Với kinh nghiệm được đúc rút trong quá trìnhchỉ đạo, thực hiện nuôi dưỡng bán trú từ nhiều năm trước và thực tế của đơn vị, nhóm tác giả mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số giải pháp tổ ch
Trang 1I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên sáng kiến: Một số giải pháp tổ chức nuôi dưỡng đối với học sinh bán trú không được hưởng chế độ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP tại trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Chức vụ công tác: Hiệu trưởng
Nơi làm việc: Trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia
Điện thoại: 0988.466.513
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 30%
Trang 23 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Bán trú.
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Trong năm học 2017-2018 và các năm
tiếp theo (khi chưa có chế độ hỗ trợ) nhằm mục đích:
Nuôi dưỡng học sinh đảm bảo các hoạt động bán trú nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện đảm bảo các tiêu chí xây dựng trường chuẩn Quốc gia đónggóp vào công tác xây dựng nông thôn mới của địa phương
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia
Địa chỉ: xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
* Sự cần thiết
Trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia được chia tách từ trường Tiểuhọc xã Ta Gia Căn cứ Công văn số 1587/UBND-VX ngày 30/12/2010 củaUBND tỉnh Lai Châu về việc triển khai thực hiện và thành lập và phát triển hệthống trường phổ thông dân tộc bán trú và Công văn số 1248/SGDĐT-KHTCngày 31/12/2010 của Sở GD&ĐT Lai Châu về việc triển khai thành lập trườngphổ thông dân tộc bán trú, trường được chuyển đổi sang mô hình trường bán trú
từ năm học 2011-2012 đến nay Hàng năm PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gialuôn duy trì hơn 170 học sinh bán trú Tuy nhiên theo Quyết định 582/QĐ-TTgngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách thôn đặcbiệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số
và miền núi giai đoạn 2016-2020, nhà trường có 69 học sinh ở Bản Hỳ khôngđược hưởng chế độ nuôi dưỡng bán trú Nếu trả 69 học sinh về bản Hỳ học thìtăng 3 lớp cũng như số giáo viên dạy, đồng nghĩa nhà nước sẽ chi trả thêm ngânsách cho giáo viên đứng 3 lớp trên Mặt khác, theo Nghị quyết số 18-NQ/TWngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaXII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thốngchính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” nhà trường không được bổ sungthêm biên chế
Trang 3Thực hiện theo Kế hoạch số 34-KH/HU ngày 21/10/2016 của Huyện ủyThan Uyên về việc ban hành Kế hoạch nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặcbiệt khó khăn huyện Than Uyên giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 422/KH-PGD&ĐT ngày 20/9/2017 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Than Uyên về việcthực hiện Quyết định số 1844/QĐ-UBND về đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo, Quyết định số 1071/QĐ-UBND về nâng cao chất lượng giáo dụcvùng đặc biệt khó khăn của UBND tỉnh tại huyện Than Uyên năm học 2017-
2018 trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia đã quan tâm chỉ đạo quyết liệttrong công tác huy động học sinh ra lớp, nâng cao tỷ lệ chuyên cần, chất lượnghọc sinh Đặc biệt nhà trường phấn đấu năm học 2017-2018 đạt mức chất lượngtối thiểu để xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia vào năm học 2019-2020 Vìvậy, công tác nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được đặtlên hàng đầu Đứng trước tình trạng trên không nuôi dưỡng được học sinh bántrú bản Hỳ, phải đưa học sinh về điểm bản học nhà trường sẽ không đủ số lớphọc, số giáo viên giảng dạy, tỷ lệ chuyên cần không đảm bảo, sẽ ảnh hưởng đếnmục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường Nhưng nếutiếp tục nuôi dưỡng học sinh bán trú như đã thực hiện thì kinh phí cũng không phải lànhỏ
Trước thực trạng này, với góc độ trách nhiệm là những người làm côngtác giáo dục, người trực tiếp nuôi dưỡng các em chúng tôi nhận thấy rằng: cầnphải tìm ra các giải pháp phù hợp, sát với điều kiện thực tế của ngành và địaphương để chỉ đạo và thực hiện Với kinh nghiệm được đúc rút trong quá trìnhchỉ đạo, thực hiện nuôi dưỡng bán trú từ nhiều năm trước và thực tế của đơn vị,
nhóm tác giả mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số giải pháp tổ chức nuôi dưỡng đối với học sinh bán trú không được hưởng chế độ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP tại trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu”.
* Mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Khắc phục những khó khăn về kinh phí để đưa ra các giải pháp mới thiếtthực, hiệu quả nhằm nuôi dưỡng đảm bảo học sinh không được hưởng chế độ
Trang 4theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện vàđáp ứng mục tiêu xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia vào năm học 2019-2020.
2 Phạm vi triển khai thực hiện
Tập trung vào các giải pháp nuôi dưỡng học sinh không được hưởng chế
độ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP tại trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia,huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
3 Mô tả sáng kiến
3.1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
a) Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
Trong những năm qua Thực hiện Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày02/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy chế tổ chức vàhoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú, Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chínhsách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú ở vùng có điềukiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày27/12/2008 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh vàbền vững tại 61 huyện nghèo, trong những qua trường PTDTBT Tiểu học số 1
xã Ta Gia đã làm tốt công tác nuôi dưỡng, tuyên truyền vận động học sinh ra ởbán trú, xây dựng môi trường học tập tự giác, góp phần nâng cao tỉ lệ huy độnghọc sinh ra lớp, tỉ lệ chuyên cần và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đã đề ra
b) Một số ưu điểm của giải pháp cũ
Nhà trường đã đưa ra nhiều giải pháp chỉ đạo công tác nuôi dưỡng họcsinh bán trú đem lại hiệu quả:
Công tác quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, rèn kỹ năng sống tự phục vụ chohọc sinh và giáo dục học sinh có nề nếp đem lại hiệu quả tốt hơn
Thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến và nấu ăn Đảm bảo việc công khai chế độ khẩu phần ăn của học sinh, niêm yết cụthể hàng ngày
Các hoạt động ngoài giờ học của học sinh thực hiện có nề nếp, đúng thờigian biểu, học sinh có kỹ năng và ý thức lao động tự phục vụ tốt
Trang 5Giải quyết được các khó khăn về tài chính khi đưa học sinh từ điểm lẻ vềtrung tâm học.
Đem lại hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội hóa giáo dục
c) Một số hạn chế trong việc thực hiện giải pháp cũ
Trong những năm qua nhà trường đã bám vào các giải pháp để duy trì vềhoạt động chăm sóc nuôi dưỡng cho học sinh bán trú Tuy nhiên các giải pháp
đã thực hiện trong những năm qua chỉ áp dụng cho những học sinh được hưởngchế độ bán trú Nếu cứ áp dụng những giải pháp cũ để thực hiện thì không đemlại hiệu quả cho số học sinh không được hưởng chế độ bán trú
Các giải pháp cũ đã thực hiện song vẫn chưa đem lại hiệu quả thiết thựcnhất là số lượng học sinh bán trú đông, số học sinh không được hưởng chế độmuốn duy trì công tác chăm sóc, nuôi dưỡng kinh phí không phải là nhỏ Chonên nếu duy trì những giải pháp cũ đó sẽ không khắc phục được tình trạng thiếunguồn kinh phí để chăm sóc, nuôi dưỡng cho học sinh và duy trì tỷ lệ chuyêncần cũng như đẩy mạnh chất lượng giáo dục toàn diện
Theo Quyết định 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II,khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020, bản Hỳ
xã Ta Gia không thuộc thôn bản đặc biệt khó khăn Việc đã quen được hưởngnhững chính sách của nhà nước nay có sự thay đổi ảnh hưởng không nhỏ đếntâm lý của đại đa số phụ huynh học sinh
Việc duy trì chế độ nuôi dưỡng của học sinh không được hưởng chế độtheo nghị định 116 cần sự giúp đỡ, quan tâm của tất cả các lực lượng xã hội hóagiáo dục, phải được sự đồng thuận của các cấp và phải có sự nỗ lực khôngngừng của những người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trong trường bán trú đểđảm bảo đáp ứng một phần nhu cầu cho các em
* Nguyên nhân của những hạn chế
Chính sách có sự thay đổi: Chính phủ ban hành Nghị định số 116/NĐ-CPngày 18/07/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã,thôn đặc biệt khó khăn, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/9/2016 Đối chiếu
Trang 6với các quy định nêu tại Nghị định này thì Quyết định số 582/2017/QĐ-TTCP cóhiệu lực từ ngày 28/4/2017 phê duyệt một số xã, bản không thuộc xã, bản vùngIII Theo đó nhà trường có 69 học sinh ở Bản Hỳ không được hưởng chế độ nuôidưỡng bán trú sẽ không được hưởng chế độ bán trú
Nhận thức của nhân dân: theo quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CPngày 27/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèonhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo thì tất cả các xã thuộc các huyệnnghèo đều được hưởng các cơ chế, chính sách quy định như đối với xã đặc biệtkhó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn II Chính vì vậy nhân dân vẫn nghĩ
và đã đi sâu vào tiềm thức là con em mình luôn được hưởng chế độ, không phảinộp gì hết khi đến trường
Công tác tuyên truyền còn hạn chế do thiếu kinh nghiệm và thiếu kiếnthức của một số cán bộ người địa phương Việc cập nhật một số văn bản mới vềchế độ, chính sách của người học chưa kịp thời, thiếu nghiên cứu sâu nên côngtác tuyên truyền hiệu quả thấp
Các giải pháp cũ đã đưa ra chưa cụ thể và chưa vận dụng vào thực tế chođối tượng học sinh không được hưởng chế độ bán trú nên không phù hợp
Sau khi áp dụng “Một số giải pháp tổ chức nuôi dưỡng đối với học sinh bán trú không được hưởng chế độ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP tại trường PTDTBT Tiểu học số 1 xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu” bước đầu
đã đem lại hiệu quả rõ rệt
3.2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
a) Tính mới của giải pháp
Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của các giải pháp cũ đồng thời đưa racác giải pháp mới mang tính thiết thực, sáng tạo, khoa học, sát với điều kiệnthực tế của ngành và địa phương nhằm khắc phục những hạn chế của các giảipháp cũ để nuôi dưỡng đảm bảo học sinh không được hưởng chế độ theo Nghịđịnh 116/2016/NĐ-CP góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tạonên sự đồng thuận, chung tay góp sức của toàn thể học sinh, phụ huynh, giáo
Trang 7viên và các ban ngành, đoàn thể của xã trong việc giáo dục, nuôi dưỡng, chămsóc và hướng dẫn các em Tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức của tất cảphụ huynh khi cho con, em cắp sách đến trường.
b) Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ
Các giải pháp mới có tính đồng bộ, thiết thực, huy động sự sáng tạo, cốgắng nỗ lực khắc phục khó khăn để tổ chức thực hiện
Phát huy tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết trong tập thể nhà trường, sụchung tay góp sức của chính quyền địa phương và bà con nhân dân nhằm thựchiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của ngành và địa phương
Vận dụng tối đa công tác xã hội hóa giáo dục để duy trì mô hình trườngbán trú đạt hiệu quả cao về công tác nuôi dưỡng cũng như các hoạt động giáodục của nhà trường
Trang 8Chúng tôi đã cung cấp một số văn bản có liên quan đến việc không đượchưởng chế độ của học sinh, cùng với các đoàn thể của xã nghiên cứu, xin ý kiếncủa lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban tìm hướng thuyết phục phụ huynh chung tay cùngvới nhà trường Cùng đề xuất phương án, động viên phụ huynh phối hợp cùngnhà trường đến trường nấu ăn, hướng dẫn học sinh trồng rau, chăn nuôi và ngủcùng con em để phụ huynh nắm được cách giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc vàsinh hoạt hàng ngày của con em họ Sau những ý kiến trái chiều của phụ huynh và
sự chân tình của cán bộ, giáo viên, phụ huynh bị thuyết phục đáng kể khi chúngtôi đưa ra đề xuất trải nghiệm như vậy nên đã hài lòng, an tâm đưa con em đến ở bántrú
Đó là kết quả bước đầu để chúng tôi thực hiện đưa học sinh bản Hỳ vềtrung tâm ở bán trú, cũng là thành công bước đầu khi tiếng nói của nhà trường,của lãnh đạo các ban ngành đoàn thể xã thôi thúc sự chung tay của phụ huynhchăm lo cho con em đến trường
Trang 9Nhà trường và các ban ngành đoàn thể trong xã tuyên truyền, vận động nhân dân
Giải pháp thứ hai: Tổ chức hiệu quả các hoạt động tăng gia, chăn nuôi.
Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo Than Uyên bố trí khuvực bán trú của nhà trường riêng biệt với diện tích rộng Nhà trường bố trí vườnrau rộng hơn 800m2, khu chính được trồng các loại rau ngắn ngày theo mùa(chia làm 24 luống), khu vực xung quanh vườn trồng bí, trồng cây chùm mây,rau ngót và các loại rau gia vị Vườn đảm bảo có các loại rau gối vụ theo cácmùa Khu vục chăn nuôi gồm 03 ngăn nuôi lợn, 01 ngăn nuôi gà, có đủ bể chứaphân của lợn gà, đảm bảo dễ làm vệ sinh hàng ngày
Trang 10Hàng ngày theo kế hoạch thời gian biểu được phân công của nhóm thànhviên trong ca trực đã sắp xếp hợp lý Nhà trường đã phân công giao trách nhiệmcho 01 đồng chí Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính, một đồng chí giáoviên làm Trưởng tiểu ban quản lý bán trú Hai đồng chí chịu trách nhiệm giámsát, theo dõi, đôn đốc nhắc nhở và kiểm tra sát sao từng ngày, có lịch phân côngnhiệm vụ và thời gian biểu cụ thể rõ ràng, trách nhiệm của từng thành viên trong
ca trực Cán bộ, giáo viên từng ca trực cùng với phụ huynh học sinh hướng dẫncác em trồng và chăm sóc rau, cách cho ăn, tắm rửa, vệ sinh chuồng trại vào mỗibuổi chiều Vườn rau luôn được trồng các loại rau gối vụ để luôn duy trì tốtkhẩu phần rau xanh các bữa ăn hàng ngày
Nguồn phân bón để phục vụ cho công tác trồng rau, các lớp huy độnghọc sinh đem phân tại nhà để chăm sóc Ngoài ra còn sử dụng phân chuồng đãđược xử lý lấy hoai mục từ việc chăn nuôi lợn, gà của khu bán trú
Ngoài việc trồng những loại rau, nhà trường đã duy trì và mở rộng thêmviệc chăn nuôi lợn, gà để có thêm thực đơn cho bữa ăn Từ việc làm đó đã hìnhthành nên ý thức tự phục vụ bản thân hình thành nhân cách và phẩm chất đạođức tốt, chăm học, chăm làm, phát huy tinh thần độc lập sáng tạo trong cuộcsống sau này Đó chính là mục tiêu chính của nghị quyết số 29/NQ-TW về xâydựng giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành cácyếu tố đầu tiên của nhân cách con người
Nhà trường luôn quan tâm chú ý đến chất lượng, an toàn vệ sinh thựcphẩm, từ khâu chăm sóc đến khâu chế biến thực phẩm luôn chú ý theo hướngdẫn của bộ y tế về kiểm định 3 bước cũng như lưu mẫu thức ăn hàng ngày luônthực hiện nghiêm túc
Để tăng năng suất thu nhập về các loại rau, nhà trường cùng với các tổchức đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh niên, các chi đội cùng tham gia thi đuatrồng và chăm sóc rau, phân công chia luống cho các lớp, khuyến khích độngviên các lớp có sản lượng rau nhiều nộp về nhà trường Nên hầu hết số lượngrau thu mua của việc tăng gia sản xuất rẻ hơn giá thu mua thị trường
Trang 11Giáo viên hướng dẫn học sinh bán trú chăm sóc rau
Các em học sinh bán trú trồng rau xanh
Để lấy nguồn lương thực chăn nuôi lợn, gà chúng tôi tận dụng từ những sảnphẩm chế biến thức ăn của học sinh như các lá rau già, cơm thừa mà học sinhkhông ăn hết để lấy nguồn nuôi cho gia súc, gia cầm Ngoài ra để chống lãng phínhững sản phẩm chế biến từ thực phẩm
Trang 12Các em học sinh bán trú chăn nuôi
Mỗi ngày các em đều thay ca nhau dọn vệ sinh chuồng trại để tránh ônhiễm môi trường, mỗi nhóm được phân công tự giác ý thức việc chăm sóc giasúc, gia cầm Thông qua việc làm đó giúp các em biết chia sẻ những khó khăn,đoàn kết, biết yêu quý hơn những con vật nuôi trong gia đình, giáo dục thêm kỹnắng sống cho các em
Việc tăng gia sản xuất không những giải quyết được những khó khăn vềmặt tài chính trong công tác nuôi dưỡng mà bên cạnh đó các em được sử dụngđược ăn những sản phẩm do chính bàn tay của các em lao động đã đem lại niềmvui, tự hào và tiết kiệm, hình thành giáo dục nhân cách con người mới
Từ những giải pháp đưa ra về tăng gia trồng trọt và chăn nuôi trong nhữngnăm qua thống kê lại được các số liệu cụ thể như sau:
Trồng rau, củ quả
Năm học Diện tích đất Rau, quả Thành tiền
2014-2015 225 m2 250 kg 5.000.000 đồng
2015-2016 800 m2 750 kg 15 000.000 đồng