1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam Phòng giao dịch Liễu Giai

108 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Hình Thức Tín Dụng Cho Vay Tiêu Dùng Của Ngân Hàng Thương Mại Và Thực Tiễn Thực Hiện Tại Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam- Phòng Giao Dịch Liễu Giai
Tác giả Nguyễn Diệu Linh
Người hướng dẫn TS. Tô Mai Thanh
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Kinh Tế Luật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 378,59 KB
File đính kèm LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP.rar (293 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH KHOA KINH TẾ Sinh viên NGUYỄN DIỆU LINH Lớp CQ5463 01 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU D.

Trang 1

Sinh viên: NGUYỄN DIỆU LINH

Lớp: CQ54/63.01KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM- PHÒNG GIAO DỊCH LIỄU GIAI

Chuyên ngành: Kinh Tế Luật

Mã số: 63 Giáo viên hướng dẫn: TS TÔ MAI THANH

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng

tôi, các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực xuất

phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.

Tác giả khóa luận tốt nghiệp

Nguyễn Diệu Linh

Trang 4

BLTTDS : Bộ luật tố dụng dân sự

NHTM : Ngân hàng thương mại

TCTD : Tổ chức tín dụng

PGD : Phòng giao dịch

Trang 5

Bảng 2.1 : Tình hình dư nợ cho vay tiêu dùng của PGD Liễu Giai giaiđoạn 2017-2019 42Bảng 2.2 : Tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng phân theo mục đích sửdụng 44Bảng 2.3: Phân loại nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ về hình thứctín dụng cho vay tiêu dùng 47

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại là một trong nhữnghoạt động chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng Các ngân hàngtìm mọi cách để cho vay với khả năng tối đa, tìm kiếm đối tượng cho vay vàvận dụng các loại hình tín dụng, trong đó có hình thức tín dụng cho vay tiêudùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu quan trọng của mọi Ngânhàng thương mại

Đã là con người trong xã hội và trong thời đại nào thì cũng không thểkhông có nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại Có thể nói, tiêu dùng là nhu cầu tấtyếu của con người Trong điều kiện hiện nay, khi đời sống càng được nângcao, nhu cầu tiêu dùng của nhiều cá nhân tăng lên đặc biệt với các hàng hoágiá trị lớn như mua sắm nhà, xe ô tô, xe máy, Cho vay tiêu dùng đem lại cơhội cho khách hàng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu

Trang 7

Nắm bắt được những nhu cầu đó, Ngân hàng TMCP Quốc Tế ViệtNam nói chung và VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai nói riêng đã không ngừnghoàn thiện và nâng cao các sản phẩm dịch vụ của mình Tuy nhiên, hiện nayquy định về cho vay tiêu dùng vẫn chưa có hành lang pháp lý riêng để bảo vệquyền lợi bên đi vay và bên cho vay nên hoạt động cho vay tiêu dùng cũngđối mặt với nhiều rủi ro

Ngày 16/06/2010, Quốc hội đã thông qua luật tổ chức tín dụng mớithay thế Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung một sốđiều Luật các TCTD năm 2004 Tuy nhiên, đến hiện nay vẫn chưa có Nghịđịnh hướng dẫn thi hành luật TCTD nên thực tiễn thi hành luật các TCTD

2010 và các văn bản hướng dẫn điều chỉnh hoạt động tín dụng của các TCTDthời gian qua phát sinh nhiều vấn đề tồn tại, vướng mắc cả phương diện lýluận và thực tiễn

Việc nghiên cứu pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại

Trang 8

các Ngân hàng thương mại góp phần hạn chế tranh chấp giữa bên đi vay vàbên cho vay, đồng thời tạo hành lang pháp lý chặt chẽ đảm bảo môi trườngkinh doanh phát triển lành mạnh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội

Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật về tín dụng, đặc biệt là

hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng, tôi đã lựa chọn đề tài “ Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai” để làm đề tài cho Luận văn của mình

2 Đối tượng và mục đích và nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn liênquan đến Pháp luật về hình thức cho vay tiêu dùng tại NHTM nói chung vàVIB nói riêng

Trang 9

Mục đích nghiên cứu:

Đề tài tập trung giải quyết 3 vấn đề cơ bản:

(1) Làm rõ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong pháp luật vềhình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của NHTM

(2) Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hình thức tín dụng chovay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai Từ đó đánh giá những kếtquả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân của hình thức tín dụng chovay tiêu dùng tại VIB phòng giao dịch Liễu Giai

(3) Đề xuất những giải pháp đồng thời kiến nghị liên quan nhằm hoànthiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại VIB phòng giaodịch Liễu Giai

3 Phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là việc thực hiện cho vay tiêu dùngđối với khách hàng tại VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai, trong giai đoạn

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích để đánh giá thựctrạng vận dụng pháp luật trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàngTMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch Liễu Giai

5 Kết cấu của Đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóaluận gồm ba Chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng và pháp luật về hình thứctín dụng cho vay tiêu dùng tại các NHTM

Chương 2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về hình thức tín dụng cho vaytiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Phòng giao dịch LiễuGiai

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức tín dụngcho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại qua thực tiễn thực hiện tại

Trang 11

VIB - Phòng giao dịch Liễu Giai

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI.

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng cho vay tiêu dùng.

Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt độngchủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và

là phương tiện thanh toán

Trên cơ sở nhận gửi, sau khi thực hiện dự trữ bắt buộc và dự trữ chonhu cầu thanh khoản, Ngân hàng sẽ phát sinh các khả năng có thể sử dụng sốtiền còn lại phục vụ hoạt động tài trợ mà chủ yếu là cho vay Trong khi đó

Trang 13

nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn, các doanh nghiệp trong quá trình kinhdoanh luôn có nhu cầu vốn lớn nhưng không thể tự đáp ứng được trongkhoảng thời gian ngắn Từ đó nhằm thoả mãn cung cầu, hoạt động cho vaycủa NHTM đã hình thành.

Theo quy định của pháp luật, cho vay được định nghĩa tại khoản 16

Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Cho vay là hình thức cấp tín

dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản

tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo

thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

Cho vay theo quy định của pháp luật chính là một trong những hìnhthức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay, và là một hoạtđộng mang tính chất nghề nghiệp kinh doanh các ngân hàng thương mại Khithực hiện hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng của mình, các ngân hàngthương mại sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định hoặc cam kết

Trang 14

giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định để sử dụng theo hợp đồng tíndụng đã được ký kết giữa các bên để khách hàng sử dụng trong một khoảngthời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc là hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh doanhNgân hàng Tín dụng được chia ra làm nhiều loại, trong đó tín dụng tiêu dùng

là một trong số đó và cũng góp phần đem lại nguồn thu đáng kể cho hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng

Ta có thể định nghĩa về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng như sau:

Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng để tài trợ

cho chính sự tiêu dùng của các cá nhân trong xã hội

Mục đích của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng là để mua sắm tư liệu tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cá nhân nhằm nâng cao mức sống và cải thiện đời sống của các cá nhân trong xã hội

Đặc điểm của của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng:

Trang 15

Thứ nhất, quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn:

Các khách hàng tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường

có nhu cầu vốn không lớn lắm Đó là vì khi xác định mua sắm bất cứ vật dụng

gì người tiêu dùng phải có một khoản tích lũy từ trước (vì không khi nào ngânhàng cho vay 100% nhu cầu vốn) Tuy nhiên số lượng các khoản vay tiêudùng là lớn do đối tượng của vay tiêu dùng là mọi tầng lớp dân cư trong xãhội

Thứ hai, các khoản vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao:

Vì đối tượng của các hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộgia đình nên bên cạnh các yếu tố khách quan từ bên ngoài như thiên tai, mấtmùa, thất nghiệp, chu kỳ kinh tế, còn có các yếu tố chủ quan từ chính ngườitiêu dùng

Đó chính là tâm lý tiêu dùng, người tiêu dùng muốn vay tiêu dùngnhưng không muốn trả Trong những trường hợp như vậy, cho dù có nắm giữ

Trang 16

tài sản đảm bảo ngân hàng vẫn đối mặt với rủi ro giảm thu nhập Mặt khác docác khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cứng nhắc nên khi lãi suất huyđộng tăng lên ngân hàng đối mặt với rủi ro lãi suất.

Thứ ba, vì tính rủi ro trong cao hơn các hình thức tín dụng khác nên lãi suấtcho vay mà NHTM áp dụng cũng cao hơn và thường được tính theo lãi suấtcho vay trả góp

1.1.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng.

Có nhiều hình thức cho vay tiêu dùng dựa trên những tiêu chuẩn khác

nhau để phân loại Sau đây là một số căn cứ để có thể phân loại cho vay tiêudùng:

Căn cứ vào mục đích vay:

Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầuxây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của các cá nhân, hộ gia đình Khoảnvay này có đặc điểm là thời gian dài và quy mô vay thường lớn

Trang 17

Cho vay tiêu dùng không cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ nhu cầucải thiện đời sống

Căn cứ vào hình thức hoàn trả:

Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người vay

sẽ trả nợ (gồm số tiền cả gốc và lãi) làm nhiều lần theo những kì hạn nhấtđịnh trong thời hạn cho vay

Cho vay trả một lần: Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ giađình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khikhoản vay đáo hạn

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản vay trong đó ngân hàngcho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc thấu chidựa trên tài khoản vãng lai

Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ:

Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là hình thức mà ngân hàng và kháchhàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho vay hoặc thu nợ

Trang 18

Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàngmua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc

đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, nhưng vẫn còn trong hạn thanhtoán Với hình thức này, ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bánhàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng

Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay:

Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay: Khách hàng

có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó khôngđáp ứng các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng

sử dụng chính tài sản được hình thành từ khoản vay của ngân hàng để làm vậtđảm bảo Để đảm bảo rằng khách hàng sẽ không bán tài sản hoặc sử dụngkhông cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản ngân hàng thường yêu cầu kháchhàng phải cam kết bảo quản tài sản , mua bảo hiểm và người thụ hưởng làngân hàng đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng

Trang 19

Cho vay cầm cố: Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiềnvới điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảosang cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết Danh mục và điều kiện của tàisản cầm cố được ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luận

và chính sách tín dụng của từng ngân hàng Các tài sản cầm cố thường là cáctài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồngthời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động củakhách hàng chẳng hạn như: các giấy tờ có giá, kim loại quý…

Cho vay thế chấp: Là hình thức mà người vay phải chuyển các giấy tờchứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo của mình sang chongân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết

Những tài sản có thể mang thế chấp thường là những bất động sản nhưquyền sử dụng đất, nhà cửa hoặc những bất động sản mà ngân hàng nắm giữ

nó không thuận tiện như ô tô, xe máy Việc thế chấp bằng tài sản cho phép

Trang 20

người vay tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay tuy nhiên quátrình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát củatài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế Việc định giá tài sản đảm bảo cũng

là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng tránh định giá quá caogây thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp ảnh hưởng đến khả năngvay của khách hàng Tuy nhiên đối với cho vay tiêu dùng thì giá trị tài sảnđảm bảo cũng không quá lớn như là các dây chuyền sản xuất, nhà xưởng nhưđối với cho vay kinh doanh

1.1.3 Nguyên tắc của hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng

Nguyên tắc thứ nhất: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích,đúng kế hoạch đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc thứ hai: Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúngthời hạn cam kết trong hợp đồng tín dụng

Trang 21

1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại.

Để đảm bảo an toàn cho các khoản vay và đảm bảo nguồn vốn cho vaykhông mất cân đối trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo chovay đúng đối tượng, đủ điều kiện vay, kiểm soát được rủi ro, hầu hết các quốcgia có hệ thống ngân hàng thương mại đều ban hành các quy định pháp luật

về hoạt động cho vay Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của

ngân hàng thương mại được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ngân hàng thương mại

cấp tín dụng cho khách hàng thông qua nghiệp vụ cho vay Pháp luật điều

chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm bộ phận phápluật điều chỉnh các chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay; điều chỉnh hình

Trang 22

thức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; điều chỉnh hìnhthức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; và các biện phápđảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nhất thiết phải được điềuchỉnh bởi các quy định của pháp luật vì:

Xuất phát từ vị trí của hoạt động cho vay, đây được coi là hoạt động rấtquan trọng của ngân hàng thương mại Vì nó tạo ra nguồn lợi duy trì hoạtđộng của ngân hàng thương mại

Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn Tính rủi ro này bắtnguồn từ đặc thù của đối tượng nghiệp vụ cho vay là tiền tệ - một loại hànghóa có tính nhạy cảm và rủi ro cao Việc thu hồi vốn của ngân hàng thươngmại thường phải phụ thuộc vào khả năng kinh doanh và thiện chí trả nợ củakhách hàng

Trang 23

Từ những lý do trên, việc cần thiết là phải tạo ra một hành lang pháp lý

để kiểm soát, đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động

ổn định của các ngân hàng thương mại nói chung Đồng thời ràng buộc tráchnhiệm pháp lý đối với các chủ thể tham gia quan hệ cho vay Đồng thời tạo racho ngân hàng thương mại những lá chắn để tránh khỏi những hậu quả nặng

nề cho nền kinh tế

1.2.2 Nội dung pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại.

* Quy định về chủ thể tham gia trong hoạt động cho vay tiêu dùng.

Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vaykhông chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tíndụng, mà còn góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp hợp đồng tín dụng cũngnhư củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch cho vay

Bên cho vay:

Trang 24

Trong quan hệ cho vay giữa ngân hàng thương mại với khách hàng,bên cho vay thông thường là ngân hàng thương mại có đủ những điều kiện dopháp luật quy định Ngoài ra, các tổ chức khác không phải là ngân hàngthương mại nếu được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện hoạt động tíndụng thì cũng có thể là bên cho vay và cũng phải thỏa mãn các điều kiện chủthể giống như đối với bên cho vay là ngân hàng thương mại.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, một ngân hàng thương mạimuốn trở thành chủ thể cho vay phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp

- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y

- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp

- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tíndụng với khách hàng

Trang 25

Đối với tổ chức không phải là ngân hàng thương mại (TCTD), muốn trởthành chủ thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãncác điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp pháp Trong giấy phép hoạtđộng ngân hàng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức nàyphải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện.Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay khôngchỉ góp phần hạn chế, loại trừ những ngân hàng thương mại không đủ tiêuchuẩn kinh doanh trên thương trường, góp phần lành mạnh hóa các quan hệtín dụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, mà còn là căn cứ

để các luật gia hay các thẩm phán, trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánhgiá một cách khách quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hoạt động tín dụng

Bên vay:

Trang 26

Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thỏa mãn các điều kiện sau (vềnguyên tắc, những điều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể

đi vay trong mọi hợp đồng tín dụng):

- Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối

với tổ chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đạidiện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi kýkết hợp đồng tín dụng;

- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp.

Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện riêng sau (những điều kiệnnày chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được cácbên thỏa thuận rõ trong hợp đồng tín dụng):

- Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam

kết;

- Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả;

Trang 27

- Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản

của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồngbảo lãnh

Tóm lại, việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên chovay và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng, ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỷcương trong hoạt động tín dụng còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm đảm bảo antoàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

* Quy định về hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, quan hệ cho vay giữa ngânhàng thương mại với khách hàng được xác lập và thực hiện thông qua công cụpháp lý là hợp đồng tín dụng

Khái niệm của hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng là là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng

thương mại (bên cho vay) với khách hàng (bên vay, tổ chức, cá nhân) nhằm

Trang 28

xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp

luật, theo đó ngân hàng thương mại (bên cho vay) chuyển giao một khoản

vốn tiền tệ cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định

với điều kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau

một thời gian nhất định.

Hình thức hợp đồng tín dụng:

Theo quy định tại điều 17 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày31/12/2001, mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thìmới có giá trị pháp lý Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì những ưu điểmsau đây:

- Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng

chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phátsinh từ hợp đồng tín dụng

Trang 29

- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự

công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lậpước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách

xử sự hợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết

- Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu baogồm văn bản viết và văn bản điện tử Hợp đồng tín dụng được xác lập thôngqua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giaodịch bằng văn bản Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý nhưvăn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch

Nội dung hợp đồng tín dụng:

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do cácbên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng vàphù hợp với pháp luật Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên,

Trang 30

đồng thời cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản củamỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng.

Theo quy định tại điều 17 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày31/12/2001, nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bảnsau đây:

- Điều khoản về điều kiện vay vốn Khi thỏa thuận điều khoản này, các

bên cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vayphải thỏa mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực

- Điều khoản về đối tượng hợp đồng Trong điều khoản này, các bên

phải thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợpđồng tín dụng đáo hạn

- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay Các bên phải ghi rõ trong

hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu

kể từ ngày ký hợp đồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu

Trang 31

trước về khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiếnhành thỏa thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.

- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay Đây là một điều

khoản rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi chovay Vì thế, các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dầnhàng tháng (trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn.Nếu khoản vay được thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng

có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khảnăng tài chính của bên vay khi trả nợ

- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay Trong điều khoản này, các

bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì Việc thỏa thuậnđiều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảmbảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các ngân hàng thương mại, nhằmtránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích phiêu

Trang 32

lưu, mạo hiểm Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo chođồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thờigian sử dụng vốn, các bên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốnvay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.

- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Đây là điều

khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biệnpháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hòa giải hoặc lựachọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình Nếu trong hợp đồngtín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thìviệc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồngtín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảmbằng tài sản như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một

Trang 33

điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lậpthành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.

* Quy định về các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay tiêu dùng:

Biện pháp bảo đảm bằng tài sản:

Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệquyền lợi của các bên tham gia giao dịch dân sự, đặc biệt là quyền lợi của bên

có quyền trong giao dịch này Với ý nghĩa đó, việc xác lập các giao dịch bảođảm đã góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế,tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiệnnhưng không đúng nghĩa vụ dân sự, kinh tế của bên có nghĩa vụ gây ra Đồngthời, trong trường hợp nêu trên, các giao dịch bảo đảm còn tạo điều kiện khắcphục những thiệt hại cho bên có quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả.Mặt khác, việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản sẽ bảo đảm quyền ưu tiên củangân hàng thương mại trong việc thu hồi nợ trong trường hợp doanh nghiệp

Trang 34

vay vốn gặp khó khăn trong thanh toán, đặc biệt trong trường hợp doanhnghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản Hơn nữa, việc cho vay có bảo đảm bằngtài sản của doanh nghiệp sẽ bảo đảm cho ngân hàng thương mại quản lý, theodõi được hoạt động của doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, từ đó bảo đảm

an toàn cho ngân hàng thương mại trong việc thu hồi vốn vay

Giao dịch bảo đảm được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, do đó, quyền tự

do cam kết, thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch đóng vai trò quyếtđịnh Áp dụng biện pháp bảo đảm, chủ nợ không chỉ có quyền theo hợp đồngbuộc bên vay nợ phải hoàn trả vốn vay, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bênvay dùng để bảo đảm Điều này sẽ đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp doanhnghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản

Thực tiễn cho thấy, việc ký kết một HĐTD có bảo đảm khá phức tạp

và có nhiều thủ tục rất khác so với việc giao kết một HĐTD không có bảođảm Do đó khi ký kết một HĐTD có bảo đảm cần lưu ý các vấn đề sau:

Trang 35

- Hình thức bảo đảm: cần lựa chọn hình thức bảo đảm phù hợp với

nhu cầu, hoàn cảnh và lợi ích của các bên như các hình thức cầm cố, thế chấp,bảo lãnh

- Điều kiện có hiệu lực: cần đảm bảo giá trị pháp lý cho giao dịch bảo

đảm được các bên xác lập bằng cách tuân thủ đúng và đủ các điều kiện theoluật định

- Mối quan hệ về hiệu lực pháp lý giữa giao dịch bảo đảm và HĐTD:

cần quan tâm đến vấn đề này vì nó đã từng được chứng minh là có ảnh hưởngtrực tiếp đến việc xác định và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia HĐTD

có bảo đảm

Theo quy định tại điều 15 nghị định số 163/2006/ NĐ-CP ngày29/12/2006 ta có thể thấy rằng HĐTD và hợp đồng bảo đảm tiền vay là haihợp đồng độc lập về mặt hiệu lực pháp lý nên khi HĐTD có bảo đảm bị vôhiệu thì khối tài sản bảo đảm sẽ được giải quyết như sau:

Trang 36

- Nếu HĐTD có bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp

đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt

- Nếu HĐTD có bảo đảm bị vô hiệu nhưng các bên đã thực hiện một

phần hay toàn bộ thì họ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Tình trạng đặt nặng yếu tố tài sản để xem xét quyết định cho vay: Ai

cũng biết tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu thứ hai, nhưng nó rất quan trọngnếu chẳng may khách hàng gặp rủi ro trong làm ăn, không còn khả năngthanh toán nợ, hơn nữa tình trạng thiếu trung thực của khách hàng trong việccung cấp thông tin, tài liệu đang là phổ biến Vì vậy để giảm bớt rủi ro, thờigian qua các ngân hàng cho vay phần lớn sử dụng biện pháp cho vay có tàisản bảo đảm, đặc biệt đối với những khách hàng chưa đủ niềm tin trong quan

hệ tín dụng, khách hàng mới quan hệ lần đầu, một số khách hàng thuộc loạihình Công ty TNHH, DNTN Tuy nhiên, tình trạng thiên về tài sản bảo đảm,coi đây là yếu tố quan trọng để xem xét quyết định cho vay đôi khi quá khắt

Trang 37

khe, không những gây ra phiền phức cho khách hàng, mà còn đánh mất cơ hộiđầu tư, nhất là đối với khách hàng có quy mô hoạt động lớn đang cần vốn mởrộng sản xuất kinh doanh, khách hàng thuộc sở hữu nhà nước có lịch sử tàichính trung bình đủ điều kiện vay không có bảo đảm bằng tài sản, hoặc kháchhàng có tài sản nhưng do giá trị tài sản bảo đảm thấp so với nhu cầu vốn thựchiện dự án đầu tư.

Biện pháp đảm bảo không bằng tài sản:

Trên thực tế để đảm bảo an toàn cho hoạt động của TCTD, sự bảođảm bằng tài sản cho các khoản vay là cần thiết nhưng đôi khi có nhữngkhoản cho vay kinh doanh hay cho vay tiêu dùng được cung cấp bởi mộtTCTD lại dựa trên cơ sở không cần bảo đảm

Theo quy định của luật các ngân hàng thương mại và các văn bản cóliên quan như các văn bản hướng dẫn thi hành, Nghị định 11/2012/NĐ-CP vềsửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày

Trang 38

29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo, quy định những điều kiện

để TCTD thực hiện quyền cho vay không có bảo đảm đối với khách hàng căn

cứ vào các yếu tố phản ánh năng lực trả nợ của người vay như năng lực chủthể, uy tín của người vay, phương án sử dụng vốn và tình hình tài chính của

họ trừ những trường hợp hạn chế cho vay được quy định tại điều 127 Luật cáccác tổ chức tín dụng năm 2010

Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc tuân thủ các điều kiện quyđịnh về các biện pháp bảo đảm tiền vay của một số TCTD chưa được đầy đủ

đã làm phát sinh nhiều khoản nợ không còn khả năng thu hồi, nguy cơ dẫnđến rủi ro đối với các ngân hàng cho vay (NHCV) là rất lớn Nhìn chung, việcđược quyền tự lựa chọn, quyết định cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vaykhông có bảo đảm đối với các NHCV trong thời gian qua không những đảmbảo tương thích với từng loại khách hàng vay, quy mô tín dụng không ngừngtăng trưởng mà còn đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả Bên cạnh những

Trang 39

kết quả đã đạt được, việc xem xét, quyết định biện pháp bảo đảm tiền vay cónơi, có lúc do NHCV chủ quan, thiếu sâu sát trong phân tích; đánh giá khôngđầy đủ, chính xác các điều kiện của biện pháp bảo đảm tiền vay, các yếu tố vềkhách hàng vay như: mức độ tín nhiệm, khả năng tài chính, tình hình sản xuấtkinh doanh, tính khả thi của dự án/ phương án và khả năng tổ chức thực hiện,quy mô hoạt động, tính chất sở hữu nên không những góp phần làm phiền hàđến khách hàng vay mà còn tăng nguy cơ rủi ro đối với NHCV

* Quy định về giải quyết tranh chấp trong quan hệ tín dụng vay tiêu dùng:

Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng vềphương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài Vì thếkhông phải cứ khi nào có vi phạm hợp đồng thì có tranh chấp hợp đồng màtùy vào hoàn cảnh cụ thể để xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phátsinh tranh chấp

Trang 40

Theo pháp luật Việt Nam, tranh chấp này sẽ được giải quyết bằngnhững con đường sau đây:

- Tự thương lượng giữa các bên tranh chấp: theo quy định của pháp

luật, trước hết các bên có quyền tiến hành thương lượng với nhau nhằm tiếntới dung hòa lợi ích cho cả 2 bên

- Hòa giải giữa các bên tranh chấp thông qua trung gian: giải pháp này

có thể được các bên lựa chọn khi việc thương lượng không đạt kết quả Việcquy định cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên và đểtránh cho các bên những khoản chi phí không cần thiết do phải kiện trướcTòa

- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán: đây là giải pháp

cuối cùng để phân định quyền lợi giữa các bên Theo điều 22 BLTTDS 2015tòa án theo thủ tục dân sự sẽ có thẩm quyền giải quyết trừ trường hợp các bên

Ngày đăng: 12/10/2022, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM- PHÒNG GIAO DỊCH LIỄU GIAI - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM- PHÒNG GIAO DỊCH LIỄU GIAI (Trang 1)
Có thể khái quát mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty theo sơ đồ sau: - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
th ể khái quát mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty theo sơ đồ sau: (Trang 8)
Bảng 2.1: Tình hình dư nợ cho vay tiêu dùng của PGD Liễu Giai giai - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
Bảng 2.1 Tình hình dư nợ cho vay tiêu dùng của PGD Liễu Giai giai (Trang 66)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy hoạt động cho vay trong 3 năm có sự tăng trưởng tương đối cả về doanh số cho vay và doanh số thu nợ - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
h ìn vào bảng số liệu ta thấy hoạt động cho vay trong 3 năm có sự tăng trưởng tương đối cả về doanh số cho vay và doanh số thu nợ (Trang 67)
Bảng 2. 2: Tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng phân theo mục đích sử - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
Bảng 2. 2: Tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng phân theo mục đích sử (Trang 69)
Bảng 2.3: Phân loại nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ về hình thức - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
Bảng 2.3 Phân loại nợ quá hạn và nợ xấu trên tổng dư nợ về hình thức (Trang 74)
Tuy nhiên tình hình kinh tế trong những năm qua có nhiều biến động, khó lường trước được, nên tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn của PGD đều tăng trong năm 2018 tương ứng với 1,83% và 5,3% - Pháp luật về hình thức tín dụng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại và thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam  Phòng giao dịch Liễu Giai
uy nhiên tình hình kinh tế trong những năm qua có nhiều biến động, khó lường trước được, nên tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn của PGD đều tăng trong năm 2018 tương ứng với 1,83% và 5,3% (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w