1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

một số biện pháp nâng cao kiến thức về từ loại tiếng việt cho giáo viên trong tổ chuyên môn

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GD & ĐT LƯƠNG SƠNTRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀ SƠN B NGUYỄN THỊ CÚC MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KIẾN THỨC VỀ TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN TRONG TỔ CHUYÊN MÔN... Cơ sở lý luận: Trong Đi

Trang 1

PHÒNG GD & ĐT LƯƠNG SƠN

TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀ SƠN B

NGUYỄN THỊ CÚC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KIẾN THỨC

VỀ TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN TRONG

TỔ CHUYÊN MÔN

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương II – NỘI DUNG I – Cơ sở lý luận 3

II – Thực trạng 3

III – Một số biện pháp đã tiến hành 4

IV – Hiệu quả 11

Chương III – KẾT LUẬN 13

Trang 3

Chương I ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân

Do vậy người giáo viên Tiểu học có vị trí, vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức, kĩ năng và phát triển toàn diện Ở các trường tiểu học, giáo viên được sinh hoạt theo các tổ chuyên môn, mỗi tổ chuyên môn hoạt động theo đặc thù riêng theo từng khối lớp Hiện nay, nhiều trường,

số thành viên trong mỗi tổ không đồng đều: có tổ nhiều thành viên, có tổ ít thành viên do phụ thuộc vào số lượng học sinh,

số lớp của trường đó Trường tôi có hai tổ chuyên môn, tổ 1+2+3 và tổ 4+5 Các thành viên trong tổ thường không cố định mà thay đổi hằng năm do vậy về chuyên môn của giáo viên cũng không đồng đều Một số giáo viên vẫn còn bỡ ngỡ với chương trình, phương pháp Một số giáo viên còn hạn chế

bề dày kinh nghiệm giảng dạy ở khối lớp đó Mức độ nhận thức về nội dung giảng dạy của các giáo viên không giống nhau Cùng là một nội dung, một mảng kiến thức nhưng không phải giáo viên nào cũng hiểu như nhau Nhất là những nội dung kiến thức trong chương trình Toán và Tiếng Việt lớp 4

và 5 Có giáo viên hiểu rất rõ và sâu, nhận dạng và phân biệt chúng rất tường minh nhưng cũng có người thì hiểu không chắc chắn, nhất là với những người không được dạy thường xuyên lớp 4 và 5 Trong đó, có giáo viên chưa hiểu rõ kiến thức

về từ loại Tiếng Việt và cách phân biệt chúng

Thực tế cho thấy, ngoài tâm huyết với nghề, một người giáo viên có phương pháp dạy học tốt nhưng nội dung kiến thức cần giảng dạy chưa hiểu sâu, hiểu rộng thì chất lượng giảng dạy không thể có hiệu quả cao được Ngược lại, một giáo viên có kiến thức vững vàng mà phương pháp giảng dạy không linh hoạt thì phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng

Trang 4

giảng dạy Như vậy, muốn nâng cao chất lượng giảng dạy đòi hỏi người giáo viên cần nắm chắc kiến thức và biết vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy Hiện nay không có nhiều giáo viên hội tụ được cả hai yếu tố trên Nhưng nếu mỗi giáo viên đều có ý thức tự học, tự bồi dưỡng, học hỏi đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì chắc chắn chất lượng giảng dạy dần dần sẽ đạt hiệu quả cao Với những thực tế trên, người tổ trưởng như tôi luôn trăn trở để tìm cách nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học của giáo viên trong tổ Một số năm gần đây, ngoài việc tiếp thu, học hỏi và vận dụng đổi mới về phương pháp giảng dạy thì việc nâng cao kiến thức cho giáo viên là một vấn đề mà tôi rất quan tâm Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh Thúc đẩy ý thức tự học, tự bồi dưỡng, xây dựng mối đoàn kết ngày càng bền chặt giữa các giáo viên trong tổ chuyên môn Từng bước xây dựng tổ chuyên môn vững mạnh Xuất phát từ

những lý do trên, tôi mạnh dạn áp dụng “Một số biện pháp nâng cao kiến thức về từ loại Tiếng Việt cho giáo viên trong tổ chuyên môn”

Trang 5

Chương II NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận:

Trong Điều lệ trường Tiểu học, điều 18 Tổ chuyên môn,

khoản 2, mục b ghi cụ thể: “Tổ chuyên môn có nhiệm vụ Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường” Như vậy, nhiệm vụ tổ chuyên

môn rất quan trọng Trong Điều lệ trường Tiểu học, điều 34

Nhiệm vụ của giáo viên, khoản 1có ghi: “Thực hiện nhiệm vụ giáo dục theo mục tiêu của chương trình giáo dục tiểu học và kế hoạch giáo dục của nhà trường; chuẩn bị bài, lên lớp, đánh giá học sinh; quản lí học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục” Vì vậy, mục

tiêu chính của mỗi giáo viên trong tổ chuyên môn là nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo được học sinh đạt chuẩn kiến thức – kĩ năng, phát triển được học sinh có năng khiếu Để đạt được mục tiêu này, bất

kể trong một phạm vi kiến thức nào để dạy cho học sinh thì trước tiên người giáo viên phải hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu nội dung đó Khi dạy các kiến thức về từ loại trong Tiếng Việt ở các lớp 4 - 5 cũng như vậy, người giáo viên phải nắm chắc

Trang 6

khái niệm, phân biệt thành thạo được từng loại từ ở trong từng văn cảnh thì khi dạy cho học sinh mới dễ dàng

II Thực trạng:

Các thành viên trong tổ chuyên môn 4 – 5 trường Tiểu học Hòa Sơn B luôn có tinh thần đoàn kết, có ý thức học hỏi lẫn nhau để cùng nâng cao chất lượng giảng dạy Tuy nhiên mức độ nhận thức và hiểu nội dung kiến thức ở từng đơn vị kiến thức của mỗi giáo viên là không giống nhau Đầu năm

2015 – 2016, qua khảo sát thực tế về mức độ nhận thức và phân biệt từ loại trong Tiếng Việt ở lớp 4 – 5 của giáo viên trong tổ thì có kết quả như sau:

Mức độ phân biệt từ loại Tổng số

GV

Kết quả

Hiểu và phân biệt được các từ loại

dạng đơn giản

Hiểu và phân biệt được các từ loại

dạng phức tạp

Vận dụng để giải quyết được các

bài tập, các tình huống thực tế có

sử dụng từ loại

Như vậy, nhìn vào bảng ta thấy : Hầu hết giáo viên đã biết khái niệm, phân biệt được các từ loại đơn giản Dạng từ loại phức tạp thì vẫn còn 2 giáo viên trong tổ chưa phân biệt được

Trang 7

Vận dụng để giải quyết được các bài tập, các tình huống thực

tế có sử dụng từ loại thì chỉ có 5 giáo viên thực hiện tốt

III Một số biện pháp đã tiến hành:

1 Định hướng cho giáo viên tự nghiên cứu và tìm hiểu nội dung kiến thức:

Sau khi đã được nhà trường quyết định thành lập tổ chuyên môn, ngay trong cuộc họp để xây dựng kế hoạch tổ, tôi đã định hướng cho giáo viên về tự nghiên cứu và tìm hiểu các mảng kiến thức cơ bản về Toán và Tiếng Việt lớp 4 và lớp

5 như : các phương pháp so sánh phân số, giải toán về tỉ số phần trăm, bài toán về chuyển động đều (môn Toán) ; Cấu tạo của từ, từ loại, phân biệt các kiểu câu (môn Tiếng Việt) Các nội dung trên sẽ được thảo luận và thực hiện trong cả năm học Trong các nội dung đó thì mảng kiến thức về khái niệm

và cách phân biệt từ loại (đó là 5 loại từ được học trong chương trình lớp 4 và lớp 5) sẽ được tìm hiểu trước để phù hợp với nội dung, chương trình sách giáo khoa (ở lớp 4, từ tuần 5

đã bắt đầu học về từ loại; ở lớp 5, bắt đầu học về từ loại từ tuần 9)

2 Lập kế hoạch thời gian nghiên cứu và thảo luận chung:

Trong buổi họp thứ hai (sau khi đã xây dựng xong kế hoạch tổ), tôi đã tổ chức trao đổi, thảo luận, tham khảo ý kiến của các thành viên trong tổ và thống nhất về thời gian, kế hoạch tự nghiên cứu của mỗi giáo viên

- Thời gian tự nghiên cứu, thu thập, tìm hiểu là 1 tháng

- Thời gian thu thập và thảo luận về kết quả tự tìm hiểu là vào cuộc họp chuyên môn cuối tháng 9

Trang 8

3 Tự nghiên cứu và tìm hiểu kĩ các kiến thức về từ loại:

Công tác tự nghiên cứu, tự tìm hiểu kiến thức là vô cùng quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, đào sâu suy nghĩ

để có kiến thức chắc và sâu Sau khi đã xây dựng chuyên đề theo kế hoạch, các thành viên trong tổ tự giác tìm tài liệu tham khảo, tìm hiểu kiến thức về khái niệm các từ loại và cách phân biệt các loại từ một cách nghiêm túc và có hiệu quả

4 Trao đổi, thảo luận và thống nhất nội dung:

Khi đến đúng thời gian đã thống nhất, các thành viên trong tổ lần lượt nêu kết quả nghiên cứu của mình Để tạo tâm thế thoải mái cho mọi người, tôi không áp đặt phải trình bày bài bản mà biết đến đâu, biết như thế nào thì nói như thế nhưng trọng tâm là khái niệm và cách phân biệt các loại từ loại, có ví dụ kèm theo Chính vì thế nên không khí của cuộc trao đổi rất sôi nổi, nhất là những đồng chí đã có kinh nghiệm trong quá trình dạy lớp 4+5

Chúng tôi đã thống nhất một số nội dung kiến thức về từ loại trong Tiếng Việt của lớp 4+5 như sau:

- Khái niệm chung về từ loại: Là các loại từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát

- Các loại từ loại trong chương trình lớp 4+5 gồm 5 loại: danh từ, động từ, tính từ (chương trình lớp 4) ; đại từ, quan hệ

từ (chương trình lớp 5)

- Các khái niệm cụ thể và đặc điểm về từng loại từ loại: Danh từ, Động từ, Tính từ, Đại từ và Quan hệ từ

Trang 9

- Cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ (trong cụm danh từ, cụm động

từ, cụm tính từ thì có một từ giữ vị trí trung tâm, những từ khác đi kèm là các phần phụ bổ sung ý nghĩa cho từ trung tâm)

- Phân biệt cụm danh từ với từ ghép: Trong tiếng Việt, nhiều khi cụm danh từ có hình thức giống với từ ghép có nghĩa phân loại Để xác định được đâu là từ ghép, đâu là cụm danh từ, cần phải đặt chúng vào trong câu, từ đó xác định nghĩa của chúng

VD: Trong vườn có nhiều loại hoa: hoa hồng, hoa huệ, hoa lan,

(“hoa hồng” là từ ghép)

Trong vườn hoa thật nhiều màu: hoa hồng, hoa đỏ, hoa trắng,

(“hoa hồng” là cụm danh từ)

- Mục đích sử dụng của đại từ:

+ Sử dụng đại từ để thay thế có tác dụng làm cho câu không bị lặp từ

Ví dụ: Tôi thích văn thơ, em gái tôi cũng vậy.

Chim chích bông sà xuống vườn cải Nó tìm bắt sâu bọ.

+ Dùng để xưng hô: Là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp

- Một số lưu ý khi dùng đại từ:

+ Trong tiếng Việt, có những đại từ vừa có thể được dùng để chỉ ngôi thứ nhất, vừa có thể được dùng để chỉ ngôi thứ hai

VD: Mình về mình có nhớ ta (mình: ngôi thứ hai – chỉ người nghe).

+ Có những đại từ số nhiều vừa bao gồm người nói, vừa bao gồm người nghe

VD: Chúng ta là giáo viên.

+ Để xưng hô, ngoài các đại từ chuyên dụng, người Việt còn sử dụng nhiều danh từ như đại từ Đó là: Quan hệ họ hàng: bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, em, … VD: Mẹ cho con đi chợ với

Hoặc theo nghề nghiệp, chức vụ, xã hội: giám đốc, thủ trưởng, thầy, bạn, … VD: Giám đốc gọi em có việc gì vậy ?

- Các từ xưng hô trong tiếng Việt luôn kèm sắc thái tình cảm và thể hiện rõ thứ bậc, quan hệ, … Khi xưng hô, cần chú ý lựa chọn từ xưng hô cho lịch sự

Trang 10

phù hợp với quan hệ giữa người nói với người nghe và người (vật) được nhắc tới

* Một số cách phân biệt danh từ, động từ, tính từ:

Với đại từ và quan hệ từ thì chỉ cần dựa vào khái niệm là ta có thể phân biệt chúng tương đối dễ dàng Nhưng trong thực tế, có rất nhiều danh từ, động

từ, tính từ chúng ta thấy khó phân biệt Để nhận dạng danh từ, động từ, tính từ ngoài ý nghĩa khái quát, chúng ta có thể nhận dạng chúng vào khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp của từ Tức là ta phải dựa vào văn cảnh để hiểu nội dung cần biểu đạt của từ đó trong câu

VD: Cũng là từ cân nhưng:

+ Danh từ: Tôi mới mua một cái cân

+ Động từ: Bác cân hộ tôi với !

+ Tính từ: Bức tranh đặt rất cân.

Cách nhận dạng từng loại từ :

- Danh từ:

+ Danh từ kết hợp được với các từ chỉ lượng như: những, mỗi, toàn bộ, tất

cả,… ở phía trước (và các từ chỉ định như: này, nọ, kia,…cùng các số từ như:

hai, ba, vài,…)

+ Danh từ thường giữ chức vụ chủ ngữ, trạng ngữ trong câu

VD: Tất cả học sinh lớp 5A/ đều đạt danh hiệu học sinh giỏi

VD: những quyển sách này, tất cả học sinh lớp 5A, mỗi bông hoa ấy,…

+ Để xác định danh từ, ta sử dụng công thức sau: “nhiều X lắm”, trong đó

X là danh từ.

VD: nhiều hoa lắm, nhiều áo quần lắm, nhiều cây lắm,…

Lưu ý về danh từ chỉ khái niệm (còn gọi là danh từ trừu tượng): là các

khái niệm chỉ tồn tại trong nhận thức, trong ý thức của con người, không có

hình thù, không cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan Ví dụ: tư tưởng,

đạo đức, khả năng, tính nết, thói quen,

Trang 11

- Động từ:

+ Động từ có khả năng kết hợp với các từ: đã, đang, sẽ, hãy , đừng , chớ, ở phía trước (đang làm, sẽ đến, hãy nhớ, đừng băn khoăn, chớ hồi hộp, ).

Có thể tạo câu hỏi bằng cách đặt sau chúng từ bao giờ hoặc bao lâu (TT không có khả năng này) như (đến bao giờ? chờ bao lâu? ) Với động từ, khi

xác định có thể thêm: đi, nào vào đằng sau (chạy đi! chơi nào!).

+ Động từ thường giữ chức vụ vị ngữ, trong câu, nhưng một số trường hợp động từ giữ chức vụ chủ ngữ, trạng ngữ trong câu

VD1: Cô giáo đang giảng bài.(động từ “giảng” giữ chức vụ vị ngữ trong câu) VD2: Học quả là khó khăn, gian khổ (động từ “học” giữ chức vụ chủ ngữ trong câu)

VD3: Khi đã bình tĩnh lại, chị mới nhìn khắp mấy gian nhà.(động từ “bình tĩnh” giữ chức vụ trạng ngữ; động từ “nhìn” giữ chức vụ vị ngữ trong câu.)

- Tính từ:

+ Tính từ kết hợp được với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi, lắm, quá, cực kì,

vô cùng, (rất tốt, đẹp lắm, ) hoặc có thể thêm từ so sánh hơn vào đằng sau

(rộng hơn, mát mẻ hơn, )

+ Tính từ thường giữ chức vụ vị ngữ trong câu, nhưng một số trường hợp tính

từ giữ chức vụ chủ ngữ, trạng ngữ trong câu

VD1: Cánh đại bàng rất khoẻ (tính từ “khoẻ” giữ chức vụ vị ngữ trong câu) VD2: Sạch sẽ là mẹ sức khoẻ (tính từ “sạch sẽ” giữ chức vụ chủ ngữ trong

câu)

VD3: Với ánh mắt dịu dàng, cô giáo nhìn em, mỉm cười.(tính từ “dịu dàng”

giữ chức vụ trạng ngữ trong câu)

Lưu ý: Các động từ, tính từ đứng sau các từ: cái, sự, cuộc, nỗi, niềm, cơn, những sẽ trở thành danh từ Ví dụ: Các từ “vui, buồn ” là động từ Nhưng các từ “niềm vui, nỗi buồn” lại là danh từ.

Như vậy, đại từ và quan hệ từ thì chỉ cần dựa vào khái niệm là ta có thể phân biệt chúng tương đối dễ dàng nhưng những danh từ, động từ, tính từ khó phân biệt thì ta phải dựa vào cả 3 tiêu chí: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp

Trang 12

với những từ ngữ khác và chức vụ ngữ pháp của từ Nghĩa là phải dựa vào ngữ cảnh để phân biệt Hơn nữa, hiện tượng các từ có cùng hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về từ loại trong tiếng Việt là rất phổ biến Thông qua các cách phân biệt từ loại của những từ này, mỗi giáo viên sẽ nhận thức được một cách sâu sắc các đặc trưng ngữ pháp của mỗi từ loại và đặc điểm của chúng

5 Thực hiện các bài tập nâng cao về nhận dạng các loại từ loại.

Qua buổi trao đổi thống nhất về nội dung và một số cách phân biệt từ loại, giáo viên trong tổ đã biết cách phân biệt, tôi đã sưu tầm một số bài tập nâng cao và giao cho giáo viên thực hiện Các thành viên trong tổ tự thực hiện Trong 2 buổi họp tiếp theo, tôi đã dành thời gian để từng người được nêu đáp án Trong thời gian này, để tạo không khí thoải mái, tôi thường để cho giáo viên tự giác nêu kết quả Tôi nói : ‘‘Các chị em ơi, kết quả của bài tập 1 như thế nào nhỉ !” Cứ như vậy, các chị em trong tổ lần lượt tự giác trả lời Ai hiểu kĩ hơn thì giải thích lý do có được các kết quả để mọi người cùng hiểu và học hỏi lẫn nhau

Một số bài tập :

Bài 1: Xếp các từ gạch chân trong đoạn văn sau thành từng loại: danh từ,

động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ.

Bọ ngựa đẻ xong, người thanh mảnh trở lại Nó quanh quẩn bên cái trứng vài hôm Cái trứng từ màu trắng chuyển sang xanh nhạt, rồi vàng sẫm, rồi nâu bóng, chắc nịch Có lẽ tin rằng đã có thể yên tâm về lứa con sắp ra đời của mình, bọ ngựa mẹ bỏ đi Tôi giận nó từ đấy, và thật là bất công, tôi có ít nhiều

ác cảm với cái trứng bọ ngựa

Bài 2: Xác định từ loại của những từ sau: bình minh, bình lặng, bình tâm,

bình phục, bình nguyên, bình bầu, bình dị, bình phẩm.

Bài 3: Hãy chỉ ra danh từ, động từ, tính từ có trong câu sau:

Ngay thềm lăng, mười tám cây vạn tuế tượng trưng cho một đoàn quân danh

dự đứng trang nghiêm

Bài 4: Đặt các câu sau:

a) Có từ bó là danh từ.

Ngày đăng: 12/10/2022, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Như vậy, nhìn vào bảng ta thấy: Hầu hết giáo viên đã biết khái niệm, phân biệt được các từ loại đơn giản - một số biện pháp nâng cao kiến thức về từ loại tiếng việt cho giáo viên trong tổ chuyên môn
h ư vậy, nhìn vào bảng ta thấy: Hầu hết giáo viên đã biết khái niệm, phân biệt được các từ loại đơn giản (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w