khung quy chiếu dựa vào Ego (Ego-based frames of reference) và khung quy chiếu dựa vào trường (field-based frames of reference) Khung quy chiếu dựa vào Ego lấy
Ego làm điểm quy chiếu, mang tính trực chỉ Khung quy chiếu này bao gồm hai phối cảnh: phối cảnh Ego chuyển động và phối cảnh Thời gian chuyển động Ví dụ:
(1) Tuesday is approaching (us)
‘Thứ ba là đang đến gần (chúng ta)’
“Sắp đến thứ Ba rồi.”
(2) June is still ahead (of me)
‘Tháng sáu là vẫn ở phía trước (của tôi)’
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 183
“Vẫn chưa tới tháng sáu.”
Trong ví dụ (1) trên, thời gian được hình dung là đang chuyển động về phía người quan sát Ego, Ego do vậy là điểm quy chiếu, Ego được hiện thực hoá bằng
biểu thức us hoặc được hiểu hàm ẩn Ngược lại ở ví dụ (2), người quan sát Ego di
chuyển về phía trước trong dòng thời gian Điểm quy chiếu là Ego Tháng sáu được xác định ở phía trước là trong quy chiếu với Ego Ego được biểu đạt bằng
biểu thức me hoặc được hiểu hàm ẩn
Khung quy chiếu dựa vào trường phản ánh quan hệ thời gian giữa các sự tình trong chuỗi, trong đó có một sự tình được chọn làm mốc quy chiếu Khung quy chiếu này do vậy không liên quan đến trung tâm trực chỉ, Ego và sự hiện diện chủ quan của nó là tuỳ ý và không quan yếu Khung quy chiếu dựa vào trường phản chiếu ẩn dụ CHUỖI NHƯ MỘT VỊ TRÍ TRÊN LỐI ĐI (SEQUENCE AS A POSITION ON THE PATH) Ví dụ:
(3) Summer follows spring
‘mùa hè theo sau mùa xuân’
“Sau mùa hè là mùa xuân.”
Trong ví dụ trên, phối cảnh thời gian được sử dụng là Thời gian chuyển động Sự tình thời gian ‘spring’ được chọn làm mốc quy chiếu Nó kết hợp với sự tình ‘summer’ tạo thành chuỗi nối tiếp các sự tình trong dòng thời gian
Về sau Moore (2011, 2014) có điều chỉnh thuật ngữ Hai khung quy chiếu
trên được ông gọi tên lần lượt là khung quy chiếu cấu hình lối đi phối cảnh Ego
(Ego-perspective path-configured frame of reference) và khung quy chiếu cấu
hình lối đi phối cảnh dựa vào trường (Field-perspective path-configured frame of
reference) Cách giải thích của Moore (2011, 2014) có mở rộng theo hướng phân tích sự đồ chiếu từ các khung quy chiếu không gian sang các khung quy chiếu thời gian song về căn bản giống với quan niệm phân loại ban đầu của ông Moore xây dựng lý thuyết trên cơ sở phân tích cứ liệu tiếng Anh, tiếng Wolof (ở Niger-Congo, vùng Tây Phi), tiếng Nhật và tiếng Aymara (ở Jaqi, Nam Mỹ)
Cũng phân chia khung quy chiếu thời gian thành hai loại là Núñez và Sweetser (2006) Hai ông định danh hai khung quy chiếu dưới tên gọi ẩn dụ điểm quy chiếu Ego (Ego-Reference-point metaphor) và ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian (Time-Reference-point metaphor) Ẩn dụ điểm quy chiếu Ego lấy Ego làm
điểm quy chiếu, với hai phối cảnh là Ego chuyển động và Thời gian chuyển động, như ở trường hợp ví dụ (1) và ví dụ (2) ở trên Ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian biểu đạt chuỗi các sự tình và sử dụng một trong các sự tình làm điểm quy chiếu,
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 19như trường hợp ví dụ (3) ở trên Như vậy, thực chất quan niệm của Núñez, Sweetser (2006) và quan niệm của Moore (2004, 2006, 2011, 2014) là giống nhau, chỉ khác biệt ở dán nhãn thuật ngữ Tuy nhiên, khác với K E Moore, Núñez và Sweetser không xem xét vấn đề trong tương quan với khung quy chiếu không gian Phát hiện của hai ông là các mối quan hệ thời gian ở ẩn dụ có điểm quy chiếu Thời gian là có tính nội tại xét trong chuỗi với sự tình diễn ra trước ở “phía trước” sự tình diễn ra sau Ngoài ra Núñez và Sweetser cũng nhấn mạnh rằng sự đối lập giữa
mô hình điểm quy chiếu Ego và mô hình điểm quy chiếu Thời gian là cơ bản hơn
so với sự phân biệt giữa Ego chuyển động và Thời gian chuyển động
Hai hệ thống phân loại vừa được chúng tôi trình bày ở trên đã đề cập đến hai trường hợp phổ biến trong quy chiếu thời gian là trường hợp lấy Ego làm điểm quy chiếu và trường hợp lấy một sự tình thời gian trong chuỗi làm điểm quy chiếu, giới hạn ở các quan hệ thời gian gồm hai thành tố (điểm/mốc quy chiếu và sự tình được quy chiếu) Tuy nhiên thực tế quan sát cứ liệu trên nhiều ngôn ngữ cho thấy tồn tại cả các quan hệ thời gian gồm ba thành tố (Kranjec, 2006; Evans, 2009, 2013; Zinken 2010; Bender và nnk., 2010, 2014; Tenbrink, 2011) Mặt khác các quan niệm này chưa phân biệt giữa điểm/mốc quy chiếu với gốc của hệ toạ độ, là
sự phân biệt có hiệu lực và quan yếu ở các quan hệ thời gian gồm ba thành tố
Thuộc hướng thứ hai có các tác giả như Kranjec (2006), Evans (2009, 2013), Zinken (2010), Bender và cộng sự (2010, 2014), Tenbrink (2011)
Khác với các tác giả ở nhóm trước, các tác giả ở nhóm này xác lập hệ thống khung quy chiếu gồm ba loại Tuy nhiên có sự khác biệt trong cách họ dán nhãn thuật ngữ, hoặc cùng thuật ngữ nhưng cách xác lập nội hàm và ngoại diên của khái niệm khác nhau
Kranjec (2006) đề xuất hệ thống ba bộ khung thời gian là bộ khung thời gian ngoại tại, bộ khung thời gian trực chỉ và bộ khung thời gian nội tại Bộ
khung thời gian ngoại tại (extrinsic temporal framework) dựa trên khái niệm “thời gian tự thân” (“time itself”), với cách hiểu thời gian là “một phông nền, hoặc một thứ gì đó chuyển động về phía trước, độc lập với các sự tình cụ thể được nhúng vào trong nó” (time itself is a backdrop, or something understood to move forward, independent of particular events embedded within it” (Kranjec, 2006, tr.450) Ví
dụ (4) sau được Kranjec (2006) dùng minh họa cho bộ khung thời gian ngoại tại:
(4) Time flows on forever
‘Thời gian trôi mãi mãi’
“Thời gian không ngừng trôi.”
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 205
Hai khung quy chiếu kia theo quan niệm của Kranjec là bộ khung thời gian trực chỉ (deictic temporal framework) và bộ khung thời gian nội tại (intrinsic temporal framework) Khái niệm bộ khung thời gian trực chỉ của Kranjec tương đương với khung quy chiếu dựa vào Ego của Moore (2004, 2006) và ẩn dụ điểm quy chiếu Ego của Núñez và Sweetser (2006) Bộ khung thời gian nội tại dựa trên
cơ sở mối quan hệ sớm hơn/muộn hơn giữa các sự tình trong chuỗi, tương tự với khung quy chiếu dựa vào trường của Moore (2004, 2006) và ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian của Núñez và Sweetser (2006)
Như vậy điểm khác biệt giữa Kranjec với các tác giả trước đó nằm ở bộ khung thời gian ngoại tại
Zinken (2010) phân tích khung quy chiếu thời gian dựa trên nền tảng sự
phân biệt triết học giữa sêri A và sêri B Sêri A xem xét thời gian trong sự chuyển đổi trạng thái liên tục của nó, từ tương lai trở thành hiện tại rồi đi vào quá khứ Sêri A được mã hoá trong ngôn ngữ dưới phạm trù thì Theo quan điểm sêri B, thời gian là tập hợp các mối quan hệ sớm hơn/muộn hơn giữa các sự tình Hệ thống
của Zinken (2010) bao gồm ba khung quy chiếu là khung quy chiếu nội tại, khung quy chiếu tương đối và khung quy chiếu tuyệt đối Zinken phân biệt
giữa mốc quy chiếu và gốc của hệ toạ độ Khung quy chiếu nội tại có cấu trúc song
tố, thực thể Hình được định vị trong quan hệ với thực thể Nền Thực thể Nền đồng thời là gốc của hệ toạ độ Ego giữ vai trò là thực thể Nền trong quy chiếu Ví dụ được ông đưa ra cho khung quy chiếu nội tại là:
(5) I have a fun afternoon in front of me
‘Tôi có một vui vẻ buổi chiều phía trước tôi’
“Một buổi chiều vui vẻ đang đợi tôi.”
Có thể thấy về bản chất ví dụ trên tương tự ví dụ (1) và ví dụ (2) Zinken xác định Hình trong ví dụ (5) là ‘afternoon’, còn Nền là ‘me’, tức Ego Ego vừa là Nền vừa là gốc của hệ toạ độ xác lập khung quy chiếu Quan hệ thời gian phản ánh trong khung quy chiếu nội tại thuộc về sêri A Zinken cũng cho rằng cách xác lập thời gian theo sêri A sẽ không áp dụng được với quan hệ thời gian được phản ánh bằng khung quy chiếu tương đối Như vậy, khái niệm khung quy chiếu nội tại của Zinken tương ứng với khung quy chiếu dựa vào Ego của Moore (2004, 2006,
2011, 2014) và ẩn dụ điểm quy chiế Ego của Núñez và Sweetser (2006)
Demo Version - Select.Pdf SDK