Một bộ nắn khung bao gồm các thiết bị cố định dùng để bắt chặt thân xe và thiết bị kéo dùng một xi lanh thuỷ lực để kéo cưỡng bức tấm thép vỏ xe bị hư hỏng.Quy trình sửa chữa hư hỏng nặn
Trang 1Chương 4:
KÉO NẮN THÂN, KHUNG XE
4.1 Phân loại các hư hỏng nặng
Hư hỏng nặng: Hư hỏng gây ra do va chạm của tai nạn mà tác động
đó vượt quá các tấm thép vỏ xe bên ngoài và truyền tới kết cấu thân xe, yêu cầu sử dụng bộ nắn khung để chỉnh sửa thân xe và sử dụng máy hàn
để thay thế các tấm thép vỏ xe Các phương pháp dùng chủ yếu trong sửa chữa hư hỏng nhẹ như búa và đe tay hay máy hàn vòng đệm không thể sử dụng trong sửa chữa hư hỏng nặng, do các dầm khung là một phần của khung
xe, rất khoẻ và cứng Các dầm khung xe bị hư hỏng nặng phải được phục hồi
về vị trí ban đầu của chúng và tạo lại hình dáng bằng bộ nắn khung Một bộ nắn khung bao gồm các thiết bị cố định dùng để bắt chặt thân xe và thiết bị kéo dùng một xi lanh thuỷ lực để kéo cưỡng bức tấm thép vỏ xe bị hư hỏng.Quy trình sửa chữa hư hỏng nặng: Để hiểu rõ phương pháp sửa chữa
hư hỏng nặng, điều quan trọng là phải hiểu rõ quy trình tổng quát của việc sửa chữa thông qua quy trình sửa chữa hư hỏng nặng thông thường
Đánh giá hư hỏng
Mục đích: Đánh giá hư hỏng là một công đoạn để kiểm tra xe bị hư hỏng bằng cách quan sát và qua việc sử dụng các thiết bị đo Mục đích của việc đánh giá hư hỏng là để đánh giá chính xác “khu vực” và “mức độ” của thân xe bị hư hỏng nhằm xác định phương pháp và quy trình sửa chữa thích hợp Nếu việc đánh giá hư hỏng không được xác định một cách chính xác
và hiệu quả, đôi khi có thể phải thay đổi phương pháp sửa chữa và điều này
có thể kéo dài thời gian sửa chữa và ảnh hưởng tới chất lượng sửa chữa Do
đó để thực hiện việc sửa chữa có hiệu quả và đảm bảo sửa chữa tốt, điều quan trọng là phải đánh giá được hư hỏng một cách chính xác
Phương pháp đánh giá hư hỏng
Bằng cách dựa vào kinh nghiệm, một số kỹ thuật viên thân xe có kinh nghiệm đánh giá mức độ hư hỏng bằng cách xem xét xe bị hư hỏng, tuy nhiên việc đánh giá như vậy chỉ được áp dụng trong việc xác định hư hỏng tổng quát mà xe bị hư hỏng gặp phải Việc đánh giá hư hỏng là đặc biệt quan trọng Thông thường mức độ của hư hỏng được đánh giá theo quy trình sau đây
Trang 2Điều tra hoàn cảnh xảy ra tai nạn: Mức độ của va đập trong khi tai nạn và hư hỏng thay đổi theo hoàn cảnh xảy ra tai nạn Điều tra về hoàn cảnh xảy ra tai nạn là điểm đầu tiên của việc đánh giá hư hỏng, nó giúp cho kỹ thuật viên đánh giá hư hỏng hiệu quả và không bị nhầm lẫn Tuy nhiên kỹ thuật viên không điều tra về hoàn cảnh xảy ra tai nạn trực tiếp từ khách hàng, nhiệm vụ này được giao cho cố vấn dịch vụ Điểm chính của việc điều tra là tìm ra hoàn cảnh của tai nạn càng chi tiết càng tốt, bao gồm các thông tin sau: Vật mà xe đã đâm vào (kích thước, hình dạng, vị trí, độ cứng, tốc độ,…); Tốc độ xe tại thời điểm xảy ra tai nạn; Góc độ và hướng của xe tại thời điểm xảy ra tai nạn; Số hành khách trên xe trong khi tai nạn
và vị trí ngồi của từng người
Đánh giá bằng quan sát: Đánh giá bằng cách quan sát, sử dụng chính đôi mắt của chúng ta, là bước đầu tiên trong việc đánh giá hư hỏng
Nó được bắt đầu bằng việc kiểm tra toàn bộ xe và kết thúc bằng việc kiểm tra chi tiết các vùng của hư hỏng Mục đích của việc đánh giá bằng quan sát là phát hiện bất kỳ hư hỏng nào mà không thể biểu diễn bằng số lượng, như sự biến dạng, xước, xoắn hay nứt trong vỏ xe Mặc dù có thể phát hiện bằng mắt là tấm thép vỏ xe có bị biến dạng hay không, nhưng chúng ta không thể diễn tả chính xác mức độ biến dạng bằng một con số cụ thể Do
Trang 3đó ngoài việc đánh giá bằng quan sát cũng cần phải đo đạc thích hợp các kích thước bằng các thiết bị đo.
4.2 Đo các kích thước của thân xe
Đây là một công đoạn trong quá trình đánh giá theo trình tự mức
độ hư hỏng bằng cách đo thân xe và khung xe bằng các thiết bị đo Bằng cách so sánh kích thước đo được với kích thước tiêu chuẩn từ đó xác định một cách định lượng mức độ hư hỏng của thân xe và đưa ra kế hoạch sửa chữa
Các loại kích thước thân xe: Thành phần của sơ đồ kích thước thân xe được chỉ trong sách hướng dẫn sửa chữa hay bảng dữ liệu các
sơ đồ kích thước
Khoang động cơ Kích thước trực tiếp
Bên dưới thân xe Kích thước trực tiếp
Kích thước chiếu Kích thước trực tiếp Phần hở
Trong sơ đồ kích thước thân xe, tất cả các kích thước đều được biểu diễn bằng kích thước trực tiếp bao gồm chiều dài, chiều rộng, đường chéo
và chiều cao Chiều dài, chiều rộng và đường chéo biểu diễn khoảng cách giữa hai điểm Chiều cao biểu diễn khoảng cách giữa một điểm nào đó với đường chuẩn tưởng tượng Kích thước trực tiếp là kích thước điển hình nhất được sử dụng và đo được bằng thước dây hay thước đo thân xe Các phương pháp đo thân xe:
Thiết bị đo thông thường: Đo các giá trị tiêu chuẩn
Đo sự chênh lệch giữa bên trái và bên phải
Đo đối xứng Các thiết bị đo đặc biệt: Đo tiếp xúc
Đo không tiếp xúc
Đo gá đặc biệt
Đo gá thông thường
Trang 4Đo bằng thiết bị thông thường: Phương pháp đo này sử dụng các thiết bị đo thông thường như thước dây, thước dò, thước đo đối xứng,
mà không chú ý đến chủng loại xe hay bộ kéo nắn thân xe Để đảm bảo
độ chính xác của thiết bị đo chúng phải được calíp chính xác Calíp cũng còn được gọi là “chỉnh không”, là quá trình đưa về không sự chênh lệch giữa các giá trị hiển thị trên thiết bị đo và các giá trị hiển thị trên thước chuẩn Đặc biệt thiết bị đo mà có nhiều chi tiết chuyển động như thước
dò phải được calíp không chỉ trước khi sử dụng mà còn sau khi sử dụng Các chú ý sau khi calíp, không chạm vào đầu đo; Phải tiến hành calíp nếu chiều dài hay góc của đầu đo bị thay đổi; Phải tiến hành calíp nếu đầu đo chạm vào một vật khác; Phải tiến hành calíp nếu đầu đo ở phía móc của thanh đo bị trượt
4.3 Đường chuẩn tưởng tượng là gì?
Do các kích thước trực tiếp như chiều dài, chiều rộng hay đường chéo là khoảng cách giữa hai điểm Một trong hai điểm đó có tác dụng
là điểm tham khảo của phép đo Tuy nhiên trong kích thước chiều cao hay kích thước phẳng, các phép đo, không có điểm có tác dụng như điểm tham khảo, nên phải tạo nên điểm tham khảo Sơ đồ kích thước thân xe của Toyota dùng ba loại đường thẳng, được gọi là các đường chuẩn tưởng tượng, dùng để đo chiều cao, chiều rộng và chiều dài Đường chuẩn tưởng tượng một dùng để đo chiều cao: 100mm thấp hơn phần dưới của tấm thép sàn xe (loại thân xe dạng vỏ)
Đường chuẩn tưởng tượng hai dùng để đo chiều cao: 300mm thấp hơn phần trên của dầm dọc khung xe giữa (loại thân xe dạng khung)
Trang 5Đường chuẩn tưởng tượng dùng để đo chiều dài: một đường thẳng nối các lỗ chuẩn của sàn xe sau bên dưới tấm gia cố Đường chuẩn tưởng tượng dùng để đo chiều rộng: là đường tâm của thân xe.
Các phương pháp đo thường dùng:
Đo giá trị tiêu chuẩn: là một phương pháp so sánh một giá trị trực tiếp (giá trị tiêu chuẩn) của các điểm đưa ra trong sơ đồ kích thước thân
xe với các giá trị đo của các điểm tương ứng trên thân xe Sự chênh lệch về kết quả được dùng để xác định mức độ hư hỏng và hướng của
nó Nó có thể được dùng để đánh giá hư hỏng về khía cạnh chiều dài, chiều rộng, đường chéo và chiều cao Nó cũng có thể sử dụng để thực hiện phân tích ba chiều trạng thái của hư hỏng Có thể đạt được mức độ đặc biệt cao về độ chính xác của phép đo do các giá trị so sánh là các giá trị tiêu chuẩn
Đo bằng các thiết bị đo đặc biệt: Được phát triển bởi các nhà sản xuất bộ kéo nắn khung xe, mỗi một loại thiết bị đo đặc biệt được thiết
kế với một tính năng đặc biệt để đo các kích thước thân xe Việc lắp đặt các dụng cụ và phép đo được thực hiện theo trình tự như sau:
Các phương pháp đo và đặc điểm: Đầu đo của thiết bị đo được đặt vào một điểm chuẩn và kết quả của phép đo kích thước, giá trị tiêu chuẩn được so sánh xác định mức độ hư hỏng Có loại cơ khí mà kích thước được
Trang 6đọc trên thanh đo và có loại điện tử mà các kích thước được phân tích bằng máy tính Điểm đo mà đặt vào giá trị tiêu chuẩn có thể được sử dụng như một điểm đỡ đơn giản cho chi tiết mới.
Loại lade:
Thiết bị đo: thiết bị đo đặc biệt cho bộ nắn thân xe
Các phương pháp đo và đặc điểm: Các tia lade được chiếu lên các thanh đo hay gương đặc biệt được gắn vào các điểm khác nhau trên thân
xe Kết quả của phép đo kích thước và giá trị tiêu chuẩn được so sánh với nhau để xác định mức độ hư hỏng Có loại cơ khí mà các kích thước được đọc trên thanh đo và có loại điện tử mà các kích thước được phân tích bằng máy tính
Loại có đồ gá:
Thiết bị đo: thiết bị đo đặc biệt cho bộ nắn khung xe
Các phương pháp đo và đặc điểm: Đồ gá được đặt phía trên mặt bàn của bộ kéo nắn thân xe và mức độ hư hỏng được xác định dựa trên trạng thái lắp ráp của đồ gá và điểm tiêu chuẩn trên thân xe Có loại đồ gá đặc biệt được thiết kế đặc biệt cho các kiểu xe và có loại đồ gá thông thường
mà vị trí lắp đặt của các chi tiết đồ gá và góc của chúng được cố định đến giá trị được chỉ rõ bởi kiểu xe Đồ gá có thể được sử dụng để định vị các chi tiết thay thế hay cho các thao tác chỉnh sửa thân xe
Đo các kích thước chiều cao:
Kích thước chiều cao là khoảng cách được đo giữa các điểm tiêu chuẩn và đường chuẩn tưởng tượng Đường chuẩn tưởng tượng là không nhìn thấy được trên xe do chúng là đường thẳng mà chỉ có trong sơ đồ kích thước Do đó khi tiến hành công việc thực tế, các đường chuẩn tưởng tượng phải được chuyển thành những vật có thể nhìn thấy được
Bề mặt bên trên của bộ nắn khung loại bàn là mặt phẳng nên nó có thể
sử dụng như là một đường chuẩn tưởng tượng Tuy nhiên, các kích thước chiều cao phải được chuyển đổi thông qua việc tính toán Đo các đường chuẩn tưởng tượng và bề mặt trên của bộ chỉnh sửa khung xe là không có cùng độ cao
4.4 Quy trình chuyển đổi kích thước chiều cao
Đặt tất cả chiều cao của điểm kép, của tấm thép sàn xe (bên dưới tấm thép sàn xe và mặt bên trên của bộ nắn khung) ở cùng một độ cao
Trang 7Tức là đặt xe song song với bàn nắn Tính toán hằng số (khoảng cách
từ mặt trên bàn nắn đến đường chuẩn tưởng tượng) để chuyển đổi kích thước chiều cao (thay đổi từ khoảng cách giữa từng điểm và đường chuẩn tưởng tượng đến khoảng cách giữa từng điểm và mặt phẳng bên trên của bàn nắn khung xe) Cộng hằng số và kích thước chiều cao để thành giá trị chuyển đổi
Ví dụ phần dưới của tấm thép sàn xe (chiều cao điểm kẹp tấm thép sàn xe): 300mm
Hằng số: 200mm (300mm – 100mm)
Đường chuẩn tưởng tượng: 100mm từ phần dưới sàn xe
Hằng số: là kích thước giữa mặt trên bàn nắn khung và đường chuẩn tưởng tượng
Kích thước chuyển đổi = kích thước giữa các điểm + hằng số (200mm)
4.5 Kéo nắn thân xe
Hình dung mức độ hư hỏng và thao tác sửa chữa: Mặc dù các xe bị
hư hỏng khi tai nạn trông có vẻ giống nhau nhưng không chiếc nào giống chiếc nào do kết cấu thân xe ô tô rất phức tạp và khu vực mà chịu lực chấn động tác dụng khác nhau tuỳ theo từng tai nạn Việc sửa chữa những hư hỏng phức tạp không chỉ được tiến hành dựa vào kinh nghiệm hay các giác quan, mà điều quan trọng là phải hệ thống hóa kế hoạch làm việc dựa vào những điểm cơ bản Một bước quan trọng để hệ thống hoá kế hoạch công việc là hình dung mức độ hư hỏng và thao tác sửa chữa
Trang 8Hình dung mức độ hư hỏng: Đây là một bước quan trọng để hình dung một cách chính xác mức độ hư hỏng của thân xe theo ba chiều (chiều dọc, chiều ngang và chiều cao) bằng cách tập hợp những thông tin thu nhận được qua việc đánh giá quan sát và đo đạc kích thước Do rất khó hình dung được hư hỏng thân xe một cách trực tiếp nên hư hỏng phải được phân tích theo hai chiều (nhìn từ phía trên, nhìn từ phía dưới và nhìn từ phía bên sườn) Các kết quả được kết hợp lại để tiến hành việc phân tích theo ba chiều Như hình vẽ dưới đây để đơn giản hoá quá trình hình dung mức độ hư hỏng có thể sử dụng sơ đồ kích thước để tạo một bản vẽ đơn giản nhằm cho phép phân tích hai chiều Các kết quả có thể áp dụng cho dạng kích thước ba chiều mô phỏng thân xe.
Hình dung thao tác sửa chữa: Dựa trên hình ảnh hình dung mức
độ hư hỏng Đây là công đoạn hình dung quy trình làm việc, dụng cụ và thiết bị, thao tác sửa chữa, dự đoán kết quả và trình tự thao tác Ngược lại so với công đoạn hình dung mức độ hư hỏng (một công đoạn sắp xếp thông tin), hình dung thao tác sửa chữa là một công đoạn lắp ghép nội dung của thao tác sửa chữa Bằng cách hình dung thao tác sửa chữa theo phương pháp như vậy, sự gián đoạn trong công việc có thể được giảm thiểu, cho phép người sửa chữa thực hiện thao tác chính xác và hiệu quả cao
Cố định và đỡ thân xe: Nếu cố gắng thực hiện việc nắn chỉnh thân
xe mà không bắt chặt nó vào vị trí, sẽ không thể điều chỉnh được toàn bộ thân xe và xe sẽ dịch chuyển Để cho phép lực kéo tập trung vào vị trí hư hỏng, một phản lực (tạo ra bằng cách cố định thân xe) phải được tác dụng với lực kéo)
Trang 9Thông thường, nếu cabin xe không bị hư hỏng, các kẹp được gắn vào bốn điểm kích xe ở tấm ốp phía dưới sàn xe để tạo nên phản lực với mục đích bắt chặt thân xe Nó được gọi là phương pháp bắt chặt thân xe cơ bản Tuy nhiên, do tấm ốp phía dưới sàn xe không được thiết kế đặc biệt cho việc nắn thân xe, các vùng khác cũng phải được bắt chặt để làm giảm ứng suất tác dụng lên tấm ốp phía dưới sàn xe Điều này đặc biệt quan trọng nếu lực kéo tác dụng theo hướng ngang và phía dưới Nó được gọi
là phương pháp bắt chặt phụ trợ (đỡ) Bổ sung phương pháp bắt chặt phụ vào phương pháp bắt chặt cơ bản có thể giúp ngăn chặn những hư hỏng thứ cấp và đảm bảo công việc chỉnh sửa khung xe, chỉnh sửa thân xe đạt hiệu quả cao
Các ví dụ về cố định các điểm phụ
Ví dụ 1: Vị trí là toàn bộ dầm bên phía trước (hư hỏng theo phương thẳng đứng); Hiện trạng: chiều cao điểm A: -15mm; Chiều cao điểm B: +20mm; Chiều cao điểm C: không hư hỏng
Bổ sung thêm điểm cố định phụ C, là nơi không bị hư hỏng Ứng suất tác dụng lên kẹp khung xe giảm đi do đó tránh được các hư hỏng thứ cấp do lực kéo xuống phía dưới có thể được phân tán đến kích Hiệu quả của công việc nắn chỉnh tăng lên do lực kéo tập trung vào vùng hư hỏng.Điểm C là điểm không bị hư hỏng được giữ nguyên ở trạng thái cũ
Trang 10Nếu cố gắng nắn chỉnh thân xe mà không cố định điểm C, trong quá trình nắn chỉnh, do lực kéo giảm (làm cho tấm thép vỏ xe bị biến dạng) lực này được truyền đến tấm thép thân xe và tới vùng thân xe bị kẹp Kết quả là
hư hỏng thứ cấp bị phát sinh ở vùng không bị hư hỏng và vùng kẹp thân xe
Ví dụ 2: Vị trí: Đầu trước của dầm bên phía trước (hư hỏng theo
phương nằm ngang); Hiện trạng: Kích thước đường chéo tại điểm A là dài hơn 20mm; Vùng phía sau điểm B không bị hư hỏng; Vùng phía sau điểm
B là cánh tay đòn uốn được gia cố thêm miếng tăng cứng dầm bên phía trước Sử dụng xi lanh hay kẹp móc treo tạo nên một điểm cố định phụ B theo chiều ngang (cánh tay đòn uốn) Điều này sẽ phân tán lực ngang do
đó tránh hư hỏng thứ cấp
Hiệu quả của công việc nắn chỉnh tăng lên do lực kéo tập trung vào vùng hư hỏng Điểm C là điểm không bị hư hỏng được giữ nguyên trạng thái ban đầu Nếu có một dầm hệ thống treo: thân xe có thể nắn chỉnh tốt
mà không bị ảnh hưởng đến vị trí chuẩn của vùng ở trạng thái bình thường
mà được tác dụng một lực kéo yếu, do điểm C được cố định bởi dầm hệ thống treo Tuy nhiên, nếu tác dụng lực lớn nó sẽ không chỉ làm cho điểm
C dịch chuyển mà lực cũng sẽ truyền qua dầm hệ thống treo gây nên hư
Trang 11hỏng cho dầm ngang phía trước của phía đối diện của xe Nếu không có dầm hệ thống treo: Điểm không biến dạng do một tấm gia cố được đặt bên trong điểm kéo Trong quá trình nắn chỉnh, lực kéo tập trung vào điểm kéo
là một vùng yếu của thân xe Kết quả là vùng thân xe mà có lắp dầm bên phía trước và tai xe trong bị hư hỏng
Ví dụ 3: Vị trí: đầu phía trước của dầm dọc phía trước (hư hỏng theo
hướng chiều rộng của xe); Hiện trạng: kích thước đường chéo tại điểm A dài hơn 50 mm; Vùng phía sau điểm B không bị hư hỏng
Dầm dọc phía trước bị cong nghiêm trọng ở vị trí có lắp dầm ngang
hệ thống treo Gắn một kẹp móc treo vào phần phía trên của dầm bên phía trước, một kẹp loại vít vào phía dưới và tạo một điểm cố định phụ theo hướng ngang Điều này sẽ phân tán lực ngang do đó tránh được hư hỏng thứ cấp Hiệu quả của công việc nắn chỉnh tăng lên do lực kéo tập trung vào vùng hư hỏng Điểm B là điểm không bị hư hỏng
Trang 12Nếu cố gắng nắn chỉnh khung xe mà chỉ sử dụng kẹp móc treo để
đỡ một nửa phần phía trên của dầm dọc phía trước Mặc dù phía trên điểm
B được đỡ bởi móc, phần dưới bị di chuyển do lực kéo gây nên mặt cắt ngang của dầm dọc gị xoắn Đặc biệt khó sửa chữa hiện tượng xoắn của cắt ngang loại bao kín
Ví dụ 4: Vị trí tai xe phía trước và vách ngăn khoang động cơ (hư hỏng
theo hướng dọc); Hiện trạng: kích thước chiều dài của vách ngăn khoang động
cơ bị ngắn lại 5mm; Có thể xác định rằng khu vực phía sau trụ trước là bình thường, do kích thước cửa trước và phần bản lề cửa trước bình thường
Tạo một điểm cố định phụ bằng cách gắn một móc khoá vào giữa trụ trước và trụ giữa tại phần mép cửa trước Hư hỏng thứ cấp có thể ngăn chặn được do lực kéo phân tán theo bốn hướng Hiệu quả của công việc nắn chỉnh tăng lên do lực kéo tập trung vào vùng hư hỏng Điểm bình thường được giữ ở trạng thái không bị hư hỏng
Trang 13Trong quá trình nắn chỉnh, lực kéo được phân chia giữa phần đầu và phần dưới của trụ trước và truyền ra phía sau do lực giảm xuống Kết quả
là vùng mép cửa trước bị hư hỏng Phần bản lề của cửa trước trở lên không bình thường do trụ trước dịch chuyển về phía trước
Kẹp: Kẹp là những dụng cụ có răng dùng để kẹp các tấm thép
với nhau Trong quá trình nắn chỉnh khung xe, để bắt chặt thân xe vào bộ kéo nắn thân xe Các “kẹp gầm” được gắn vào các đường gờ của tấm ốp bên dưới sườn xe, hay “kẹp thân xe” được gắn vào các vùng hư hỏng để kéo các tấm thép ra bằng xích Mặc dù ứng dụng khác nhau nhưng chúng đều có cùng một mục đích là truyền lực đặc biệt lớn bằng cách nối thân xe
và bộ kéo nắn thân xe
Các loại kẹp và ví dụ về ứng dụng: Về cơ bản, kẹp gầm xe được sử
dụng là những cái được gắn vào bộ kéo nắn thân xe Tuy nhiên chủng loại
và hình dạng của kẹp thân xe khác nhau và chúng được sử dụng tùy vào những yêu cầu khác nhau về vùng gắn kẹp, tải trọng và hướng kéo
Trang 14Các kẹp và hướng kéo: Các hướng mà kẹp có thể kéo được xác
định bởi hình dạng các răng của chúng
Các răng kẹp: Về cơ bản, các răng của chúng phải được đặt sao
cho chúng trùng vào hướng lực kéo Nếu các răng của kẹp được đặt khác hướng kéo, các kẹp dễ bị trượt và tuột ra
Hình dạng của các kẹp: Đường kéo dài của hướng kéo phải giao
nhau với tâm cố định trên kẹp mà được gắn vào thân xe Nếu điểm giao nhau bị lệch, nó sẽ tạo ra mô men, không chỉ gây nên hư hỏng cho thân
xe mà còn làm cho kẹp bị trượt và tuột ra Khi kéo kẹp chúng ta phải luôn hình dung lực kéo từ xích được truyền qua kẹp đến thân xe như thế nào
Vị trí gắn kẹp: Chiều dài của tấm thép bị ngắn lại do sự hấp thụ
năng lượng va đập Việc nắn chỉnh thân xe là một quá trình kéo các tấm thép bị ngắn lại này ra và phục hồi thân xe về hình dạng và kích thước ban đầu của nó Mặc dù hướng mà tấm thép bị hư hỏng được kéo ra bằng kết quả của phép đo kích thước, việc đánh giá bằng quan sát của những vùng
bị cong và nhăn là một yếu tố quan trọng trong việc tìm ra vị trí chính xác
để gắn kẹp
Kỹ thuật kẹp: Để thực hiện công việc kẹp theo phương pháp lý
tưởng nhất, ta phải lựa chọn các loại kẹp và vị trí thích hợp dựa vào các yếu tố như khả năng tập trung lực kéo và vùng hư hỏng Khả năng kéo ở hướng tối ưu và tránh các hư hỏng thứ cấp
Trang 15Sử dụng và bảo dưỡng kẹp:
Những phần dùng để kẹp của mỗi chiếc kẹp được chế tạo với các răng sắc để bám chặt vào tấm thép Nếu các răng bị cùn do bị mài mòn hay bị tắc do keo làm kín thân xe hoặc sơn thì chúng sẽ không bám tốt vào tấm thép vỏ xe cần kẹp Kết quả là lực kéo không được truyền đến tấm vỏ
xe cần kéo một cách tốt nhất Do đó phải kiểm tra tình trạng của các răng trước khi sử dụng
Hơn nữa nếu phần ren của bulông và đai ốc hay phần tiếp xúc của vòng đệm bị hỏng do mài mòn kim loại nó sẽ không thể bám chặt được các vấu kẹp Do đó để ngăn không cho phần tiếp xúc bị mòn cần phải bôi dầu vào các ren và vòng đệm trước khi sử dụng kẹp
Kéo
Thao tác kéo: Điểm cơ bản của việc nắn chỉnh thân xe là tác dụng
lực kéo vào tấm thép bị hư hỏng theo hướng ngược lại, có nghĩa là ngược lại với hướng của va đập Tuy nhiên do tấm thép vỏ xe của ô tô bị hỏng không chỉ ở hướng lực tác dụng mà còn ở hướng ngang và hướng thẳng đứng Chỉ đơn giản kéo tấm thép vỏ xe theo một hướng đối diện sẽ không truyền lực kéo một cách tốt nhất đến tất cả những khu vực bị hư hỏng
Do đó kéo thân xe phải kéo theo nhiều hướng sao cho lực kéo phải được truyền đến tất cả những vùng hư hỏng
Điểm cơ bản của thao tác kéo: Điểm cơ bản của thao tác kéo là lắp các
kẹp vào những bề mặt nhẵn mà ta phát hiện ra trong quá trình đánh giá bằng quan sát và kéo chúng theo hướng dựa trên kết quả của phép đo kích thước Trong quá trình nắn thân xe, ta phải phân tích được những lực tác dụng lên tấm thép vỏ xe để dự đoán được lực kéo sẽ tác dụng lên tấm thép vỏ xe như thế
Trang 16nào Để nắn thẳng một thanh bị cong thì cả hai đầu của thanh phải được kéo ra ngoài Nếu cả hai đầu của thanh được kéo ra ngoài mà độ cao của điểm kéo và tâm nối không trùng nhau thì sẽ xuất hiện một mô men tại điểm nối Mô men này có tác dụng nắn thẳng tâm nối và việc kéo hai đầu sẽ nắn thẳng điểm nối
Do thanh thép dịch chuyển theo hướng phục hồi, tỷ lệ lệch tâm của nó giảm xuống làm cho mô men giảm xuống Để thanh thép được phục hồi hoàn toàn
vị trí ban đầu thì lực kéo phải được tăng lên Lực F0 đẩy tâm nối xuống dưới tác dụng theo hướng giúp cho mô men và theo hướng đẩy hai đầu của thanh thép
ra ngoài Bằng cách tác dụng lực F0 tâm nối có thể được nắn chỉnh lại hiệu quả hơn và cả hai đầu của thanh thép có thể nắn chỉnh lại với một lực nhỏ hơn Kỹ thuật cơ bản này được dùng trong việc nắn chỉnh thân xe được gọi là phương pháp kéo nhiều điểm
4.6 Nắn khung
Các yếu tố cơ bản của nắn khung: Ghìm chặt (phương pháp ghìm chặt
và đỡ cơ bản); Ghìm chặt (bằng chêm và bulông); Kéo giãn bằng xích và kẹp
Trang 17Để thực hiện một cách hiệu quả một thao tác nắn khung ta phải kết hợp cả ba yếu tố cơ bản với việc giữ cân bằng cho tốt Nếu không kết hợp chúng một cách thích hợp thì lực kéo của thiết bị nắn khung không thể truyền tới khung được Nếu không duy trì được sự cân bằng giữa ba yếu
tố có thể làm hư hỏng khung và các thiết bị khác dẫn tới những tai nạn nghiêm trọng và tất nhiên là không thể tiến hành thao tác nắn khung có hiệu quả được Vì vậy khi thay đổi cường độ và hướng của lực kéo do các thiết bị kéo sinh ra cần phải thay đổi số lượng và chủng loại các phương pháp ghìm chặt
Ghìm chặt khung: Ghìm chặt khung bằng xích và một giá đỡ cứng
vững Đây là phương pháp cổ điển để ghìm chặt khung Tuy dùng xích là phương pháp đơn giản nhất để ghìm chặt khung song xích không thể ghìm chặt xe theo mọi hướng vì xích không thể duy trì độ cứng vững theo mọi hướng (xích còn không thể triệt tiêu được mô men quán tính) Hơn nữa khu vực tiếp xúc của khung với xích có thể bị biến dạng Vì diện tích tiếp xúc này rất nhỏ Chính vì vậy đây không phải là một phương pháp có hiệu quả để nắn thẳng một biến dạng nhỏ của khung hoặc để nghiên cứu xem lực kéo tác động lên các điểm cố định như thế nào Phương pháp ghìm chặt một cách cơ bản được thực hiện một cách lý tưởng thông qua việc sử dụng xích và một giá đỡ cứng vững Ghìm chặt khung bằng các êtô kẹp khung hoặc các đồ gá đặc biệt
Trang 18Để sửa chữa khung một cách có hiệu quả bằng cách đo đạc các kích thước với độ chính xác cao phải ghìm khung với thiết bị nắn khung Có thể ghìm chặt khung xe với thiết bị nắn khung bằng các êtô kẹp khung hoặc các đồ gá đặc biệt.
Các thao tác nắn khung: Cũng giống như khi nắn chỉnh thân xe hợp nhất, thao tác cơ bản để nắn khung là đẩy và kéo
Thao tác đẩy 1 (kết hợp xi lanh thuỷ lực và đồ gá)
Trang 19Thao tác đẩy 2 (kết hợp xi lanh thuỷ lực với vật liệu thép) Để đẩy khung ở một góc 900 đạt thanh vật liệu thép như một bàn đế trên thiết bị nắn khung.
Thao tác đẩy 3 (kết hợp giàn kéo với xi lanh thuỷ lực): Kết nối giàn kéo với thiết bị nắn bằng một sợi xích để hạn chế chuyển động của giàn kéo Dùng bàn kéo làm bệ tỳ cho thao tác đẩy
Trang 20Thao tác kéo 1 (để tránh vật cản): Thao tác là kéo tuy nhiên lực đẩy lại tác động vào phía sau của khung.
Thao tác kéo 2 (hàn tấm thép lên khung để dùng làm chỗ gá):
Không thể trực tiếp gá móc kéo lên khung Do đó phải hàn những tấm thép lên khung để làm chỗ gá những đầu kẹp Tốt nhất là các tấm thép này phải hơi dày hơn một chút so với khung
Trang 21Thao tác kéo 3 (kéo xuống phía dưới): Gá một đoạn thép L lên phía trên của khung để tránh gây ra hư hỏng thứ cấp cho khung trong khi phải truyền một lực kéo lên một khu vực rộng lớn hơn Lồng một ống tròn vào mỗi xích kéo để đảm bảo chuyển động của xích được êm Đặt các xích néo trên sàn và kéo khung xuống phía dưới bằng phương pháp kéo kiểu khung ghép hình gồm xi lanh thuỷ lực và xích.
Thao tác kéo 4 (kéo xuống phía dưới): Dùng một khối puli để biến lực kéo hướng theo phía trước thành lực kéo xuống phía dưới để kéo vít khung xuống
Trang 22Thao tác kéo 5 (kéo xuống phía dưới): Để kéo khung xuống một cách có hiệu quả phải kéo khung xuống ở góc 900 Khi đó bộ phận néo lực kéo phải ở vị trí 900 phía dưới khung Nếu ở vị trí 900 dưới khung không
có chỗ néo phải đặt một thanh thép cứng vững ở dưới thiết bị nắn khung
để dùng làm chỗ néo
Thao tác kéo 6 (kéo xuống phía dưới)
Thao tác kéo 7 (kéo lên phía trên): Dùng giàn kéo đặt lên thiết bị nắn khung để làm chỗ néo và kéo khung lên phía trên bằng một xi lanh thuỷ lực và một sợi xích
Trang 23Bài thực hành số 4:
KÉO NẮN KHUNG XE
Yêu cầu thiết bị và dụng cụ thực hành:
Thân, khung xe bị hư hỏng, dụng cụ chuyên dùng như khung nắn thân xe di động, cảo, đội, cẩu kéo, thước đo
Trình tự thực hiện:
Nội dung: Kéo nắn thân, khung xe bị hư hỏng
Yêu cầu kỹ thuật cần thực hiện:
Đánh giá được mức độ hư hỏng của thân, khung xe
Gá đặt thân, khung xe vào vị trí sửa chữa
Định vị và đo kiểm các thông số chuẩn ban đầu
Phân tích công việc và chọn lựa những dụng cụ chuyên dùng thích hợp cho từng công đoạn
Thực hiện công việc kéo nắn theo quy trình
Đo kiểm các kích thước thực tế để so sánh thông số chuẩn ban đầu
để đánh giá mức độ hoàn thiện
Trang 24Chương 5:
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT
5.1 Mục đích và phương pháp chuẩn bị bề mặt
Mục đích của sự chuẩn bị bề mặt: Chuẩn bị bề mặt là một thuật
ngữ chung được dùng để mô tả các hoạt động bao gồm phục hồi hư hỏng hoặc sửa chữa các tấm vỏ xe để tạo ra một mặt nền cơ bản phù hợp cho lớp sơn trên (sơn màu)
Mục đích chính của sự chuẩn bị bề mặt như sau:
Mục đích chính
của sự chuẩn bị
bề mặt
Làm kín các bềmặt
Cải thiện tính bám dính
Phục hồi hình dạng
Bảo vệ kim loạinền
Chống gỉ và rỗ bềmặt kim loại
Tăng tính bám dính giữa các lớp
Phục hồi hình dạng ban đầu bằng cách làm phẳng các vết xước
Tránh hấp thụ vật liệusơn, được dùng khi phun lớp sơn màu