1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo một số TRANH CHẤP điển HÌNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

42 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Một Số Tranh Chấp Điển Hình Trong Luật Doanh Nghiệp Việt Nam
Thể loại báo cáo
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 63,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi chuyển đổi, được sự đồng ý của UBND tỉnh, Ban đổi mới và phát triển doanhnghiệp của công ty tổ chức Đại hội cổ đông các ngày 14-15/4/2003, nhưng chỉ mời các cổđông nắm giữ cổ phầ

Trang 1

BÁO CÁO MỘT SỐ TRANH CHẤP ĐIỂN HÌNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế

Với yêu cầu như trên, Nhóm tác giả hy vọng Báo cáo này sẽ chỉ ra được những nguyênnhân khách quan và chủ quan của các tranh chấp góp phần thúc đẩy việc thi hành LuậtDoanh nghiệp 2005 và là nguồn tham khảo hữu ích cho công tác hoàn thiện Luật Doanhnghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Nhóm tác giả cố gắng thực hiện báo cáo này trên cơ sở tiếp nối Báo cáo “Tập hợp cáctranh chấp điển hình liên quan đến thực hiện Luật Doanh nghiệp (1999)“ được Việnnghiên cứu Quản lý kinh tê Trung ương và Dự án Hỗ trợ cải cách thể chế phát triển kinhdoanh – Vie 01/025 thực hiện năm 2002 Nhóm tác giả cũng nhận thức rằng, các tranhchấp được tập hợp trong báo cáo chưa phải đã đại diện cho hầu hết các tranh chấp xảy ratrong thực tế đời sống của doanh nghiệp, nội dung và phương pháp trình bày trong từngtrường hợp là đầu đủ, hoàn hảo và không sai sót Vì vậy, rất mong nhận được sự bổ sung,gợi ý và đóng góp ý kiến để ngày càng làm phong phú hơn, đầy đủ hơn và chính xác hơn

bộ sưu tập tranh chấp điển hình liên quan đến thực hiện Luật Doanh nghiệp

CÁC TỪ VIẾT TẮT

BKS : Ban Kiểm soát

CP : Cổ phần

CTCP : Công ty cổ phần

DNNN : Doanh nghiệp Nhà Nước

ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông

ĐKKD : Đăng ký kinh doanh

ĐLM : Điều lệ mẫu

GCN ĐKKD : Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

GCN ĐKKD và ĐKT :Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế HĐQT : Hội đồng quản trị

HĐTV : Hội đồng thành viên

LDN : Luật Doanh nghiệp

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 2

PHẦN I MỤC ĐÍCH, PHẠM VI CỦA BÁO CÁO

I Mục đíc của báo cáo.

Trong phạm vi Báo cáo “Tập hợp một số loại tranh chấp điển hình trong các doanh nghiệp Việt Nam“ mục tiêu của Nhóm tác giả là tìm hiểu, phân tích và làm rõ hàng loạt

các vấn đề thực tiễn có liên quan đến các tranh chấp điểm hình diễn ra trong nội bộ doanhnghiệp; những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp trong điều kiện Việt Nam, qua đóđưa ra được các giải pháp góp phần nhằm nâng cao hiệu quả quá trình xây dựng và hoànthiện pháp luật về doanh nghiệp hiện nay Báo cáo còn là tài liệu tham khảo có ý nghĩađối với những thành viên, cổ đông, người quản lý, điều hành doanh nghiệp trong việc xâydựng mối quan hệ tin cậy, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và vì sự phát triển chung củadoanh nghiệp

II Phạm vi của báo cáo.

Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam ta đã và đang từng bước hìnhthành và phát triển; đông đảo về số lượng, đa dạng về loại hình và quy mô ngày càng lớn domôi trường kinh doanh đa dạng và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Theo số liệucủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 03/2009 cả nước có gần 350.000 doanh nghiệpvới số vốn đăng ký lên đến 1.389.000 tỷ đồng (tương đương với 84,1 tỷ USD) trong đó 95%

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ[1] Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm gần 47%

số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân chiếm 36,4% và công ty cổphần chiếm hơn 15% Sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên các lĩnh vựcphát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực chế biến, bán lẻ và dịch vụ thời gian qua đã gópphần không nhỏ trong GDP của cả nước Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện đangchiếm 50% giá trị công nghiệp chế biến thủy sản, 30% giá trị ngành công nghiệp dệt may.Khu vực này cũng là nơi thu hút hơn 90% số lao động mới hàng năm Mục tiêu đến năm

2010, cả nước có 500.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (bao gồm cả các loại công ty

và doanh nghiệp tư nhân)

Đạt được kết quả nói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là chủ trương đổi mớiphát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường và việc thể chế hóa một cáchhợp lý chủ trương đó thành hệ thống pháp luật về doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này Đặcbiệt là bắt đầu từ năm 2000, với sự ra đời và có hiệu lực của Luật Doanh nghiệp 1999 (vàsau này là Luật Doanh nghiệp 2005) đã thực sự thổi một luồng sinh khí mới vào môitrường kinh doanh Hàng chục nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, bổ sung thêmvốn, mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh đã thực sự góp phần vào tăng trưởng kinh tế,tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới và góp phần không nhỏ vào xoá đói giảm nghèo Tác dụng tích cực của Luật Doanh nghiệp đã được Chính phủ, dư luận trong nước vàquốc tế đánh giá cao và được cộng đồng doanh nghiệp tích cực ủng hộ Tuy nhiên, thực tếcho thấy số lượng và quy mô doanh nghiệp tăng cũng đã làm gia tăng số lượng các tranhchấp trong doanh nghiệp Việt Nam Quan sát thực tế chúng tôi nhận thấy sự tranh chấptrong doanh nghiêp Việt Nam có các nhóm chính sau:

Theo đối tượng tham gia tranh chấp, ta có các nhóm:

(i) Tranh chấp giữa chủ doanh nghiệp (cổ đông, thành viên, chủ sở hữu công ty) và

người quản lý doanh nghiệp;

Trang 3

(ii) Tranh chấp giữa các cổ đông, giữa các thành viên về việc góp vốn, chuyển

nhượng cổ phần, phần vốn góp

(iii) Tranh chấp giữa doanh nghiệp với các cơ quan quan quản lý Nhà nước;

Theo khách thể của tranh chấp, ta có các nhóm:

(i) Quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ của cổ đông phổ thông

(ii) Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của cổ đông phổ thông

(iii) Trình tự, thủ tục triệu tập, họp và thông qua quyết định của ĐHĐCĐ

(iv) Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập

(v) Chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên

(vi) Thay đổi thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên

(vii) Việc góp vốn của thành viên Công ty TNHH, của cổ đông sáng lâp Công ty CP

và việc phân chia lợi nhuận

(viii) Bầu bãi miễn thành viên HĐQT; bổ nhiệm Giám đốc/Tổng Giám đốc; thay thế

người đại diện theo pháp luật

(ix) Giám đốc, HĐQT quyết định vượt thẩm quyền hoặc không thực hiện nhiệm vụ

theo quy định của Điều lệ, Luật Doanh nghiệp

Tập hợp các tranh chấp điển hình trong doanh nghiệp sẽ được tiếp cận dưới nhiều giác độ

và trong suốt quá trình10 năm thi hành Luật doanh nghiệp; bao gồm các tranh chấp

được các Toà án của Việt Nam phân xử, các tranh chấp thực tế phát sinh và được giảiquyết thông qua các biện pháp hành chính, các tranh chấp khác được sưu tầm và tuyểnchọn thực tế tiếp xúc và tư vấn, Các tranh chấp chọn lọc trong Báo cáo sẽ được biênsoạn trên nguyên mẫu có kết hợp bổ sung, sửa đổi và trong chừng mực nhất định có đưa

ra một số giả định vừa đảm bảo tính đa dạng vừa bảo đảm tính thực tế của tranh chấp (têncác doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức được sử dụng trong từng tình huống có thể sẽ được

hư cấu, tuy nhiên vẫn đảm bảo không nhằm cụ thể hoá bất kỳ một mục đích cá nhân nào)

Nội dung của từng tranh chấp chủ yếu được trình bày thành 04 phần: (i) Tóm tắt nội dungtranh chấp; (ii) Các vấn đề đặt ra trong tranh chấp; (iii) Giải quyết tranh chấp và (iii)Nguyên nhân và bài học

PHẦN II: MỘT SỐ TRANH CHẤP ĐIỂN HÌNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tranh chấp 01: Về quyền dự họp và trình tự, thủ tục triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp

Ngày 26/12/2002, UBND tỉnh H ra quyết định chuyển đổi công HT (là một DNNN)thành Công ty cổ phần HT; trong đó, số cổ phần bán giá ưu đãi cho người lao động chiếm58,2% (gọi tắt là cổ phần ưu đãi); số cổ phần bán bình thường là 41,8%

Trang 4

Sau khi chuyển đổi, được sự đồng ý của UBND tỉnh, Ban đổi mới và phát triển doanhnghiệp của công ty tổ chức Đại hội cổ đông các ngày 14-15/4/2003, nhưng chỉ mời các cổđông nắm giữ cổ phần mua với giá ưu đãi.

Ngay sau Đại hội cổ đông, mười lăm cổ đông không được mời tham gia ĐHĐCĐ đã cóđơn khởi kiện yêu cầu Toà án hủy bỏ quyết định của Đại hội cổ đông vừa được thông quavới các lý do:

- Không cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông dự đại hội là vi phạm Luật

Doanh nghiệp 1999

- Không phát cho cổ đông Dự thảo điều lệ công ty trước từ 7 đến 15 ngày là

vi phạm luật

- Bỏ phiếu và biểu quyết chưa hợp lệ

Đại diện Công ty cho rằng việc tiến hành Đại hội cổ đông chỉ với số cổ phiếu được mua

ưu đãi là căn cứ vào Quyết định của UBND tỉnh và căn cứ vào đề nghị của công nhântrong công ty Dự thảo điều lệ Công ty tuy không phát cho các cổ đông song đã họp thảoluận thông qua 3 tổ sản xuất trước khi họp Còn Nghị quyết đại hội và những ngườikhông đủ số cổ phiếu theo quy định của điều lệ công ty trúng cử vào Hội đồng quản trị,Ban kiểm soát là do đại hội chỉ lấy số cổ phiếu ưu đãi làm căn cứ

Tòa án Nhân dân tỉnh H đã thụ lý vụ án

2.Các vấn đề đặt ra trong tình huống

· Quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông của cổ đông

· Mời họp ĐHĐCĐ và tài liệu gửi kèm giấy mời họp

· Quyền điều hành công khi ĐHĐCĐ chưa bầu ra Hội đồng quản trị

3 Giải quyết vấn đề

Vấn đề 1: quyền dự họp của ĐHĐCĐ

Căn cứ vào bản khai của các cổ đông, lời khai đại diện Ban đổi mới và phát triển doanhnghiệp Công ty và các tài liệu có tại hồ sơ vụ kiện thì toàn bộ cổ phiếu của công ty đãđược bán hết trước ngày tiến hành ĐHĐCĐ Như vậy, những người đã mua cổ phần củaCông ty dù là mua ưu đãi hay mua không được ưu đãi đều đã là cổ đông của Công tytrước ngày tiến hành họp ĐHĐCĐ

Điều 53 Luật Doanh nghiệp 1999 quy định:

“1 Cổ đông phổ thông có quyền:

a) Tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông;mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;“

Như vậy, theo qui định tại Điều 53, điều 70 của LDN 1999 thì tất cả các cổ đông phảiđược tham dự Đại hội cổ đông để biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội

cổ đông, hơn nữa đây là Đại hội lần đầu để thông qua Điều lệ công ty, bầu Hội đồng quảntrị và ban kiểm soát của Công ty, thông qua định hướng phát triển công ty

Từ đó cho thấy việc Ban Đổi mới tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ lần đầu mà không mờinhững cổ đông thường (không được mua cổ phần ưu đãi) là vi phạm điều 53, điều 70LDN 1999

Vấn đề 2: Mời họp ĐHĐCĐ và tài liệu gửi kèm giấy mời họp

Điều 74 LDN 1999 quy định:

“1 Người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi giấy mời họp đến tất cả cổ đông

có quyền dự họp chậm nhất bảy ngày trước ngày khai mạc

Trang 5

2 Kèm theo giấy mời họp phải có chương trình họp, các tài liệu thảo luận làm cơ sở đểthông qua quyết định“.

Trước khi Đại hội cổ đông, Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp công ty không gửigiấy mời họp đến tất cả các cổ đông có quyền dự họp, chương trình họp và các tài liệu cóliên quan (như các tài liệu về vốn, Dự thảo điều lệ, phương hướng hoạt động của Côngty ) là vi phạm Điều 74 Luật doanh nghiệp 1999

Với những phân tích trên thì cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 14-15/04/2003 được triệu tậpkhông đúng trình tự thủ tục quy định tại LDN 1999 và do đó Nghị quyết của cuộc họpnày là không hợp pháp

Vấn đề 3: Quyền điều hành công khi ĐHĐCĐ chưa bầu ra Hội đồng quản trị

Tòa án sơ thẩm đã hủy nghị quyết đại hội cổ đông Công ty CP HT

Tuy nhiên, Tòa sơ thẩm lại có sự nhầm lẫn khi vẫn công nhận bản Điều lệ được cuộc họp

bị hủy thông qua khi căn cứ vào bản Điều lệ này để kết luận cuộc họp ĐHĐCĐ có viphạm và giao quyền quản lý Công ty cho Hội đồng quản trị được bầu trong cuộc họp nàytrong thời gian chờ tiến hành họp lại HĐCĐ theo quy định của pháp luật

Dễ dàng nhận thấy rằng, do quyết định Đại hội cổ đông bị hủy nên nghị quyết thông quaĐiều lệ công ty cũng bị hủy bỏ nên thực tế Công ty Cổ phần HT chưa có Điều lệ công tynhưng Tòa án sơ thẩm lại căn cứ vào các điều khoản của bản Điều lệ công ty đã đượcthông qua tại "Đại hội cổ đông" để cho rằng Đại hội trên có vi phạm là không chính xác.Mặt khác Tòa án cấp sơ thẩm vẫn giao cho Hội đồng quản trị đã được bầu tại ĐHĐCĐtiếp tục điều hành Công ty là không đúng (vì cuộc họp đã bị hủy bỏ nên đương nhiênHĐQT chưa được bầu) Mà cần giao cho Ban điều hành cũ điều hành Công ty cho đếnkhi đại hội cổ đông bầu đựơc Hội đồng quản trị hợp pháp mới đúng

Những sai sót trên đã được sửa chữa trong quyết định phúc thẩm

4 Nguyên nhân và bài học

Theo quy định của Luật DN 1999 thì tất cả các cổ đông phổ thông đều phải được tham

dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền ĐHĐCĐ tại cuộc họp ĐHĐCĐ nênviệc chỉ mời họp những cổ đông mua cổ phần theo giá ưu đãi là vi phạm nghiêm trọngquyền của cổ đông

Người mời họp phải gửi giấy mời họp đến từng cổ đông chậm nhất 07 ngày trước ngàykhai mạc cuộc họp, kèm theo giấy mời họp phải có chương trình họp, các tài liệu thảoluận làm cơ sở để thông qua quyết định

Có thể nói rằng Tranh chấp này bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết các quy định trong LuậtDoanh nghiệp của Ban đổi mới phát triển doanh nghiệp tại Công ty HT và một số cơquan nhà nước tại tỉnh H (bao gồm cả cơ quan xét xử) Sự việc sẽ đơn giản và tránh đượcthiệt hại cho các cổ đông công ty HT nếu các cơ quan này cẩn trọng hơn trong việc thựchiện các quy định của pháp luật Thực tế, cuộc họp ĐHĐCĐ thành lập công ty cổ phầncủa Công ty HT sau khi được tổ chức lại theo quyết định của Tòa án lại bị một nhóm cổđông khởi kiện ra tòa và vụ kiện này phải thực hiện đến thủ tục Giám đốc thẩm (kéo dàiđến tháng 06/2006)

Mặt khác, sự hiểu biết và tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp nói riêng và phápluật nói chung của một bộ phận cổ đông, người quản lý doanh nghiệp chưa tốt cũng gópphần làm phát sinh tranh chấp trong doanh nghiệp, chưa kể đến việc khiếu kiện kéo dàithường làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của chính doanh nghiệp đó

Trang 6

Thời điểm diễn ra tranh chấp này xảy ra khi Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực đượchơn 02 năm nên chưa thẩm thấu được vào tư duy của cổ đông (đặc biệt đối với nhữngngười lao động trở thành cổ đông của công ty sau quá trình cổ phần hóa), người quản lýcông ty, cơ quan quản lý nhà nước vì vậy, vấn đề đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến phápluật đến các đối tượng trên là vấn đề được rút ra và cần được đẩy mạnh trong suốt quátrình thực hiện pháp luật.

Tranh chấp số 03: Tranh chấp giữa các cổ đông về việc gips vốn thành lập, hoạt

cổ đông sáng lập gồm bà Thu có số cổ phần là 5.000; ông Trường là 2.000 cổ phần, cònlại các bà Lan, Liên và Loan mỗi người có 1.000 cổ phần; ông Trường là Giám đốc và làngười đại diện theo pháp luật của Công ty

Trước đó, ngày 21/4/2006, ông Trường và bà Thu có ký với nhau một hợp đồng hợp đồngthỏa thuận hợp tác thành lập Công ty Cổ phần Thẩm Mỹ XT (sau đây gọi tắt là Công tyXT) kinh doanh ngành nghề phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, địa chỉ tại số 1 Nguyễn Trãi,TP.H, với các điều khoản như sau : bà Thu góp vốn bằng căn nhà số 1 Nguyễn Trãi, TP.Hcòn ông Trường góp bằng tiền sửa chữa mặt bằng, đầu tư trang thiết bị và đầu tư thànhlập Công ty, trong đó, thể hiện phần góp vốn của bà Thu bằng căn nhà số 1 Nguyễn Trãi,TP.H (trong khi căn nhà này thuộc sở hữu chung của Lan, Liên và bà Thu); ông Trườnggóp vốn bằng tiền sửa chữa mặt bằng, đầu tư trang thiết bị, đầu tư thành lập công ty; cácthành viên khác không góp vốn (không có quyền sở hữu tài sản công ty và không đượcphân chia lợi nhuận) Đồng thời, chia lợi nhuận sau khi trừ chi phí hoạt động, được chiađều 50% cho bà Thu và ông Trường Ông Trường cam kết là mình có đủ điều kiện đểhành nghề phẫu thuật thẩm mỹ

Tại điều 6 của hợp đồng hợp tác ngày 21/4/2006 đã nêu “Trường hợp ông Trường tự ýngưng hợp đồng trước thời hạn thì toàn bộ trang thiết bị đã đầu tư sẽ thuộc quyền sở hữucủa bà Thu kèm 50.000 USD tiền mặt.Trường hợp bà Thu tự ý ngưng hợp đồng trướcthời hạn thì toàn bộ trang thiết bị đã đầu tư sẽ thuộc quyền sở hữu của ông Trường kèm50.000 USD tiền mặt‘’

Công ty đi vào hoạt động được hơn 02 tháng và ông Trường đã 02 lần thực hiện dịch vụphẫu thuật thẩm mỹ cho khách hàng trong khi cả bà Thu và ông Trường đều biết Công ty

XT không đăng ký kinh doanh ngành nghề phẫu thuật thẩm mỹ và ông Trường cũngkhông có chứng chỉ hành nghề phẫu thuật thẩm mỹ theo quy định của pháp luật

Do khách hàng có đơn khiếu nại về chất lượng thực hiện các ca phẫu thuật do ôngTrường thực hiện thì Ông Trường thừa nhận không có bằng cấp chuyên môn lĩnh vực này

và đề nghị sẽ thuê bằng của bác sĩ có chuyên môn để tiếp tục hoạt động kinh doanh, bàThu không chấp nhận vì đây là hành vi kinh doanh trái phép Ngày 12/07/2006, các cổđông thống nhất tạm ngừng kinh doanh, nhưng ông Trường và Loan không ký vào biênbản này Sau đó, bà Thu đóng cửa trụ sở Công ty, ngưng hợp đồng với ông Trường trướcthời hạn, và giữ toàn bộ GCN ĐKKD, dấu mộc của Công ty và khoá cửa không cho nhânviên của Công ty vào làm việc

Trang 7

Ngoài ra, ngày 12/7/2006 hai bên đã liệt kê tài sản của Công ty, ngày 28/9/2006 lập biênbản thanh lý tài sản và ngày 29/9/2006 Ông Trường và Bà Thu đã nhận phần tài sản củamình và xác nhận phần tài sản còn lại thuộc về bên kia mà không có thắc mắc gì.

Ông Trường cho rằng bà Thu đã vi phạm điều 6 hợp đồng hợp tác ký ngày 21/04/2006nên đòi bà Thu bồi thường là 800.000.000 đồng tương đương với 50.000 USD và trả lạibằng tiền là 404.788.960 đồng, đây là trị giá toàn bộ trang thiết bị mà Công ty đã đầu tưtrong thời gian hoạt động

Bà Thu cho rằng, ông Trường đã lừa dối về việc mình có đủ điều kiện hành nghề phẫuthuật thẩm mỹ khi hai bên ký hợp đống vì trước đó, ông Trường tự nhận mình là bác sĩphẫu thuật thẩm mỹ có trình độ cao, có nhiều khách hàng và đã dẫn bà Thu đến cơ sởhành nghề là Trung tâm chăm sóc sắc đẹp A cũng tại TP.H, nên không chấp nhận bồithường

Ông Trường đã kiện bà Thu ra tòa để đòi bồi thường như trên Tòa án nhân dân TP H đãthụ lý vụ kiện và đưa ra xét xử

2 Các vấn đề đặt ra trong tranh chấp:

· Đây là tranh chấp về hợp đồng hợp tác hay là tranh chấp giữa các cổ đông

trong việc thành lập, hoạt động và giải thể công ty cổ phần

· Những vi phạm của Công ty XT và các cổ đông trong việc đăng ký kinh

doanh và hoạt động

· Việc góp vốn của các cổ đông

· Việc tạm dừng kinh doanh như thế nào là hợp pháp?

· Việc người không phải đại diện theo pháp luật của công ty chiếm giữ GCN

ĐKKD, con dấu có hợp pháp không?

3 Giải quyết vấn đề:

Vấn đề thứ 1: Đây là tranh chấp về hợp đồng hợp tác hay là tranh chấp giữa các cổ đông

trong việc thành lập, hoạt động và giải thể công ty cổ phần

Theo nội dung đơn kiện của ông Trường thì đây là một vụ tranh chấp hợp đồng hợp tácgóp vốn kinh doanh Ông Trường đòi bà Thu bồi thường do đã đơn phương dừng hợpđồng hợp tác Nhưng bản chất của tranh chấp này là tranh chấp giữa các cổ đông củacông ty cổ phần trong việc góp vốn, thành lập, hoạt động và giải thể công ty Hợp đồnghợp tác là một thỏa thuận góp vốn trước khi đăng ký kinh doanh

Trước khi hợp tác kinh doanh với bị đơn ông Trường đã hoạt động hành nghề phẫu thuậttạo hình thẩm mỹ tại Trung tâm chăm sóc sắc đẹp A, TP.H và khi thực hiện việc hànhnghề này Ông Trường chưa được cấp chứng chỉ hành nghề nêu trên, (việc này được thểhiện trong Công văn số ngày 29/8/2006 của Thanh tra Sở Y tế TP H có nội dung thể hiệnông Trường hành nghề không có bằng cấp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp nên đã bịphạt theo quy định)

Như vậy, việc bà Thu cho rằng đã bị lừa dối khi ký hợp đồng hợp tác là có cơ sở, bởi lẽ,tại điều 3 trong hợp đồng ghi rõ ông Trường chịu trách nhiệm về chuyên môn phẫu thuật Ông Trường cho rằng hai bên thỏa thuận trong hợp đồng ông Trường chịu trách nhiệmchuyên môn phẩu thuật, tuyển nhân sự có nghĩa là ông Trường không phải là người trựctiếp phẫu thuật mà sẽ tuyển người có bằng cấp hành nghề này, xét ý kiến này là không thểchấp nhận, bởi lẽ, trong các nội dung quảng cáo về hoạt động kinh doanh của Công ty CPĐầu tư Thẩm mỹ XT đã thể hiện ông Trường phụ trách khâu phẫu thuật thẩm mỹ, tạohình và Công ty cũng không có người nào khác thực hiện chuyên môn này,

Do đó, căn cứ theo điều 131 Bộ Luật Dân sự năm 2005, có cơ sở để xác định hợp đồnghợp tác ngày 21/4/2006 bị vô hiệu toàn bộ do bị nhầm lẫn ngay từ thời điểm xác lập vì

Trang 8

ông Trường đã cố ý làm cho bà Thu nhầm lẫn về nội dung giao dịch mà xác lập việc giaodịch trên với nguyên đơn, vì vậy, căn cứ điều 137 Bộ luật Dân sự quy định thì giao dịchdân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểmxác lập, do đó, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đãnhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền.

Mặt khác, căn cứ vào biên bản kiểm kê tài sản ngày 12/7/2006 và biên bản thanh lý tàisản ngày 28/9/2006 lập biên bản thanh lý tài sản và xác nhận đã nhận phần tài sản củamình và xác nhận phần tài sản còn lại thuộc về bên kia mà không có thắc mắc gì của ôngTrường và Bà Thu thì về cơ bản hai bên đã khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trảcho nhau những gì đã góp theo Hợp đồng hợp tác

Hợp đồng hợp tác bị vô hiệu cần phải huỷ và hậu quả của việc giao dịch vô hiệu đượcgiải quyết theo quy định của khoản 1 và 2 điều 137 Bộ luật Dân sự, bên có lỗi gây ra thiệthại phải bồi thường Căn cứ nội dung GCNĐKKD, Công ty chỉ được kinh doanh muabán mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, dụng cụ thẫm mỹ; y ngoại tổng quát; đào tạo nghề, tuynhiên, theo lời các bên thừa nhận sau khi Công ty hoạt động đã thực hiện ngành nghềphẫu thuật tạo hình thẩm my, mặc dù, tại phiên Tòa phía ông Trường cho rằng ôngTrường đã thực hiện hai ca phẫu thuật thẩm mỹ cho khách hàng bạn bà Thu là thực hiệntheo yêu cầu của bà Thu Như vậy, hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệpkhông đăng ký kinh doanh đã vi phạm theo điều 9 điều 11 Luật Doanh nghiệp năm 2005.Đồng thời, việc hoạt động ngành nghề kinh doanh phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ thuộcngành nghề kinh doanh có điều kiện, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề nhưng Công ty không đáp ứngnhưng vẫn cố tình hoạt động kinh doanh là hành vi bị cấm vi phạm điều 6 Luật Doanhnghiệp năm 1999 và điều 11 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Như vậy, có cơ sở để xác định nguyên nhân dẫn đến hợp đồng hợp tác bị vô hiệu là do lỗicủa ông Trường vì không có chứng chỉ hành nghề kinh doanh theo thỏa thuận khi hợptác, tuy nhiên, phía bà Thu khi giấy chứng nhận kinh doanh được cấp vào ngày 10/5/2006biết không được cấp phép hành nghề như thỏa thuận nhưng vẫn đồng ý chấp nhận choông Trường bổ sung ngành nghề và để Công ty tiếp tục hoạt động kinh doanh ngành nghềkhông đăng ký, không đủ điều kiện kinh doanh trong 2 tháng đến 12/7/2006 mới chấmdứt hoạt động kinh doanh vì vậy đã rút lại yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, tự chịu tổnthất phát sinh do việc hợp tác kinh doanh với ông Trường vì đã mất thu nhập cho thuênhà trong 4 tháng là 200.000.000 đồng Như đã phân tích trên bà Thu không có lỗi trongviệc giao dịch này vì ý chí của hai bên khi ký thỏa thuận hợp tác kinh doanh ngày21/4/2006 thì ngoài các ngành nghề được phép kinh doanh còn phải có hoạt động hànhnghề về phẫu thuật, trong khi, ông Trường không có bằng cấp về chuyên môn phẫu thuậtnên thỏa thuận này là trái luật, do đó, nghĩ nên bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại là800.000.000 đồng tương đương 50.000 USD của ông Trường

Hộp 1

Về vụ việc nêu trên, theo Bản án sơ thẩm số ngày 18 / 10 / 2007, Tòa án Nhân dân Thành phố H đã quyết định:

Trang 9

1- Tuyên bố hợp đồng thỏa thuận hợp tác lập ngày 21/4/2006 ký giữa ông Trường và bàThu bị vô hiệu toàn bộ.

2- Kiến nghị Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H xử lý hành vi vi phạm luật Doanhnghiệp đối với Công ty CP Đầu tư Thẩm Mỹ Xuân Trường về việc không thực hiện việc

kê khai trung thực, không chính xác về nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh

3- Không chấp nhận yêu cầu của ông Trường về việc đòi bà Thu phải bồi thường thiệt hại

do vi phạm hợp đồng hợp tác là 800.000.000 đồng tương đương 50.000 USD và phải trả

lại bằng tiền Việt nam là 404.788.960 đồnggồm trị giá toàn bộ trang thiết bị đã đầu tư

trong thời gian hoạt động Công ty CP Thẩm mỹ XT

Vấn đề thứ 2: Những vi phạm của Công ty cổ phần XT trong đăng ký kinh doanh và

hoạt động

(i) Không trung thực trong hồ sơ đăng ký kinh doanh

Căn cứ hợp đồng hợp tác ngày 21/4/2006 ký giữa ông Trường và bà Thu chỉ có hai ngườinày góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Thẩm mỹ XT, bà Thu góp vốn bằng căn nhà số 1,Nguyễn Trãi, TP.H còn ông Trường góp bằng tiền sửa chữa mặt bằng, đầu tư trang thiết

bị và đầu tư thành lập Công ty, trong đó, thể hiện phần góp vốn của bà Thu bằng căn nhà

số 1, Nguyễn Trãi, Q 1 TP.H (trong khi căn nhà này thuộc sở hữu chung của Lan, Liên và

bà Thu); ông Trường góp vốn bằng tiền sửa chữa mặt bằng, đầu tư trang thiết bị, đầu tưthành lập công ty; các thành viên khác không góp vốn (không có quyền sở hữu tài sảncông ty và không được phân chia lợi nhuận) Đồng thời, chia lợi nhuận sau khi trừ chi phíhoạt động, được chia đều 50% cho bà Thu và ông Trường Nhưng hồ sơ đăng ký kinhdoanh, danh sách cổ đông sáng lập gồm bà Thu có số cổ phần là 5.000; ông Trường là2.000 cổ phần, còn lại các bà Lan, Liên và Loan mỗi người có 1.000 cổ phần

Bà Liên và bà Lan là đồng sở hữu căn nhà và là thành viên của Công ty CP XT, tuynhiên, hai bà này không góp vốn cùng kinh doanh Về hợp đồng hợp tác giữa nguyên đơn

và bị đơn hai bà này không rõ chỉ biết nguyên đơn chịu trách nhiệm về chuyên môn phẫuthuật thẩm mỹ nên hai bà cùng ký tên vào hợp đồng hợp tác ngày 21/4/2006 Bà Loanxác nhận về hình thức bà là thành viên Công ty, thực tế không góp vốn và không rõ vềhoạt động kinh doanh của Công ty

Như vậy, việc ghi tên và phần góp vốn của các bà Liên, Lan và Loan vào hồ sơ đăng kýkinh doanh là nhằm hợp thức hoá thủ tục thành lập Công ty, thực tế toàn bộ vốn góp là doông Trường và bà Thu bỏ ra Vì thế, việc hoạt động kinh doanh của Công ty CP Thẩm

Mỹ XT đã không thực hiện việc kê khai trung thực, không chính xác về nội dung hồ sơđăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 (theo khoản 4 Điều 120).(ii) Kinh doanh ngành nghề chưa đăng ký:

Trang 10

Căn cứ nội dung GCNĐKKD, Công ty chỉ được kinh doanh mua bán mỹ phẩm, trangthiết bị y tế, dụng cụ thẫm mỹ Y : ngoại tổng quát, đào tạo nghề Tuy nhiên, Công ty hoạtđộng đã thực hiện ngành nghề phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ cho hai khách hàng và chínhông Trường là người thực hiện.

Điều 6 Luật Doanh nghiệp 1999:

“1 Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinhdoanh các ngành, nghề không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này

3 Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị địnhquy định phải có điều kiện, thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh các ngành, nghề đó khi

có đủ các điều kiện theo quy định

4 Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị địnhđòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ đượcđăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của phápluật“

Điều 8 Luật Doanh nghiệp 1999:

“Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này có nghĩa vụ:

1 Hoạt động kinh doanh theo đúng các ngành, nghề đã đăng ký; “

Điều 9 Luât Doanh nghiệp 2005:

“1 Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Gi��y chứng nhận đăng

ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanhngành, nghề kinh doanh có điều kiện “

Điều 11 Luật Doanh nghiệp 2005:

“ 2 Hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký kinh doanhhoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

3 Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh; kêkhai không trung thực, không chính xác, không kịp thời những thay đổi trong nội dung

hồ sơ đăng ký kinh doanh “

Như vậy, hoạt động kinh doanh phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ dưới hình thức doanhnghiệp không đăng ký kinh doanh đã vi phạm điều 6, điều 8 Luật Doanh nghiệp năm

1999 và điều 9 điều 11 Luật Doanh nghiệp năm 2005 Đồng thời, việc hoạt động ngànhnghề kinh doanh phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện,được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh,chứng chỉ hành nghề nhưng Công ty không đáp ứng nhưng vẫn cố tình hoạt động kinh

Trang 11

doanh là hành vi bị cấm vi phạm điều 6 Luật Doanh nghiệp năm 1999 và điều 11 LuậtDoanh nghiệp năm 2005.

Vấn đề thứ 3: Việc góp vốn của các cổ đông

Theo Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 thì các cổ đông phổ thông cónghĩa vụ thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua và chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa

vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định rõ hơn: Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trongthời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty

Như đã nêu trên, Lan, Liên và Loan chỉ là cổ đông trên giấy tờ, thực chất không góp vốn.Chỉ có ông Trường, bà Thu nhận là có góp vốn vào Công ty Nhưng cả hai người này đềukhông thực hiện việc góp vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 (và LuậtDoanh nghiệp 2005)

Theo điều 22 Luật Doanh nghiệp 1999:“1 Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh, người cam kết góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công tyhợp danh phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:

a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất, thì người góp vốn phải làmthủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quannhà nước có thẩm quyền Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phảichịu lệ phí trước bạ;

b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằngviệc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản

Biên bản giao nhận phải có các nội dung chủ yếu: tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty;tên và địa chỉ người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị các tàisản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giaonhận; chữ ký của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty”

Dễ nhận thấy nhất là trong Hợp đồng hợp tác, bà Thu cam kết góp ngôi nhà 1 NguyễnTrãi, TP H Ngôi nhà này thuộc sở hữu chung của bà Thu, Liên và Lan Nên giả sử haingười kia cùng đồng ý (vì họ cũng là cũng là cổ đông sáng lập) thì bà Thu, Liên, Lan phảilàm thủ tục chuyển ngôi nhà thành sở hữu của Công ty XT

Tại phiên tòa, ông Trường và bà Thu nêu ra rất nhiều tài sản (không phải là tài sản phảiđăng ký sở hữu) đã góp vào Công ty nhưng việc đưa tài sản là phần góp vốn của khôngđược lập biên bản nhập kho quỹ theo quy trình của hệ thống kế toán của Công ty cũngkhông có sự xác nhận của các bên với nhau; mặt khác trong bản kiểm kê ngày 12/7/2006cũng không xác định tất cả các tài sản đã kiểm kê là của Công ty CP XT

Trang 12

Vấn đề thứ 4: Việc tạm dừng kinh doanh Công ty Cổ phần XT đã hợp pháp chưa.

Ngày 12/7/2006 các cổ đông trong Công ty đã thống nhất tạm ngưng hoạt động kinhdoanh vì ông Trường vẫn chưa có bằng cấp theo yêu cầu, tuy nhiên, ông Trường và bàLoan không đồng ý ký vào biên bản họp này

Tại thời điểm các cổ đông của Công ty cổ phần XT đưa vấn đề tạm ngừng hoạt động rabàn bạc thì Luật Doanh nghiệp 2005 đã có hiệu lực

Do đến ngày 12/07/2006, các cổ đông vẫn chưa thực hiện góp vốn theo quy định nênkhông có căn cứ để xác định số phiếu biểu quyết của từng cổ đông trong cuộc họp nêutrên (với giả thiết là cuộc họp này là cuộc họp đại hội đồng cổ đông được triệu tập đúngtrình tự thủ tục)

Tỷ lệ biểu quyết để thông qua các vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ theo LuậtDoanh nghiệp 2005 phải đạt tối thiểu 65% và tối thiểu 75% đối với một số vấn đề quantrọng

Do không xác định được số phiếu của từng cổ đông nên chỉ trường hợp tất cả các cổ đôngđồng ý thì quyết định tạm ngưng mới được thông qua

Công ty khi tạm ngưng kinh doanh mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh

là vi phạm khoản 1 Điều 156 của Luật Doanh nghiệp 2005 “ Doanh nghiệp có quyền tạmngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạmngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chậmnhất mười lăm ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh” Ngoài thông báo,doanh nghiệp còn phải nộp kèm biên bản họp và quyết định của ĐHĐCĐ về việc tạmngừng kinh doanh

Vấn đề thứ 5: Việc người không phải đại diện theo pháp luật của công ty chiếm giữ con

dấu có hợp pháp không?

Theo quy định tại điều 36 Luật Doanh nghiệp 2005, Con dấu là tài sản của doanh nghiệp

và phải được lưu giữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp phải chịu trách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật

Như vậy, bà Thu tự ý giữ con dấu công ty trong khi ông Trường là người đại diện theopháp luật là vi phạm điều 36 Luật Doanh nghiệp 2005

Việc chiếm giữ con dấu của một bên trong tranh chấp trong các doanh nghiệp Việt Nam

là khá phổ biến, và đây được xem như một “con bài“ quan trọng trong các vụ tranh chấpnày

4 Nguyên nhân và bài học

Đây là một tranh chấp về hợp đồng góp vốn thành lập công ty và cũng là một tranh chấpgiữa các cổ đông của công ty cổ phần

Trang 13

Trong tranh chấp này, động cơ của những người sáng lập công ty có sự không minh bạch,khai báo hồ sơ đăng ký kinh doanh không trung thực.

Việc góp vốn không được thực hiện, mặc dù trước khi thành lập công ty, những sáng lậpviên này còn ký hẳn một hợp đồng hợp tác góp vốn thành lập công ty

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, Công ty XT còn có một số sai phạm khi kinh doanhngành nghề chưa đăng ký, chưa đủ điều kinh doanh, tạm ngừng kinh doanh không thôngbáo cho cơ quan đăng ký kinh doanh

Những sự dễ dãi, nể nang khi thành lập doanh nghiệp, cộng với việc không tuân thủ LuậtDoanh nghiêp 1999 và 2005 là nguyên nhân sâu xa của tranh chấp này Vì vậy, để tránhpháp sinh các tranh chấp, các sáng lập viên và các doanh nghiệp phải hết sức cân nhắc vềviệc thành lập doanh nghiệp và nghiêm túc trong việc tuân thủ các quy định của LuậtDoanh nghiệp, Điều lệ Công ty

Tranh chấp 04: Về trình tự thủ tục triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường trong công ty cổ phần

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp

Công ty Cổ phần BĐG (sau đây gọi tăt là Công ty BĐG) được thành lập từ tháng 10/2004trên cơ sở cổ phần hoá (CPH) một bộ phận của Công ty nhà nước, vốn điều lệ 8,92 tỷđồng, chia thành 89.200 cổ phần mệnh giá 100.000 đồng, 67 cổ đông sáng lập

Ngày 23/10/2004, đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty đã thông qua điều lệ (có nộidung theo Luật Doanh nghiệp 1999), bầu ra HĐQT 5 người gồm ông Phúc, ông Quang vàcác bà Phương, Hiền, Oanh Ông Phúc đã được bầu làm Chủ tịch HĐQT Các thành viênHĐQT đều là cổ đông sáng lập của Công ty

Ngày 25/10/2004, Công ty được cấp GCNĐKKD lần đầu

Ngày 2/11/2004, ông Phúc – chủ tịch HĐQT đã đứng ra bán 17.602 cổ phần (giá trị mệnhgiá là hơn 1,76 tỷ đồng), bán cho người ngoài doanh nghiệp là ông Cường với giá hơn3,363 tỷ đồng Trong hợp đồng chuyển nhượng ông Phúc còn ghi rõ chức danh Chủ tịchHĐQT kiêm Phó giám đốc công ty Qua chuyển nhượng, ông Phúc thu được số tiền hơn1,6 tỷ đồng chênh lệch

Một thành viên khác trong HĐQT Công ty cũng có hành vi chuyển nhượng cổ phần là bàHiền, kế toán trưởng Ngay từ trước đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty bà Hiền đãchuyển nhượng 1.000 cổ phần trong tổng số 1.353 cổ phần của mình cho người khác.Như vậy bà Hiền đã không đủ điều kiện nhưng vẫn tham gia vào HĐQT Trước khi tiếnhành đại hội cổ đông thành lập công ty, bà Hiền chỉ còn nắm giữ 353 cổ phần Trong khi

đó điều lệ công ty quy định thành viên HĐQT phải nắm giữ ít nhất số cổ phần ít nhất là1% vốn điều lệ Không đáp ứng đủ tỷ lệ trên nhưng bà Hiền vẫn “lọt” vào HĐQT Sau đó

Trang 14

bà Hiền “khắc phục” bằng cách mua lại 600 cổ phần của người khác để cho đủ số cổphần mà uỷ viên HĐQT phải nắm giữ.

Việc mua bán cổ phần này bị các cổ đông phát giác và đề nghị tổ chức đại hội cổ đôngthường niên Tuy nhiên, ông Phúc, Chủ tịch, và một số thành viên HĐQT Công ty BĐG

đã không tiến hành đại hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.Theo điều 16, khoản 2 điều lệ Công ty, đại hội cổ đông thường niên do chủ tịch HĐQTtriệu tập vào quý I hàng năm, nhưng đến hết quý II/2005, ông Phúc vẫn không triệu tậpđại hội cổ đông thường niên để thông qua báo cáo tài chính năm 2004 cũng như dự kiếnphân chia lợi nhuận, cổ tức và đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển, kế hoạch sảnxuất kinh doanh năm 2005 Từ đây, một số cổ đông hoài nghi về tình hình tài chính côngty

Ngày 4/5/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần phổ thông trong liên tục sáutháng (sau đây gọi tắt là Nhóm cổ đông 52,41%) đã gửi đơn đề nghị HĐQT triệu tập Đạihội cổ đông bất thường Ngày 13/05/2005, HĐQT do bà – Phó chủ tịch HĐQT đại diện

đã có thông báo không triệu tập họp ĐHĐCĐ

Ngày 19/5/2005, nhóm cổ đông 52,41% tiếp tục gửi văn bản đề nghị Ban kiểm soát triệutập đại hội cổ đông bất thường Ngày 12/06/2005, BKS đã có văn bản trả lời không tổchức đại hội

Ngày 17/06/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần đã thay HĐQT, Ban kiểm soátđứng ra triệu tập đại hội cổ đông bất thường vào ngày 2/07/2005 Thông báo tổ chức đạihội cổ đông bất thường và tài liệu đã gửi tới toàn bộ 67 cổ đông của công ty theo đúngtrình tự, thủ tục và thời hạn quy định tại Điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp 1999

Tại đại hội, các cổ đông tham dự đã tiến hành bỏ phiếu bãi miễn 3 thành viên HĐQT(gồm ông Phúc cùng các uỷ viên Phương (Giám đốc Công ty), bà Hiền) và bãi miễn haithành viên Ban Kiểm soát Đồng thời, tiến hành bầu bổ sung 3 thành viên HĐQT cùng 2thành viên Ban kiểm soát Các quyết định, nghị quyết của Đại hội dồng cổ đông bấtthường ngày 2/7/2008 như bãi miễn thành viên Hội quản trị bầu bổ sung thành viênHĐQT, bãi miễn Trưởng ban kiểm soát, bầu Trưởng ban kiểm soát đều đạt tỷ lệ 100%

cổ phần tham dự Đại hội đồng cổ đông biểu quyết thông qua

Những người giữ quyền lãnh đạo (cũ) Công ty BĐG cho rằng cuộc họp ngày 2/07/2005

là bất hợp pháp với lý do HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần giữa hai

kỳ đại hội HĐQT và Ban giám đốc Công ty nghiêm cấm mọi lao động là cổ đông thamgia đại hội bất thường này

Cuối cùng, căn cứ Nghị quyết ĐHĐCĐ bất thường, HĐQT, Ban giám đốc và BKS đã yêucầu Chủ tịch HĐQT cũ và giám đốc cũ bàn giao quyền quản trị công ty cho Chủ tịchHĐQT mới và Giám đốc mới, nhưng yêu cầu không được thực hiện

Do đó, ông Quang – Chủ tịch HĐQT (mới) – đồng thời là cổ đông trong nhóm cổ đông53.04% (nhóm cổ đông đã tham dự cuộc họp ngày 2/07/2005), đã kiện ra toà án yêu cầu:

Trang 15

- Công nhận kết quả Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 2/07/2005 là hợppháp.

- Buộc các thành viên HĐQT bị bãi miễn, các thành viên Giám đốc điều hành bịbãi miễn, các thành viên Ban kiểm soát bị bãi miễn phải bàn giao quyền, nghĩa vụquản trị, điều hành, kiểm soát Công ty cho HĐQT, giám đốc, trưởng BKS mới

Các ông Chủ tịch HĐQT, giám đốc và trưởng BKS (cũ) cho rằng chức Chủ tịch HĐQTmới do ông này tự phong, hoàn toàn trái với Điều lệ Công ty, không được bầu cử côngkhai, minh bạch Hơn nữa, cho rằng các nội dung nêu trong đơn kiện đều là sai trái khôngđúng sự thật Từ lý do bên bị kiện lại đề nghị :

- Bác bỏ đơn khởi kiện của cổ đông là Chủ tịch HĐQT mới vì đơn mạo danh,ngộ nhận là đại diện nhóm cổ đông sở hữu 53.04% cổ phần, nội dung đơn xuyên tạc

sự thật, quy kết vu khống cán bộ quản lý công ty trái luật

- Đề nghị Tòa án hủy bỏ toàn bộ nội dung cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường ngày2/07/2005 vì đây là một hoạt động bất hợp pháp, không được HĐQT, Ban kiểm soát(cũ) của công ty cho phép và không được các cơ quan quản lý công nhận; vi phạmluật doanh nghiệp và Điều lệ công ty

- Có biện pháp xử lý hành vi mạo nhận, tố cáo sai sự thật và liên tục gây rối cảntrở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt thời gian qua

2 Các vấn đề đặt ra trong tranh chấp

· Việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập

· Trình tự, thủ tục triệu tập ĐHĐCĐ

3 Giải quyết tranh chấp

Vấn đề thứ 1: Việc chuyển nhượng cổ phần của hai thành viên HĐQT là Ông Phúc và bà

Hiền có hợp pháp hay không?

Về việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập, Điều 58 Luật Doanh nghiệp 1999quy định

“1 Trong ba năm đầu, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông đượcquyền chào bán; cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng chongười không phải là cổ đông nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Cổ đông

dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các

cổ phần đó

2 Sau thời hạn ba năm quy định tại khoản 1 Điều này, các hạn chế đối với cổ phần phổthông của cổ đông sáng lập đều bãi bỏ”

Trang 16

Ông Phúc, bă Hiền đều lă cổ đông sâng lập của Công ty nín việc chuyển nhượng cổ phầncủa họ cho người không phải lă cổ đông Công ty trong thời gian 03 năm kể từ khi Công

ty được cấp Đăng ký kinh doanh chỉ hợp phâp khi được ĐHĐCĐ chấp thuận

Mặt khâc, Công ty BĐG lă bộ phần doanh nghiệp nhă nước được cổ phần hóa theo Nghịđịnh 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp nhă nước thănh công ty cổ phần vẵng Phúc vă Bă Hiền lă người lao động được mua cổ phần với giâ ưu đêi (gọi tắt lă mua

ưu đêi) Nếu chuyển nhượng câc cổ phần được mua ưu đêi năy cũng phải tuđn thủ quyđịnh tại điều 27 Nghị định 64/2002/NĐ-CP

“1 Người lao động có tín trong danh sâch thường xuyín của doanh nghiệp cổ phần hoâtại thời điểm quyết định cổ phần hoâ được Nhă nước bân tối đa 10 cổ phần cho mỗi năm

đê lăm việc thực tế tại khu vực nhă nước với giâ giảm 30% so với mệnh giâ ban đầu Trịgiâ một cổ phần lă 100.000 đồng

Người lao động sở hữu số cổ phần được mua theo giâ ưu đêi có quyền để thừa kế vă câcquyền khâc của cổ đông theo quy định của phâp luật vă Điều lệ tổ chức, hoạt động củaCông ty cổ phần Cổ phiếu của loại cổ phần năy lă cổ phiếu ghi tín vă chỉ được chuyểnnhượng sau 3 năm kể từ khi mua Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phầnnăy trước thời hạn trín thì phải được Hội đồng quản trị Công ty chấp thuận Công ty cổphần ưu tiín mua lại theo giâ thị trường tại thời điểm bân”

Như vậy, đối chiếu với câc quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 thì việc chuyểnnhượng cổ phần của Ông Phúc vă Bă Hiền lă không hợp phâp

Vấn đề thứ 2: Trình tự thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ theo yíu cầu của cổ đông/nhóm cổ

đông lớn

Về thẩm quyền yíu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ, theo quy định tại khoản 2 Điều 53 LuậtDoanh nghiệp 1999 thì cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu trín 10% số cổ phần phổ thôngtrong thời hạn liín tục ít nhất sâu thâng hoặc tỷ lệ khâc nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công

ty, có quyền yíu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông;

Về trình tự, vă thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ, Điều 71 Luật Doanh nghiệp 1999 quyđịnh:

“…2 Đại hội đồng cổ đông được triệu tập họp:

a) Theo quyết định của Hội đồng quản trị;

b) Theo yíu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luậtnăy hoặc của Ban kiểm soât trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiím trọngnghĩa vụ của người quản lý quy định tại Điều 86 của Luật năy, Hội đồng quản trị ra quyếtđịnh vượt quâ thẩm quyền được giao, câc trường hợp khâc quy định tại Điều lệ công ty

Trang 17

3 Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong thời hạn ba mươi ngày, kể

từ ngày nhận được yêu cầu quy định tại điểm b khoản 2 Điều này

Trường hợp Hội đồng quản trị không triệu tập thì Ban kiểm soát phải thay thế Hội đồngquản trị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này

Trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập thì cổ đông, nhóm cổ đông có yêu cầu quyđịnh tại điểm b khoản 2 Điều này có quyền thay thế Hội đồng quản trị, Ban kiểm soáttriệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này”

Như vậy, nhóm cổ đông 52,41% đề nghị HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ là đúng thẩmquyền Mặt khác, nhóm cổ đông này cũng đã đề nghị BKS triệu tập họp ĐHĐCĐ theoquy định

Đến ngày 17/06/2005, việc Nhóm cổ đông 52,41% triệu tập họp ĐHĐCĐ vì đã quá 30ngày kể từ khi đề nghị HĐQT triệu tập họp (ngày 04/05/2005) nhưng HĐQT không thựchiện, là đúng quy định

Về lý do yêu cầu triệu tập họp, có căn cứ để cho rằng, Hội đồng quản trị, cá nhân ôngPhúc (chủ tịch) và bà Hiền (thành viên) có vi phạm nghĩa vụ của người quản lý

Với tư cách là Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Giám đốc đáng ra ông Phúc phải gương mẫuthực hiên các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty, nhưng ông này lại chuyểnnhượng cổ phần cho người không phải là cổ đông mà không thông qua ĐHĐCĐ là viphạm Điều 58 Luật Doanh nghiệp 1999

Ông Phúc với tư cách là Chủ tịch HĐQT không triệu tập ĐHĐCĐ thường niên năm 2005

là trái với Khoản 1 Điều 71 Luật Doanh nghiệp 1999 “ĐHĐCĐ mỗi năm họp ít nhất mộtlần” và khoản 2 Điều 16 Điều lệ Công ty “ĐHĐCĐ thường niên do Chủ tịch HĐQT triệutập vào Quý I hàng năm, được tiến hành khi có đủ số cổ đông tham dự đại diện cho ítnhất 51% số cổ phần được quyền biểu quyết của Công ty”

Thành viên HĐQT có quyền được cung cấp thông tin theo Điều 83 Luật Doanh nghiệp1999:

“1 Thành viên Hội đồng quản trị có quyền yêu cầu Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó giámđốc (Phó tổng giám đốc), cán bộ quản lý các đơn vị khác trong công ty cung cấp cácthông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty và của các đơn

vị trong công ty

2 Cán bộ quản lý được yêu cầu phải cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các thôngtin, tài liệu theo yêu cầu của thành viên Hội đồng quản trị”

Ông Quang – thành viên HĐQT, ngày 31/05/2005, sau nhiều lần trực tiếp yêu cầu khôngđược, đã có văn bản gửi HĐQT và BKS yêu cầu được cung cấp thông tin về tình hình tàichính và hoạt động của Công ty Ngày 02/06/2005, ông Phúc có văn bản trả lời khôngcung cấp thông tin như yêu cầu Việc làm trên của ông Phúc là vi phạm Điều 83 LuậtDoanh nghiệp 1999

Trang 18

Bà Hiền với tư cách là thành viên HĐQT cũng vi phạm về chuyển nhượng cổ phần tương

tự như ông Phúc (đã phân tích ở trên)

Luật Doan nghiệp 1999 và Điều lệ Công ty đều quy định, cuộc họp ĐHĐCĐ là hợp phápkhi có số cổ đông, người đại diện cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiêu biểuquyết tham dự Cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 2/07/2005 có số cổ đông, người đại diện cho cổđông đại diện cho 53,04% tổng số cổ phần phổ thông tham dự Như vậy, cuộc họp này đủđiều kiện để tiến hành theo quy định của pháp luật

Các quyết định tại cuộc họp ĐHĐCĐ ngày 2/07/2005 về việc bãi miễn thành viên HĐQT,bầu bổ sung thành viên HĐQT, bãi miễn và bầu bổ sung thành viên BKS đã được thôngqua với 100% cổ phần của những cổ đông dự họp Như vậy là thỏa mãn quy định tạiđiểm a khoản 2 Điều 77 Luật Doanh nghiệp “Được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng

số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công tyquy định”

Như vậy, cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường và các quyết định được thông qua tại cuộc họp làhoàn toàn đúng pháp luật

Với những phân tích trên, tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều quyết định công nhận Đại hộiđồng cổ đông bất thường do nhóm cổ đông sở hữu 53,04% vốn điều lệ công ty tổ chức làhợp pháp, hợp lệ; Các quyết định, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bất thường nóitrên cũng hợp pháp, hợp lệ và có hiệu lực kể từ ngày ban hành Tất cả các thành viênCông ty cổ phần BĐ đều phải có nghĩa vụ chấp

4 Nguyên nhân và bài học

Nhận thức và ý thức tuân thủ Luật Doanh nghiệp của một số cán bộ quản lý Công tyBĐG còn nhiều hạn chế dẫn đến những sai phạm trong chuyển nhượng cổ phần của cổđông sáng lập Đáng nói hơn, những người vi phạm lại là các thành viên HĐQT của Công

ty Việc HĐQT và Ban giám đốc Công ty nghiêm cấm mọi lao động là cổ đông tham giađại hội bất thường do nhóm cổ đông 53,04% triệu tập là biểu hiện rõ ràng nhất của sựthiếu hiểu biết và ý thức tuân thủ Điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp

Mặt khác, Hội đồng quản trị cũ cũng chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, trách nhiệmcủa mình theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty cụ thể là không triệutập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, không triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ khinhận được yêu cầu của nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông liêntục trong 06 tháng và nhiều vi phạm nghĩa vụ của người quản lý như đã phân tích ở trên

Qua đây, cũng có thể thấy thiếu sót của Luật Doanh nghiệp 1999 trong việc quy định vềtrình tự thủ tục triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ trong trường hợp Nhóm cổ đông nắm giữtrên 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong 06 tháng được yêu cầu triệu tập họp

Trang 19

ĐHĐCĐ Cụ thể, Luật Doanh nghiệp 1999 tuy quy định BKS phải triệu tập họp ĐHĐCĐtheo yêu cầu của Nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tụctrong 06 tháng nhưng không quy định thời hạn để BKS phải thực hiện việc này mà chỉquy định Nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong 06tháng có quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ nếu trong vòng 30 ngày kể từ ngày đề nghị màHĐQT không triệu tập họp Mặt khác, trách nhiệm của HĐQT, BKS và các cá nhân thuộchai cơ quan này cũng không rõ ràng trong trường hợp hai cơ quan này không triệu tậphọp ĐHĐCĐ theo yêu cầu của nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổthông liên tục trong 06 tháng.

Tuy nhiên, những thiếu sót trên đã được khắc phục trong Luật Doanh nghiệp 2005 bằngviệc quy định HĐQT phải triệu tập họp ĐHĐCĐ trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhậnđược yêu cầu của cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong 06tháng, nếu HĐQT không triệu tập họp thì trong 30 ngày tiếp theo BKS phải triệu tập họp.Luật Doanh nghiệp 2005 cũng quy định chủ tịch HĐQT và Trưởng BKS phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với công ty nếu khôngtriệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ trong các trường hợp nhận được yêu cầu của của cổ đông,nhóm cổ đông như nêu trên

Một lần nữa ta có thể thấy, bản thân các cổ đông, người quản lý công ty cổ phần cần tìmhiểu đầy đủ và phải có ý thức thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công

ty Có như vậy sẽ tránh được những tranh chấp đáng tiếc gây thiệt hại cho Công ty, cổđông và người lao động

Trang 20

Tranh chấp số 05: Về việc chuyển nhượng cổ phần

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp

Công ty Cổ phần ĐBG được cấp giấy chứng nhận kinh doanh lần đầu vào tháng 6/2003.Điều lệ Công ty quy định như Luật Doanh nghiệp 1999

Ngày 15/7/2005, ông Thanh là cổ đông sáng lập, Chủ tịch HĐQT của Công ty cổ phầnĐBG có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 8.500 cổ phần của mình trong Công ty cổphần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng là 1,5 tỷ đồng và đã nhận đủ số tiền này

từ ông Sơn Trong Hợp đồng cũng có điều khoản ông Thanh phải từ chức chủ tịch HĐQT

và thực hiện các thủ tục để ông Sơn được giữ chức Chủ tịch HĐQT của Công ty ĐBG.Ông Sơn nhận một số giấy tờ của Công ty BĐG do ông Thanh giao để làm tin bao gồmmột số hóa đơn GTGT do bên bán phát hành cho Công ty ĐBG và 02 chứng nhận bảohiểm do công ty bảo hiểm cấp cho Công ty ĐBG

Tuy nhiên, sau đó ông Thanh không thực hiện việc làm thủ tục đăng ký ông Sơn vào Sổđăng ký cổ đông và làm thủ tục thay đổi Chủ tịch HĐQT của Công ty Do đó, ông Sơnlàm đơn khởi kiện yêu cầu ông Thanh phải trả lại số tiền chuyển nhượng cổ phần đã nhận1,5 tỷ đồng nói trên

Ông Thanh xác nhận chỉ ký khống vào tờ giấy trắng để ông Sơn sử dụng vào việc liên hệmua hàng hóa tại Hà Nội, thực tế không có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần

Tóa án Thành phố H đã thụ lý vụ việc

2 Các vấn đề đặt ra trong tranh chấp

· Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập

3 Giải quyết tranh chấp

Căn cứ vào bản Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 15/7/2005 đã được người đạidiện hợp pháp của ông Thanh xác nhận chữ ký tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định giữaông Thanh và ông Sơn có thỏa thuận việc chuyển nhượng 8.500 cổ phần của ông Thanhtrong Công ty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng là 1,5 tỷ đồng Nhưng

có vấn đề cần xem xét là ông Sơn không đưa ra được bằng chứng chứng tỏ bên chuyểnnhượng là ông Thanh đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nói trên

Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần nói trên giữa ông Thanh và ông Sơn không được

sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần BĐG theo quy định tại khoản 1Điều 58 Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực tại thời điểm các bên ký hợp đồngchuyển nhượng cổ phần, Công ty cổ phần ĐBG mới được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh chưa được 3 năm)

Trang 21

Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật dđn sự năm 1995 (có hiệu lựctại thời điểm câc bín ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần), hợp đồng chuyển nhượng cổphần nói trín giữa câc bín lă hợp đồng dđn sự vô hiệu vă câc bín có trâch nhiệm khôiphục lại tình trạng ban đầu, hoăn trả cho nhau những gì đê nhận theo quy định tại khoản 2Điều 146 Bộ luật dđn sự năm 1995

Về ý kiến của ông Thanh cho rằng hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngăy 15/7/2005 mẵng Sơn dùng lăm chứng cứ để khởi kiện đê được ông Thanh ký khống để sử dụng văoviệc khâc (chưa ghi nội dung), thực tế ông Thanh hoăn toăn không có thỏa thuận chuyểnnhượng vă cũng chưa có nhận số tiền chuyển nhượng cổ phần 1,5 tỷ đồng từ ông Sơn nínkhông chấp nhận hoăn trả số tiền năy cho ông Sơn Ý kiến năy không có căn cứ để đượcchấp nhận vì tại Biín bản ghi lời khai do Phòng CSĐTTP về TTXH Công an TP H lậpngăy 15/02/2006 cũng như tại phiín tòa, ông Thanh vă người đại diện của mình đê xâcnhận chữ ký của bín chuyển nhượng trong bản hợp đồng chuyển nhượng cổ phần mă ôngSơn cung cấp cho Tòa ân để lăm căn cứ khởi kiện đúng lă của chữ ký ông Thanh măkhông có chứng cứ năo để chứng minh việc ký đó lă ký khống

Từ sự phđn tích trín cho thấy yíu cầu của ông Sơn đòi ông Thanh phải hoăn trả số tiềnchuyển nhượng cổ phần 1,5 tỷ đồng lă có căn cứ vă hợp phâp, cần được chấp nhận

4 Nguyín nhđn vă băi học

Cổ đông vă người quản lý trong Công ty không hiểu rõ vă đúng đắn quyền, nghĩa vụcũng như câch thức thực hiện quyền vă nghĩa vụ của mình trong công ty Chính vì lý do

đó, mă câc cổ đông vă nhất lă câc cổ đông đồng thời lă nhă quản lý thường hay lạm dụngquyền mă không thực hiện quyền của mình theo đúng trình tự, thủ tục

Mặt khâc, câc nhă đầu tư khi quyết định mua cổ phần của một công ty cũng cần phải tìmhiểu câc quy định của phâp luật có liín quan vă Điều lệ công ty xem liệu số cổ phần mìnhđịnh mua lă loại cổ phần gì, khi chuyển nhượng cần có câc điều kiện gì vă thủ tục chuyểnnhượng ra sao

Một cđu hỏi nữa được đặt ra trong tranh chấp níu trín lă trong trường hợp, hợp đồngchuyển nhượng cổ phần giữa ông Thanh vă ông Sơn được ĐHĐCĐ chấp thuận (chuyểnnhượng hợp phâp) thì Công ty BĐG có phải thực hiện thủ tục thay đổi cổ đông sâng lậpghi trong giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh không?

Liín quan đến câc nội dung phải đăng ký thay đổi, khoản 1, Điều 19 quy định:

“1 Khi thay đổi tín, địa chỉ trụ sở chính, chi nhânh, văn phòng đại diện (nếu có), mụctiíu vă ngănh, nghề kinh doanh, vốn điều lệ, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp, thay đổingười quản lý, người đại diện theo phâp luật của doanh nghiệp vă câc vấn đề khâc trongnội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh, thì doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng kýkinh doanh chậm nhất mười lăm ngăy trước khi thực hiện việc thay đổi”

Ngày đăng: 12/10/2022, 10:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BÁO CÁO MỘT SỐ TRANH CHẤP ĐIỂN HÌNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM - BÁO cáo một số TRANH CHẤP điển HÌNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
BÁO CÁO MỘT SỐ TRANH CHẤP ĐIỂN HÌNH TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM (Trang 1)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w