LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đây là bài viết của em, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập Tác giả Tạ Thị Hường MỤC LỤC DANH M.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là bài viết của em, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả
Tạ Thị Hường
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
Trang 4DANH MỤC BẢNG , SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy hoạt động của Công ty Thẩm định giá và đại lý
thuế Việt Nam 38Bảng 2.1.8(I): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2014 – 2015 42Bảng 2.1.8(II): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2014 – 2015 43Bảng 2.1.8(III): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2016 – 2017 43Bảng 2.1.8(IV): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2016- 2017 44Bảng 2.1.8(V): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2018 44Bảng 2.1.8(II): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2018 45
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1, Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Ngành thẩm định giá nói chung hay thẩm định GTDN nói riêng đã xuấthiện từ sớm và phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhưng ở Việt Nam tuổi đời cònnon trẻ, hệ thống lý luận chưa hoàn thiện Mặt khác, GTDN có một vai trò quantrọng đối với các chủ thể trong nền kinh tế Đối với nhà đầu tư, GTDN là căn cứquan trọng giúp chủ đầu tư đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư, hợp tác kinhdoanh với các doanh nghiệp Đối với nhà quản trị DN, các thông tin về GTDN làcông cụ hữu hiệu giúp chính bản thân các doanh nghiệp đánh giá hoạt động kinhdoanh và giá trị thực tế của doanh nghiệp mình và đối thủ, từ đó xây dựng chiếnlược kinh doanh phù hợp Đối với nhà nước, GTDN là cơ sở thông tin quantrọng để các cấp lãnh đạo tiến hành quản lý nền kinh tế vĩ mô hay nắm được tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh để có chính sách quản lý cụ thể đối với từngdoanh nghiệp như thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản, các loại thuếkhác Đặc biệt, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế như hiệnnay, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phát huy vai trò của mình trong việcgiải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu ngành, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Do đó, thẩm định GTDN đang là vấn đề “nóng” mà các chủ thể kinh tế quan tâm
để đưa ra các chính sách đầu tư, góp vốn, mua bán sáp nhập doanh nghiệp
Trong tình hình thực tế nêu trên, các công ty kinh doanh dịch vụ thẩmđịnh giá đều phải đối mặt với những thuận lợi và khó khăn nhất định từ điềukiện thị trường Và Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam- nơi emđang thực tập cũng không nằm ngoài số đó Là một trong những doanh nghiệphàng đầu trong lĩnh vực thẩm định giá, Công ty Thẩm định giá và đại lý thuếViệt Nam có bề dày kinh nghiệm gần 10 năm cũng như phong cách hoạt độngriêng nhưng cũng chưa thể coi là hoàn thiện, có mặt mạnh và cũng có nhữngđiểm yếu cần hoàn thiện để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thịtrường Trong thời gian thực tập tại công ty, thông qua việc tìm hiểu, học hỏi
Trang 6cũng như phân tích chi tiết các hợp đồng định giá, cùng với những tài liệu đã thu
thập và tham khảo được, em xin chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam” với mong muốn được hiểu phần nào về thực tế các nghiệp vụ định giá tại
cơ sở, để từ đó đưa ra một số ý kiến đóng góp với hi vọng giúp ích cho doanhnghiệp hoàn thiện hoạt động định giá doanh nghiệp nói riêng và trong lĩnh vựcthẩm định giá nói chung
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty, anh Nguyễn Tuấn Duy –giám đốc Công ty tại Hà Nội các anh chị trong phòng nghiệp vụ định giá tạiCông ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi nhất
để em có thể tiếp cận thực tế với các nghiệp vụ định giá cũng như các tài liệu,các cơ sở vật chất kĩ thuật tại Công ty để em có thể thực tập một cách tốt nhất
Và em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ – Giảng viên Nguyễn ThịTuyết Mai đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề này Một lần nữa emxin chân thành cảm ơn!
2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động thẩm định GTDN của Công tyThẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra ưuđiểm, nhược điểm của quá trình này để tìm ra giải pháp hoàn thiện và nâng cao chấtlượng của CTTĐ GTDN tại Công ty nói riêng và toàn lĩnh vực định giá nói chung
+ Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân, mở rộng hiểubiết để thực hành ứng dụng cho công việc sau này
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài được thực hiện với ba nhiệm vụ chính là:
+ Hệ thống hóa lý luận về định giá doanh nghiệp;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tạiCông ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam;
Trang 7+ Cùng với đó là việc đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng và hướng tới sự chuyên nghiệp hơn cho hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam.
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài tập trung nghiên cứu về các
hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào Công ty Thẩm định giá và đại lý
thuế Việt Nam
4, Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp chung: Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, nghiên cứu các sự vật, hiệntượng trong mối quan hệ biện chứng với nhau
- Phương pháp cụ thể: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tếvề các hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá vàđại lý thuế Việt Nam trong những năm gần đây, phương pháp tổng hợp và phântích tài liệu lý luận chung, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp chuyêngia và phương pháp diễn dịch quy nạp…
5, Tổng quan về tình hình nghiên cứu :
Hoạt động định giá doanh nghiệp ở Việt Nam mới được biết đến từ năm
1992, tuổi đời còn non trẻ nên các hoạt động trên thị trường chưa đa dạng, nềntảng kinh nghiệm cũng như cơ sở lý luận và hệ thống pháp lý vẫn chưa hoànthiện, vì vậy nhìn chung còn ít công trình nghiên cứu Một số đề tài nghiên cứuvề lĩnh vực thẩm định GTDN tiêu biểu có thể kể đến hiện nay là:
Luận văn Ths kinh tế “Hoàn thiện quy trình, phương pháp định giádoanh nghiệp tại Công ty TNHH Kiểm Toán Việt” của tác giả Lê Thị Oanh năm2014;
Trang 8Luận văn Ths kinh tế “Hoàn thiện quy trình và phương pháp định giátrị tài sản tại công ty cổ phần dầu khí Việt Nam” của tác giả Võ Đức Hạnh năm2012;
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện kế toán định giá doanh nghiệp trong bốicảnh tái cấu trúc tại các DNNN Việt Nam” của tác giả Lý Lan Yên năm 2015;
Các đề tài trên mới chỉ đưa ra cơ sở lý luận về phương pháp, quy trìnhthẩm định GTDN nói chung Với hệ thống văn bản pháp luật mới năm 2017 vềthẩm định GTDN như nghị định 126/2017/NĐ-CP và thông tư 122/2017/TT-BTC ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá số 12 hướng dẫn xác định GTDN thì
các tài liệu ở trên vẫn chưa cập nhật được Đề tài luận văn “Thực trạng hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam” của em đã cập nhật thông tin Luật mới nhất, đánh giá thực trạng hiện
tại của hoạt động thẩm định GTDN tại công ty cũng như vấn đề chung của lĩnhvực thẩm định GTDN, từ đó kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng thẩm định giá
6, Kết cấu đề tài :
Đề tài gồm có 3 chương và được sắp xếp như sau:
CHƯƠNG 1: Lý luận chung về thẩm định giá trị doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại
Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam
CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định
giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP
I Doanh nghiệp
1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về doanh nghiệp Theo Luật
Doanh nghiệp 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có cơ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Kinh doanh là thực
hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đếntiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Như vậy, có thể thấy rằng doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thànhlập nhằm sản xuất cung ứng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường vớimục đích sinh lời
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú
và đa dạng nhưng nhìn chung các doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu là:
Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất ra sản phầm hàng hoá
dịch vụ cho xã hội
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trìnhkết hợp và biến đổi các yếu tố đầu vào tạo thành các kết quả đầu ra là sản phẩmdịch vụ đem lại giá trị mới Chính sự tạo ra giá trị mới này đưa đến sự tăng trưởngkinh tế, phồn thịnh cho xã hội và củng cố vị thế, hình ảnh và sự phát triển củadoanh nghiệp
Doanh nghiệp là một đơn vị phân phối
Trang 10Trong quá trình hoạt động, khi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, doanh nghiệp
có một khoản thu nhập và trên cơ sở đó thực hiện việc phân phối cho các tác nhântrực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình như: trả lương cho người lao động,thanh toán cho người cung ứng, trả lãi vay, nộp thuế, chia cổ tức ; Như vậy doanhnghiệp là khâu đầu của việc phân phối lần đầu và các chính sách phân phối củadoanh nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều đối tượng
Doanh nghiệp là một tổ chức sống
Quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình vận động không ngừng
để thực hiện các mục tiêu của nó Nhiều nhà kinh tế cho rằng: "Doanh nghiệp là một tổ chức sống, giống như con người" Điều đó đòi hỏi khi nhìn nhận đánh giá
một doanh nghiệp phải đặt nó trong trạng thái vận động Trong nền kinh tế thịtrường, mỗi doanh nghiệp đều hoạt động nhằm nhiều mục tiêu khác nhau Các mụctiêu chung nhất của doanh nghiệp là:
- Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệpthu được Đó là phần chênh giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để tạo ra số thu nhập đó.Lợi nhuận là phần giá trị tăng thêm mà nhà đầu tư thu được Vì thế lợi nhuận trởthành mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, là sự mong đợi của chủ sở hữu nó
- Mục tiêu cung ứng
Sản xuất hàng hoá không phải nhằm thoả mãn tiêu dùng cho chính ngườisản xuất mà là để cung ứng cho khách hàng Đó cũng là một mục tiêu của doanhnghiệp, nó thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với xã hội và nhờ thực hiện mụctiêu này mà doanh nghiệp mới thực hiện được mục tiêu lợi nhuận
- Mục tiêu phát triển bền vững
Trang 11Sự mong đợi của người đầu tư không chỉ dừng lại ở chỗ lợi nhuận mà làlợi nhuận phải ngày càng nhiều hơn và bền vững Do vậy doanh nghiệp phải hướngtới sự phát triển Xem xét đánh giá một doanh nghiệp không chỉ ở quá khứ hiện tại
mà phải xem xét cả triển vọng tương lai
Qua các đặc trưng của doanh nghiệp cho thấy: Doanh nghiệp được xemnhư như một thực thể sống bao gồm nhiều bộ phận cấu thành và vận động khôngngừng nhằm tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
1.3 Giá trị doanh nghiệp
Để có khái niệm về thẩm định GTDN, trước hết cần có cái nhìn tổng quan vềgiá trị và giá trị doanh nghiệp Vậy giá trị là gì?
Thứ nhất, theo quan điểm của Các Mác, giá trị được xác định bởi hai mặt
lượng và chất:
+ Chất của giá trị là lao động của người sản xuất hàng hóa Nói một cách
cụ thể hơn, là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh tronghàng hóa
+ Lượng của giá trị được tính theo thời gian lao động xã hội cần thiết
Như vậy xét trên cơ sở quan niệm của triết học, doanh nghiệp được xem
như một thực thể, tổ hợp kết tinh lao động của một tập thể sử dụng thời gian laođộng cần thiết để tạo ra hàng hóa nhất định (có thể là hữu hình hoặc vô hình)
Thứ hai, theo quan điểm của nhà đầu tư hiện đại, GTDN là toàn bộ lợi
ích mà một doanh nghiệp mang lại cho chủ sở hữu trong quá trình sản xuất kinhdoanh
Bên cạnh đó dựa trên góc độ thị trường chứng khoán thì GTDN chính
là tổng giá trị cổ phần mà doanh nghiệp có được đối với công ty cổ phần
Mỗi khái niệm có một cách khái quát và định nghĩa riêng, tuy nhiên, nhìn
chung có thể hiểu : GTDN chính là biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập
Trang 12mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
1.4.1 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh:
Môi trường kinh doanh (MTKD) là yếu tố về cơ bản vượt khỏi tầm kiểm
soát của doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp phải tìmcách thích nghi với môi trường Môi trường kinh doanh được chia làm hai loại:
Môi trường kinh doanh tổng quát: gồm có môi trường kinh tế, môi
trường chính trị, môi trường văn hóa – xã hội và môi trường ỹ thuật
- Môi trường kinh tế
Doanh nghiệp bao giờ cũng tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể Bối
cảnh kinh tế đó được nhìn nhận thông qua hàng loạt chỉ tiêu vĩ mô như: tốc đọtăng trường, chỉ số giá cả, tỷ giá ngoại tệ, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thịtrường chứng khoán… Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất như yếu tốckhách quan nhưng ảnh hưởng của chúng tới GTDN lại là sự tác động trực tiếp
Mỗi sự thay đổi nhỏ của yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh
giá về doanh nghiệp: nền kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ cao, phản ánh nhucầu đầu tư và tiêu dùng ngày càng lớn Chỉ số giá chứng khoán phản ảnh đúngquan hệ cũng cầu, đồng tiên ổn định, tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đàu tư
sẽ trở thành cơ hội tốt cho doanh nghiệp mở rộng quy mô SXKD Ngược lại, sựsuy thoái kinh tế, giá chứng khoán ảo, lạm phát phi mã… là biểu hiện môitrường tồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay tận gốc Mọi sư đánh giá vềdoanh nghiệp, trong đó có GTDN sẽ bị đảo lộn hoàn toàn
- Môi trường chính trị
Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong môi trường có
sự ổn định về chính trị ở mức độ nhất định Chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, mafia
và những yếu tố trật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng tác động xấu tới mọimặt đời sống xã hội chứ không riêng gì SXKD
Trang 13Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trựctiếp đén SXKD bao gồm:
- Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống luật pháp
- Quan điểm tư tưởng của Nhà nước đối với SXKD thông qua hệ thống các vănbản pháp quy như: Quan điểm về sản xuất, đàu tư, tiêu dung… thể hiện trongluật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ…
- Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của công dân
và các tổ chức Pháp luật đã ban hành nhưng không hiện thực, tệ nạn buôn lậu,trốn thuế, hàng giả… là biểu hiện một môi trường chính trị gây bất lợi cho sảnxuất
- Có thể thấy rằng, cũng như môi trường kinh tế, môi trường chính trị có vai trònhư những điều kiện thiết yếu, tối thiểu để doanh nghiệp có thể hoạt động, và dovậy, đánh giá về doanh nghiệp bao giờ cũng phải nhìn nhận trước hết từ các yếu
tố này
- Môi trường văn hóa – xã hội.
+ Môi trường văn hóa được đặc trưng bởi những quan niệm, hệ tư tưởng củacộng đồng về lối sống, đạo đức…; quan niệm về “chân, thiện, mỹ”, về nhâncách, văn minh xã hội; được tể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng
+ Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật
độ, sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đèmới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…
- Môi trường khoa học – công nghệ
+ Sự tác động của KHCN đang làm thay đổi căn bản các điều kiện về quy trình
và phương thức tổ chức SXKD trong các doanh nghiệp Sản phẩm sản xuất rangày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sốngvật chất và tinh thần Hàm lượng tri thức có khuynh hướng chiếm ưu thế tuyệtđối trong giá bán sản phẩm
Môi trường đặc thù
Trang 14So với môi trường tổng quát, môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố tácđộng đến doanh nghiệp mang tính trực tiếp và rõ ràng hơn Hơn nữa với các yếu
tố này, doanh nghiệp còn có thể kiểm soát chúng ở một mức độ nhất định.Thuộc môi trường đặc thù có yếu tố về khách hàng, nhà cung cấp, hãng cạnhtranh và các cơ quan nhà nước
- Quan hệ doanh nghiệp – khách hàng:
Thị trường là yếu tố quyết định đến đầu ra của sản phẩm của doanh
nghiệp Khác hàng của doanh nghiệp có thể là các cá nhân, doanh nghiệp kháchoặc Nhà nước Họ có thể là khách hàng hiện tại hoặc khách hàng trong tươnglai
Thông thường khác hàng sẽ chi phối hoạt động của doanh nghiệp, nhưngcũng có những trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp củadoanh nghiệp Do vậy muốn đánh giá đúng khả năng phát triển, mở rộng SXKDcủa doanh nghiệp, cần xác định tính chất, mức độ bền vững và uy tín của doanhnghiệp trong quan hệ với khác hàng Uy tín tốt của doanh nghiệp với khác hàng
có được không phải một sớm một chiều, do nhiều yếu tố hinh thành Để đánhgiá chúng người ta thường kể đến: Sự trung thành và thái độ của khách hàng, sốlượng và chất lượng khách hàng, tiếng tăm và các mối quan hệ tốt, khả năngphát triển các mối quan hệ đó
- Quan hệ doanh nghiệp – nhà cung cấp:
Doanh nghiệp thường phải trông đợi sự cung cấp từ phía bên ngoài các
loại hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ điện, nước, thông tin, tư vấn… Tính ổnđịnh của nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụđược thực hiện theo yêu cầu mà doanh nghiệp định ra
- Các hãng cạnh tranh
Được sự ủng hộ của Nhà nước trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, mức độcạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước ngày càng
Trang 15trở nên quyết liệt hơn Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh được coi là mốinguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp
- Các cơ quan Nhà nước
Trong cơ chế thị trường, về cơ bản doanh nghiệp được quyền chủ động
hoàn toàn đối với SXKD Tuy nhiên, sự hoạt động của doanh nghiệp luôn phảiđược đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước như: Thuế, thanhtra, công đoàn… Các tổ chức này có bổn phận kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho
sự hoạt động của doanh nghiệp không vượt ra khỏi những quy ước xã hội thểhiện trong các luật
1.4.2 Các yếu tố nội tại doanh nghiệp
Hiện trạng tài sản trong doanh nghiệp
Khi xác định GTDN, bao giờ người ta cũng quan tâm ngày đến hiện trạngtài sản của doanh nghiệp vì 2 lý do chủ yếu:
- Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểuđối với quá trính SXKD Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộcủa các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng sản phẩm
mà doanh nghiệp sản xuất ra Tức là khả năng cạnh tranh và thu lợi nhuận củadoanh nghiệp phụ thuộc một cách trực tiếp và có tính chất quyết định vào cácyếu tố này
- Giá trị các tài sản của doanh nghiệp là một căn cứ đảm bảo rõ ràng nhất vềGTDN, vì thay cho việc dự báo các khoản thu nhập tiềm năng, người sở hữu cóthể bán chúng bất cứ lúc nào để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sảnđó
Từ 2 lý do này mà thực tế, khi vận dụng các phương pháp người ta thường đánhgiá cao những phương pháp có liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tàisản DN
Trang 16 Vị trí kinh doanh:
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với SXKD Vị trí kinh doanhđược dặc trưng bởi các yếu tố như địa điểm, diện tích của doanh nghiệp và cácchi nhánh, yếu tố địa hình, thời tiết…
Một doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, được đặtgần các đô thị, nơi đông dân cư, trung tâm buôn bán lớn và đầu mối giao thôngquan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp Với vị trí thuận lợi,doanh nghiệp có thể giảm được nhiều khoản mục chi phí chủ yếu như: vậnchuyển, bảo quản, lưu kho, giao dịch… đồng thời doanh nghiệp sẽ có nhữngthuận lợi lớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh chống nhu cầu, thị hiếu của thịtường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu mãi Tuy nhiên với vị trí đó, cũng có thểkéo theo sự gia tăng của những khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịch, laođộng, các yêu cầu khắt khe hơn của Nhà nước như xử lý ô nhiễm…
Uy tín kinh doanh:
Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanhnghiệp, nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau bên trongdoanh nghiệp như: chất lượng sản phẩm, trình độ và năng lực QTKD, thái độphục vụ của nhân viên…
Trình độ kỹ thuật và tay nghề lao động:
Chất lượng sản phẩm doanh nghiệp một mặt phụ thuộc vào trình độ côngnghệ của máy móc thiết bị, mặt khác phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tay nghềngười lao động.Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động không chỉ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn có thểlàm giảm chi phí do việc sử dụng hợp lý nguyên nhiên vật liệu… trong quá trình
Trang 17sản xuất, giảm chi phí đào tạo – bồi dưỡng, từ đó góp phần nâng cao thu nhậpcho doanh nghiệp.
Năng lực QTKD:
Trong điều kiện ngày nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnlâu dài phải có một bộ máy quản lý SXKD đủ mạnh để có khả năng sử dụng tốtnhất các nguồn lực, tận dụng mọi tiềm năng và cơ hội nảy sinh, ứng phó linhhoạt với những biến động của môi trường Do đó, năng lực QTKD luôn đượcnhắc tới như một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động tới GTDN
Tóm lại: GTDN chịu sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên
trong và bên ngoài Các yếu tố đã nêu là cơ sở để xây dựng và lựa chọn nhữngtiêu chí cho việc đánh giá, căn cứ để các bên thảo luận, xác định phạm vi vàđánh giá có hệ thống từng điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp
II Thẩm định giá doanh nghiệp
2.1 Khái niệm về thẩm định giá doanh nghiệp:
Khi nghiên cứu về thẩm định giá, giới nghiên cứu học thuật trên thế giới
đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
- Theo tự điển Oxford: “ Thẩm định giá là sự ước tính giá trị bằng tiền củamột vật, của một tài sản ”; “ là sự ước tính giá trị hiện hành của tài sản trongkinh doanh ”
- Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh:
“ Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằnghình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định ”
- Theo Gs Lim Lan Yuan - Singapore: Thẩm định giá là một nghệ thuật haykhoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tạimột thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem
Trang 18xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựachọn.
- Theo Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 năm 2002 của Việt Nam,trong thẩm định giá được định nghĩa như sau: “ Thẩm định giá là việc đánh giáhoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thờiđiểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế ”
Tóm lại: “ Thẩm định giá là việc ước tính bằng tiền với độ tin cậy cao nhấtvề lợi ích mà tài sản mang lại cho chủ thể tại một thời điểm nhất định ”
Từ đó có thể thấy, thẩm định giá trị doanh nghiệp: là việc ước tính giá trịcủa doanh nghiệp hay lợi ích mà doanh nghiệp mang lại theo một mục đích nhấtđịnh bằng cách sử dụng các phương pháp thẩm định giá phù hợp
Vậy thẩm định giá doanh nghiệp là quá trình phân tích, đánh giá và ước lượng một cách chính xác nhất giá trị thị trường của các quyền và lợi ích mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh cho chủ doanh nghiệp.
2.2 Vai trò và mục đích của công tác thẩm định giá GTDN
2.2.1 Vai trò của công tác thẩm định GTDN
Vai trò của CTTĐ GTDN đối với nhà đầu tư và nhà cung cấp:
Trong đầu tư - kinh doanh BĐS, CTTĐ GTDN là căn cứ quan trọng giúp chủ đầu tư hay nhà cung cấp đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư, hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp này.
Khi tham gia vào bất kỳ thị trường nào thì nhà đầu tư luôn mong muốnđồng vốn của mình không những được bảo toàn mà còn phải sinh lời trongtương lai tương xứng với từng mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau hay đối vớinhà cung cấp cũng hy vọng đối tác của mình có uy tín kinh doanh và khả năngsinh lời tốt, đảm bảo an toàn trong hợp tác kinh doanh Tại cùng mức rủi ro khiđầu tư, họ luôn mong muốn nhận được mức lợi nhuận cao nhất Chính vì vậy,việc xác định GTDN là một cơ sở quan trọng thể hiện tổng quát về uy tín kinhdoanh, khả năng tài chính và vị thế của doanh nghiệp, để từ đó nhà đầu tư và
Trang 19nhà cung cấp đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Bên cạnh đó, thông tin vềGTDN cũng giúp nhà đầu tư đánh giá và dự đoán được một phần tiềm năng pháttriển của doanh nghiệp trong tương lai, từ đó đưa ra chiến lược đầu tư – kinhdoanh phù hợp và hiệu quả nhất.
Vai trò của công tác thẩm định GTDN đối với chủ sở hữu :
Các thông tin về công tác thẩm định GTDN là công cụ hữu hiệu giúp chính bản thân các doanh nghiệp đánh giá hoạt động kinh doanh và giá trị thực tế của doanh nghiệp mình và đối thủ, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp
Để định giá GTDN một cách chính xác thì thẩm định viên phải đánhgiá chính xác giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp (cả TSHH và TSVH) vàhiệu quả hoạt động của chúng qua từng năm (hay nói cách khác là giá trị dòngtiền do việc sử dụng tài sản mang lại) Chính vì vậy, kết quả và phương phápthẩm định GTDN giúp doanh nghiệp nắm rõ các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, từ đó có những biện pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nângcao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát lợi nhuận cho doanhnghiệp, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và hạn chế rủi ro trong kinhdoanh Bên cạnh đó, các thông tin do công tác thẩm định giá trị cung cấp còn
là cơ sở để doanh nghiệp giải quyết tranh chấp nảy sinh giữa các cổ đông củadoanh nghiệp khi phân chia cổ tức, góp vốn hay vi phạm hợp đồng Mặt khác,nội dung cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp, xét cho cùng là phảităng được GTDN mình Do đó, việc xác định GTDN sẽ giúp chủ sở hữu haynhà quản trị doanh nghiệp biết rõ về giá trị thực tế, vị trí và khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp mình và các doanh nghiệp khác , từ đó đưa ra cácquyết định về kinh doanh, về tài chính…một cách đúng đắn nhằm nâng caogiá trị doanh nghiệp trên thị trường
Vai trò của CTTĐ GTDN đối với các tổ chức trung gian tài chính trên thị trường:
Trang 20Kết quả thẩm định GTDN là căn cứ quan trọng giúp các tổ chức trung gian tài chính đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra quyết định cho vay tín dụng phù hợp đối với tình hình của từng doanh nghiệp
cụ thể
Một trong những cơ sở quan trọng để các tổ chức trung gian tài chính trênthị trường như ngân hàng, đối tác, nhà cung cấp của doanh nghiệp cho doanhnghiệp vay vốn hoặc hợp tác sản xuất kinh doanh, đầu tư vào doanh nghiệp là :xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai cũng như khả năngphát triển bền vững của doanh nghiệp Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp
sẽ cung cấp rất nhiều thông tin về doanh nghiệp, qua đó, họ có thể dễ dàng đưa
ra quyết định trong mối quan hệ tín dụng với doanh nghiệp
Vai trò của CTTĐ GTDN đối với nhà hoạch định, quản lý kinh tế vĩ mô :
Đối với các nhà hoạch định, quản lý kinh tế vĩ mô, công tác thẩm định GTDN giúp họ nắm được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và giá trị doanh nghiệp để có chính sách quản lý cụ thể đối với từng doanh nghiệp như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản và các loại thuế khác
Giá cả của các loại chứng khoán được quyết định bởi giá trị thực củadoanh nghiệp có chứng khoác được trao đổi, mua bán trên thị trường Vì vậy,trên phương diện quản lý kinh tế vĩ mô, thông tin về GTDN là một căn cứ quantrọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, các hiệp hội kinh doanhchứng khoán đánh giá mức độ ổn định của thị trường, nhận dạng hiện tượng đầu
cơ, thao túng thị trường, thâu tóm quyền kiểm soát doanh nghiệp….để từ đó cóthể đưa ra các chính sách điều tiết thị trường một cách phù hợp Ngoài ra, trongquá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định GTDN được coi là mộtbước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành cải cách DNNN như : cổ phần hóa,sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể doanh nghiệp hay giao, bán, khoán vàcho thuê doanh nghiệp
2.2.2 Mục đích của công tác thẩm định GTDN
Trang 21Trong nền kinh tế thị trường gắn với điều hành kinh tế vĩ mô của Nhànước cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thông tin vềgiá trị doanh nghiệp Và đối với mỗi chủ thể khác nhau thì việc tiếp cận giá trịdoanh nghiệp cũng với những mục đích khác nhau Cụ thể:
Kết quả thẩm định GTDN được sử dụng cho mục đích: mua, bán, sápnhập, liên doanh liên kết, thanh lý doanh nghiệp; đầu tư, góp vốn , mua - bánchứng khoán của doanh nghiệp; cổ phần hóa, niêm yết chứng khoán trên thịtrường chứng khoán; vay vốn đầu tư kinh doanh; nộp thuế Nhà nước hay giảiquyết, xử lý tranh chấp trong kinh doanh
Công tác thẩm định GTDN nhằm giúp cho doanh nghiệp cần thẩm địnhgiá có những giải pháp cải tiến quản lý cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt độngkinh doanh hay hoạch định chiến lược phát triển trong tương lai
Kết quả thẩm định GTDN cũng là cơ sở cho các nhà đầu tư đánh giáđược uy tín kinh doanh, vị thế tín dụng hay mức độ biến động chứng khoán củadoanh nghiệp trên thị trường, để từ đó đưa ra quyết định đầu tư vào các loạichứng khoán mà doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính
Công tác thẩm định GTDN còn là cơ sở để Nhà nước điều hành vĩ mô nềnkinh tế thông qua các chính sách điều tiết giá cả, đặc biệt là đưa ra chính sách hỗtrợ thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng pháttriển mạnh mẽ Có thể nói kết quả thẩm định GTDN là một trong những căn cứ
để soạn thảo, bàn hành luật hỗ trợ doanh nghiệp về chính sách ưu đãi thuế, ưuđãi tín dụng
2.3 Cơ sở thẩm định giá doanh nghiệp
Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế số 104 (IVS 104) ban hành năm
2017, cơ sở giá trị của thẩm định GTDN bao gồm cơ sở giá trị thị trường hoặc
cơ sở giá trị phi thị trường
Giá trị thị trường là số tiền trao đổi ước tính về tài sản vào thời điểm thẩmđịnh giá, giữa một bên là người bán sẵn sàng bán với một bên là người mua sẵn
Trang 22sàng mua, sau một quá trình tiếp thị công khai, mà tại đó, các bên hành độngmột cách khách quan, hiểu biết và không bị ép buộc.
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc đánhgiá yếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể mua bán tàisản trên thị trường
Tại Việt Nam, cơ sở GTDN được xác định trên cơ sở mục đích thẩm địnhgiá, đặc điểm pháp lý, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và đặc điểm thị trường củadoanh nghiệp cần thẩm định giá, yêu cầu của khách hàng thẩm định giá tại hợpđồng thẩm định giá (nếu phù hợp với mục đích thẩm định giá) và quy định củapháp luật có liên quan Các nội dung khác thực hiện theo quy định tại Tiêuchuẩn thẩm định giá Việt Nam số 2 và số 3
Căn cứ vào triển vọng thực tế của doanh nghiệp, thị trường kinh doanhcủa doanh nghiệp, mục đích thẩm định giá và quy định của pháp luật, thẩm địnhviên đưa ra nhận định về tình trạng hoạt động, tình trạng giao dịch (thực tế hoặcgiả thiết) của doanh nghiệp cần thẩm định giá sau thời điểm thẩm định giá.Thông thường cơ sở giá trị của doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp hoạt độngliên tục Trong trường hợp thẩm định viên nhận định rằng doanh nghiệp sẽ chấmdứt hoạt động sau thời điểm thẩm định giá thì giá trị của doanh nghiệp sẽ là giátrị doanh nghiệp hoạt động có thời hạn hoặc giá trị thanh lý Theo tiêu chuẩnthẩm định giá quốc tế IVS 2017, cơ sở giá trị doanh nghiệp được cụ thể hóa quacác khái niệm giá trị sau :
Giá trị đầu tư : Giá trị đầu tư là giá trị của một tài sản đối với một hoặc
một nhóm nhà đầu tư nào đó theo những mục tiêu đầu tư đã xác định
- Giá trị đầu tư là khái niệm mang tính chủ quan liên quan đến những tàisản cụ thể đối với một nhà đầu tư riêng biệt, một nhóm các nhà đầu tư hoặc một
tổ chức với những mục tiêu hoặc tiêu chí đầu tư xác định
Trang 23- Giá trị đầu tư của một tài sản có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thịtrường của tài sản đó Tuy nhiên giá trị thị trường có thể phản ánh nhiều đánhgiá riêng biệt về giá trị đầu tư vào một tài sản cụ thể.
Giá trị hoạt động kinh doanh: Là giá trị doanh nghiệp kỳ vọng tiếp tục
kinh doanh trong tương lai
Khi giả thiết về giá trị hoạt động kinh doanh liên tục trong thẩm định giá,thì các thẩm định viên xem xét doanh nghiệp như một đơn vị sẽ tiếp tục hoạtđộng mãi mãi Giả thiết hoạt động kinh doanh liên tục là sự ngược lại với giảthiết thanh lý Việc đưa ra giả thiết hoạt động kinh doanh liên tục cho phépdoanh nghiệp được thẩm định giá cao hơn giá trị thanh lý và đưa ra giá trị thựctế của doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp hoạt động liên tục : là giá trị doanh nghiệp đang
hoạt động với giả thiết doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động sau thời điểm thẩmđịnh giá
Giá trị doanh nghiệp thanh lý: là giá trị doanh nghiệp với giả thiết các tài
sản của doanh nghiệp sẽ được bán riêng lẻ và doanh nghiệp sẽ sớm chấm dứthoạt động sau thời điểm thẩm định giá.Trong thanh lý, giá trị của phần lớn tàisản vô hình (ví dụ lợi thế thương mại) có chiều hướng bằng không, và giá trị củatất cả tài sản hữu hình thể hiện môi trường thanh lý Các chi phí đi kèm với việcthanh lý (phí bán, hoa hồng, thuế, các chi phí kết thúc hoạt động khác, chi phíhành chính trong quá trình kết thúc hoạt động, và các khoản lỗ giá trị hàng tồnkho) cũng được tính và khấu trừ vào giá trị doanh nghiệp ước tính
Việc áp dụng các phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp cần phù hợpvới cơ sở giá trị doanh nghiệp và nhận định của thẩm định viên về trạng tháihoạt động của doanh nghiệp tại và sau thời điểm thẩm định giá
2.4 Các nguyên tắc chủ yếu áp dụng trong công tác thẩm định giá doanh nghiệp
2.4.1 Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất
Trang 24 Nội dung nguyên tắc:
Mỗi tài sản có thể sử dụng vào nhiều mục đích và đưa ra các lợi ích khác nhau, nhưng giá trị của chúng được xác định hay thừa nhận chỉ trong điều kiện đưa ra được mức sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất
Trong thẩm định GTDN, việc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất kết quảthẩm định GTDN đạt mức hữu dụng tối đa trong những điều kiện kinh tế-xã hộithực tế phù hợp Hàng hóa “doanh nghiệp” được sử dụng tối ưu là nền tảng đểxác định giá trị thị trường của nó Để ước tính được giá trị thị trường của doanhnghiệp thì thẩm định viên phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực củadoanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình chính trị củamột quốc gia để tạo ra hiệu quả cao nhất và tốt nhất, chứ không dựa trên sự sửdụng hiện tại
Điều kiện áp dụng nguyên tắc:
Việc sử dụng không được pháp luật chấp nhận hay không thể thực hiệnđược về mặt vật chất không được xem là sử dụng cao nhất và tốt nhất Tuynhiên, ngay cả việc sử dụng có thể thực hiện về mặt vật chất và luật pháp chophép cũng cần phải có sự đánh giá thích đáng của thẩm định viên về tính hợp lýcủa việc sử dụng hiện tại
Trong một số trường hợp, khi có nhiều loại sử dụng cao nhất và tốt nhấttiềm năng, thì thẩm định viên phải trình bày các cách sử dụng thay thế nhau vàước tính các khoản chi phí và thu nhập tương lai từ đó xác định việc sử dụng caonhất và tốt nhất của tài sản
Ý nghĩa của nguyên tắc:
Trong thẩm định giá nói chung cũng như trong thẩm định GTDN nóiriêng, nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất là nguyên tắc cơ sở và quantrọng nhất khi áp dụng vào quá trình định giá Nguyên tắc này được áp dụng
Trang 25trong hầu hết các phương pháp định giá giá trị doanh nghiệp như phương pháptài sản, phương pháp chiết khấu, phương pháp Goodwill vì nó phản ánh tính hữudụng và bền vững, khả năng phát triển của doanh nghiệp Thông qua việc đánhgiá mức độ sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất, thẩm định viên sẽ có được cáinhìn khái quát về doanh nghiệp cần thẩm định, để từ đó so sánh với chứng cứ thịtrường, lựa chọn phương pháp định giá phù hợp và đưa ra một kết quả thẩm địnhchính xác nhất.
2.4.2 Nguyên tắc dự kiến các lợi ích trong tương lai
Nội dung nguyên tắc :
GTDN được quyết định bởi những lợi ích tương lai mà doanh nghiệp
có thể mang lại cho nhà đầu tư.
Khi thẩm định GTDN, thẩm định viên cần quan tâm đến thu nhập dự kiếntrong tương lai kèm theo quan điểm tăng trưởng kỳ vọng, rủi ro liên quan và giá trịthời gian của đồng tiền thông qua việc thu thập các chứng cứ thị trường gần nhất vềtình hình hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường, giá cổ phiếu của doanh nghiệpbiến động như thế nào Thu nhập được chuyển hóa thành giá trị bằng cách vốn hóatrực tiếp thu nhập ròng hoặc phân tích dòng tiền chiết khấu, hay phương pháp cổ tức,trong đó dòng tiền ước tính nhận được trong tương lai chuyển thành giá trị hiện tạibằng cách áp dụng tỷ suất chiết khấu
Điều kiện áp dụng nguyên tắc:
Khi áp dụng nguyên tắc này, thẩm định viên phải dự kiến được những lợiích và nhất thiết phải dựa vào các khoản lợi ích đó để ước tính giá trị tài sản Đốivới thẩm định GTDN, thẩm định viên cần phải dự báo các lợi ích trong tương lai
mà doanh nghiệp có thể mang lại cho chủ đầu tư, trên cơ sở đó để ước tính giátrị hiện tại của doanh nghiệp
Đồng thời, thẩm định viên phải thu thập những chứng cứ của thị trường ởthời điểm gần nhất (chứng cứ về giá cả, giá cổ phiếu, tỷ suất sinh lời…) của các
Trang 26doanh nghiệp tương tự để tiến hành so sánh, phân tích, điều chỉnh và ước tínhgiá trị của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của nguyên tắc:
Nguyên tắc dự kiến các khoản lợi ích trong tương lai là một sự bổ sungquan trọng và cũng là một sự kiểm tra tính đúng đắn của sự vận dụng nguyên tắc
sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất Do đó, trong thẩm định giá nói chung và định
giá GTDN nói riêng, nguyên tắc này thường được kết hợp với nguyên tắc sử
dụng tốt nhất và hiệu quả nhất để có đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệptrong quá trình thẩm định giá
2.4.3 Nguyên tắc cung cầu
Nội dung nguyên tắc:
Giá cả là sự đánh giá của thị trường về giá trị tài sản Trên thị trường, dưới sức ép của cung và cầu làm cho giá cả có thể cách rất xa so với giá trị thực của nó
Trên một thị trường công khai, minh bạch và có tính cạnh tranh cao thìnhững yếu tố thuận lợi hay khó khăn đã phản ánh vào giá cả giao dịch trên thịtrường Đối với giá trị của doanh nghiệp cũng thế cũng chịu ảnh hưởng bởi cungcầu thị trường thông qua cung cầu về “hàng hóa doanh nghiệp” và cung cầu tiền
tệ trên thị trường, biểu hiện thông qua giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp biếnđộng như thế nào qua từng ngày Ngược lại, giá trị doanh nghiệp cũng sẽ tácđộng đến cung cầu về “hàng hóa doanh nghiệp” và cung cầu tiền tệ Giá trịdoanh nghiệp tỷ lệ thuận với cầu về “hàng hóa doanh nghiệp” và tỷ lệ nghịchvới cung “hàng hóa doanh nghiệp”
Điều kiện áp dụng nguyên tắc :
Thẩm định viên phải đánh giá được tác động của yếu tố cung cầu đối vớicác giao dịch trong quá khứ và dự báo ảnh hưởng của chúng trong tương lai
Trang 27nhằm xác minh tài sản cần thẩm định nên được định giá trên cơ sở giá trị thịtrường hay giá trị phi thị trường.
Ý nghĩa của nguyên tắc :
Nguyên tắc cung cầu phản ánh được giá trị thị trường của tài sản hay đốivới định giá doanh nghiệp, nó sẽ chi phối giá cổ phiểu của doanh nghiệp trên thịtrường, làm thay đổi giá trị của doanh nghiệp đó Vì vậy, khi định giá, nguyêntắc này thường được kết hợp với nguyên tắc dự kiến các khoản lợi ích trongtương lai trong phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính trong tương lai đểđịnh giá giá trị doanh nghiệp Việc áp dụng nguyên tắc giúp thẩm định viên cócái nhìn tổng quát về doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ cung- cầu, dựa trên cơ
sở giá trị thị trường để từ đó đưa ra kết quả định giá chính xác nhất
2.4.4 Nguyên tắc đóng góp
Nội dung nguyên tắc:
Giá trị của một tài sản phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của các yếu tố cấu thành nên nó
Đối với giá trị doanh nghiệp cũng thế, giá trị doanh nghiệp luôn có sựđóng góp bởi các yếu tố hình thành như cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính,nguồn lực con người cũng như môi trường hoạt động của nó Do đó, khi thẩmđịnh GTDN, thẩm định viên cũng phải xem xét toàn diện giá trị các tài sản cấuthành nên GTDN, bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình và ước tínhđầy đủ giá trị các loại tài sản này làm cơ sở để định lượng giá trị doanh nghiệp
Ý nghĩa của nguyên tắc:
Nguyên tắc đóng góp là nguyên tắc cơ bản trong việc xem xét tính khả thicủa việc đầu tư vào tài sản khi thẩm định viên xác định mức sử dụng tốt nhất vàhiệu quả nhất Khi vận dụng nguyên tắc này trong thẩm định giá trị doanhnghiệp, thẩm định viên cần phải vận dụng thuần thục nguyên tắc này trong
Trang 28phương pháp định giá Goodwill và phương pháp tài sản thuần nhằm đánh giáđúng đắn mối quan hệ tác động qua lại giữa các tài sản hình thành trong doanhnghiệp, sự biến động của các tài sản đó sẽ tác động đến giá trị doanh nghiệp nhưthế nào, trên cơ sở đó đưa ra mức giá hợp lý nhất.
2.4.5 Nguyên tắc cạnh tranh
Nội dung nguyên tắc:
Giá trị của một tài sản phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của nó trên thị trường, lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, ngược lại cạnh tranh quá mức có thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không còn lợi nhuận.
GTDN lại được biểu hiện thông qua tổng các khoản lợi nhuận trong dàihạn hay khả năng sinh lời vốn của doanh nghiệp Trường hợp doanh nghiệp điđầu trong một lĩnh vực sản xuất mới tiềm năng chẳng hạn, lợi nhuận cao vượttrội khiến nhiều doanh nghiệp mới gia nhập nghành, cạnh tranh gay gắt làmgiảm giá bán, lợi nhuận sụt giảm Do đó, khi thẩm định giá trị doanh nghiệp, nộidung nguyên tắc cạnh tranh là cơ sở để thẩm định viên xem xét mối quan hệcạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành với nhau để thấy được sự khácnhau về uy tín kinh doanh, vị thế tín dụng…của các doanh nghiệp
Ý nghĩa của nguyên tắc :
Đây là nguyên tắc bổ sung, hỗ trợ nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quảnhất Thẩm định viên cần phải nắm vững và vận dụng nguyên tắc này hợp lý đểđưa ra mức sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất của tài sản Nguyên tắc nàythường sẽ được áp dụng trong hầu hết các phương pháp định giá trong mối quan
hệ bổ sung cho nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất
2.5 Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp
Quy trình thẩm định giá nói chung và thẩm định GTDN hiện nay bao gồmcác bước sau :
Trang 29 Bước 1: Lập kế hoạch thẩm định giá
- Việc lập kế hoạch thẩm định giá nhằm xác định rõ những bước công việcphải làm và thời gian thực hiện từng bước công việc cũng như toàn bộ thời giancho việc thẩm định giá
- Nội dung kế hoạch phải thể hiện những công việc cơ bản sau: Xác địnhvấn đề, thiết lập mục đích thẩm định giá, nhận dạng sơ bộ doanh nghiệp cầnthẩm định để xác định cơ sở giá trị của thẩm định giá và các yếu tố cung cầuthích hợp với chức năng, các đặc tính và các quyền gắn liền với doanh nghiệpđược mua bán và đặc điểm thị trường; Xác định các tài liệu cần thu thập về thịtrường, về doanh nghiệp, tài liệu so sánh; Xác định và phát triển các nguồn tàiliệu, đảm bảo nguồn tài liệu đáng tin cậy và phải được kiểm chứng; Xây dựngtiến độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và phân tích dữ liệu, thời hạn chophép của trình tự phải thực hiện; Lập đề cương báo cáo kết quả thẩm định giá
Bước 2: Tìm hiểu doanh nghiệp và thu thập tài liệu
- Khảo sát thực tế tại doanh nghiệp: kiểm kê tài sản, khảo sát tình hình sảnxuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp
- Thu thập thông tin trước hết là các thông tin, tư liệu từ nội bộ doanhnghiệp: tư liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính - kế toán -kiểm toán, hệ thống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũ quản lý điềuhành, nhân viên, công nhân,… Ngoài ra còn chú ý thu thập thông tin bên ngoàidoanh nghiệp đặc biệt là thị trường sản phẩm của doanh nghiệp, môi trường kinhdoanh, ngành kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh, chủ trương của Nhà nước,…Thẩm định viên cần tiến hành những bước cần thiết để bảo đảm rằng tất cảnguồn dữ liệu làm căn cứ đều đáng tin cậy và phù hợp với việc thẩm định giá.Việc thẩm định viên tiến hành các bước hợp lý để thẩm tra sự chính xác và hợplý của các nguồn tư liệu là thông lệ trên thị trường
Bước 3: Đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp:
Trang 30Cần đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp trên các mặt:sản xuất kinh doanh, thiết bị công nghệ, tay nghề người lao động, bộ máy quảnlý và năng lực quản lý, vốn nợ, các chỉ tiêu tài chính, thị trường, môi trườngkinh doanh.
Bước 4 : Xác định phương pháp thẩm định giá, phân tích số liệu, tư liệu, và ước tính giá trị doanh nghiệp.
Thẩm định viên về giá doanh nghiệp dựa vào ý kiến, kết quả công việccủa thẩm định viên khác hay các nhà chuyên môn khác là cần thiết khi thẩmđịnh giá doanh nghiệp Một ví dụ thường thấy là dựa vào kết quả thẩm định giábất động sản để thẩm định giá các tài sản bất động sản thuộc sở hữu của doanhnghiệp Khi dựa vào ý kiến, kết quả của thẩm định viên khác hoặc các chuyêngia khác, thẩm định viên về giá doanh nghiệp cần tiến hành các bước thẩm tra đểbảo đảm rằng những dịch vụ đó được thực hiện một cách chuyên nghiệp, các kếtluận hợp lý và đáng tin cậy
Bước 5: chuẩn bị, lập và hoàn thành báo cáo, chứng thư thẩm định giá
Phần chuẩn bị báo cáo và lập báo cáo thẩm định GTDN : tương tự nhưcác tài sản khác, bao gồm các nôi dung của báo cáo như sau :
- Thứ nhất, mục đích thẩm định giá
- Thứ hai, mô tả rõ đối tượng thẩm định giá Cần phải nêu rõ đối tượng
thẩm định giá là toàn bộ doanh nghiệp, lợi ích doanh nghiệp hay một phần lợiích doanh nghiệp, lợi ích đó thuộc về toàn bộ doanh nghiệp hay nằm trong tàisản cá biệt do doanh nghiệp sở hữu Mô tả doanh nghiệp thẩm định giá, bao gồmnhững nội dung sau:Loại hình tổ chức doanh nghiệp; Lịch sử doanh nghiệp;Triển vọng đối với nền kinh tế và của ngành; Sản phẩm, dịch vụ, thị trường vàkhách hàng; Sự nhạy cảm đối với các yếu tố thời vụ hay chu kỳ; Sự cạnh tranh;Nhà cung cấp; Tài sản gồm tài sản hữu hình và vô hình; Nhân lực; Quản lý; Sởhữu triển vọng đối với doanh nghiệp; Những giao dịch quá khứ của các lợi ích
sở hữu tương tự trong doanh nghiệp
Trang 31- Thứ ba, báo cáo thẩm định giá doanh nghiệp cần nêu và xác định cơ sở
giá trị của thẩm định giá trị doanh nghiệp một cách chi tiết và đầy đủ tại bước 5này
- Thứ tư, Phương pháp thẩm định giá: Các phương pháp thẩm định giá
và lý do áp dụng các phương pháp này; những tính toán và logic trong quá trình
áp dụng một hay nhiều phương pháp thẩm định giá; xuất phát của các biến sốnhư các tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ vốn hoá hay các yếu tố thẩm định khác; những lậpluận khi tổng hợp những kết quả thẩm định giá khác nhau để có kết quả giá trịduy nhất
- Thứ năm, Nêu rõ những giả thiết và những điều kiện hạn chế khi
thẩm định giá, những tiền đề và giả thiết quan trọng đối với giá trị doanhnghiệp cần thẩm định
- Thứ sáu, Nếu có một khía cạnh nhất định của công việc thẩm định giá
cần sự vận dụng so với những quy định của những tiêu chuẩn hay hướng dẩn mà
sự vận dụng đó xét thấy là cần thiết và thích hợp thì nội dung, những lý do vậndụng cần được nêu rõ trong báo cáo
- Thứ bảy, Phân tích tài chính doanh nghiệp cần thẩm định giá: Tóm
lược bảng tổng kết tài sản và bản báo cáo thu nhập trong một giai đoạn nhất địnhphù hợp với mục đích thẩm định giá và đặc điểm của doanh nghiệp Những điềuchỉnh đối với các dữ liệu tài chính gốc (nếu có) Những giả thiết cơ bản để hìnhthành bảng cân đối tài sản và báo cáo thu nhập.Tình hình hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp qua thời gian và so sánh với các doanh nghiệp tương tự
- Hoàn thành kết quả thẩm định giá, ghi rõ phạm vi và thời hạn thẩmđịnh giá; chữ ký và xác nhận của thẩm định viên, người ký vào báo cáo thẩmđịnh giá chịu trách nhiệm đối với những nội dung thực hiện trong báo cáo
2.6 Phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp
2.6.1 Phương pháp tài sản
Nội dung phương pháp:
Trang 32Phương pháp tài sản dựa trên cơ sở lý luận doanh nghiệp chung là mộtloại hàng hóa, tiến hành hoạt động trên một lượng tài sản có thực, được hìnhthành từ hai nguồn: vốn chủ sở hữu và vay nợ Giá trị doanh nghiệp được tínhbằng tổng giá trị của số tài sản mà doanh nghiệp hiện có cho sản xuất kinhdoanh.
GTDN đối với chủ sở hữu được xác định bằng tổng giá trị tài sản trừ đicác khoản nợ:
Ve = Va- Vd
Trong đó việc xác định tổng giá trị tài sản bẳng cách kiểm kê tài sản củadoanh nghiệp, tiến hành phân loại tài sản đẻ loại ra khỏi danh mục các tài sảnkhông đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá giá trịcòn lại của tài sản bằng nguyên giá nhân với tỷ lệ chất lượng còn lại hoặc ápdụng phương pháp so sánh, thu nhập Các khoản nợ được tính theo giá trị thịtrường, xem xét đánh giá các khoản nợ dài hạn, nợ vô chủ
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp :
Ưu điểm :
Ưu điểm của phương pháp này là giá trị doanh nghiệp được biểu hiện mộtcách chắc chắn nhất là cơ sở đánh giá thực tế năng lực tại thời điểm thẩm địnhgiá của doanh nghiệp.Giá trị doanh nghiệp được đảm bảo bằng một lượng tài sản
có thực, đơn giản, dễ hiểu, dễ dàng tính toán và ước lượng
Nhược điểm :
Doanh nghiệp không được coi như là một thực thể, một tổ chức đang tồntại và còn có thể hoàn chỉnh và phát triển trong tương lai Vì vậy mà phươngpháp không phù hợp với tình hình chiến lược về doanh nghiệp Phương pháp giátrị tài sản thuần đã bỏ qua việc phân tích các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giátrị thực sự và nhiều khi lại chiếm tỉ trọng lớn trong giá trị doanh nghiệp như: uytín ,thị phần ,trình độ quản lí, trình độ nhân công Đó có thể là những doanhnghiệp có tài sản không đáng kể nhưng triển vọng sinh lời lại rất cao
Trang 33Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản thuần lại trở nên phức tạp.Chẳng hạn như xác định giá trị một tập đoàn có nhiều chi nhánh, có các chứngkhoán đầu tư ở nhiều doanh nghiệp khác nhau Mỗi chi nhánh lại có số lượnglớn các tài sản đặc biệt, đã qua sử dụng thậm chí còn bán trên thị trường khi đóđòi hỏi cần tổng kiểm kê, đánh giá một cách chi tiết các tài sản ở tất cả các chinhánh.Từ đó phát sinh rất nhiều khoản chi phí, thời gian cho thẩm định phải kéodài, kết quả phụ thuộc nhiều vào các thông số kĩ thuật, xảy ra sai lệch cao
Bên cạnh đó, số liệu trên sổ sách kế toán mang tính lịch sử, có thể kémchính xác do năng lực của kế toán viên phát sinh một số chi phí do phải thuêchuyên gia đánh giá tài sản; Không thể loại bỏ hoàn toàn tính chủ quan khi tínhgiá trị doanh nghiệp; Việc định giá doanh nghiệp dựa vào giá trị trên sổ sách kếtoán, chưa tính được giá trị tiềm năng như thương hiệu, sự phát triển tương laicủa doanh nghiệp
2.6.2 Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính trong tương lai
Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính tương lai bao gồm: phươngpháp hiện tại hóa lợi nhuận, phương pháp định giá chứng khoán và phương pháphiện tại hóa các dòng thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai
Cơ sở lí thuyết của phương pháp: GTDN được xác định bằng độ lớn cáckhoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai,song trên quan điểm thời giá của tiền tệ,về chi phí cơ hội Công thức được xâydựng như sau:
Vo = CFt
(1+ r ) t
Trong đó:
Vo : là Giá trị doanh nghiệp
CFt: Khoản thu nhập năm t
t: Tỷ suất hiện tại hóa
n: Số năm nhận được thu nhập trong tương lai
Trang 342.6.2.1 Phương pháp định giá chứng khoán
Nội dung phương pháp:
Khái niệm: Phương pháp định giá chứng khoán là phương pháp định giá
dựa trên cơ sở giá trị thực của một chứng khoán được đo bằng độ lớn khoản thu nhập mà nhà đầu tư chắc chắn nhận được từ doanh nghiệp đó, chứ không phải thu nhập có được do đầu cơ chứng khoán Do đó giá trị của doanh nghiệp sẽ
bằng tổng giá trị chứng khoán mà doanh nghiệp đầu tư phát hành Giá trị thựccủa một chứng khoán sẽ bằng tổng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập tươnglai mà chứng khoán có thể đem lại cho người sở hữu, nói cách khác là tổng giátrị hiện tại của dòng cổ tức thu được trong tương lại từ cổ phiếu của doanhnghiệp
GTDN khi đó sẽ được xác định bởi công thức :
PV0: là giá trị thực của một chứng khoán
Rt: là thu nhập của một chứng khoán ở năm thứ t
i: là tỷ số hiện tại hóa
n: số năm nhận được thu nhập
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp:
Ưu điểm:
Là mô hình đầu tiên trực tiếp tiếp cận các khoản thu nhập dưới dạng hìnhthức lợi tức cổ phần để xác định giá trị chứng khoán Thông qua việc phân tíchngười ta có thể đánh giá được giá của một chứng khoán có đi quá xa so với giátrị thực hay không, từ đó xác định mức độ đầu cơ với từng loại chứng khoán
Đặc biệt phù hợp với quan điểm nhìn nhận và đánh giá về GTDN của cácnhà đầu tư thiểu số, những người mà không có khả năng thâu tóm quyền quản lídoanh nghiệp
Trang 35Thích hợp với các doanh nghiệp có chứng khoán được giao dịch trên thịtrường, xác định giá trị tài sản thuần gặp nhiều khó khăn và những doanh nghiệp
có TSHH không đáng kể nhưng được đánh giá rất cao ở giá trị vô hình
Nhược điểm:
Cổ phiếu là loại chứng khoán có nhiều rủi ro nên trong quá trình tính toáncác giả định như sự ổn định về lợi tức, mức độ tăng trưởng ổn định thườngkhông thuyết phục
Trong thực tế thì chính sách phân chia lợi tức cổ phần phụ thuộc vàonhiều yếu tố như: nhu cầu đầu tư, nhu cầu trả nợ, chính sách thuế thu nhập nhànước….việc tính toán các yếu tố này rất là khó khăn
2.6.2.2 Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần
Nội dung phương pháp:
Phương pháp này dựa trên quan điểm: giá trị hiện tại của dòng tiền thuần đầu tư vào doanh nghiệp cả hiện tại và tương lai đem lại cho nhà đầu tư
đa số,được coi là cơ sở xác định GTDN
Đối với nhà đầu tư đa số, quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình củacác dòng tiền vào và dòng tiền ra Dòng tiền thu vào trừ đi dòng tiền chi ra chính
là phần lợi nhuận chảy vào túi của người sở hữu doanh nghiệp cần thẩm định
GTDN được xác định theo công thức :
Tk: dòng thu nhập của DN trong tương lai năm thứ k
Vn: GTDN ở cuối chu kì đầu tư năm n
i: tỉ suất hiện tại hóa
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp:
Ưu điểm:
Trang 36Đây là phương pháp tiếp cận góc nhìn của các nhà đầu tư đa số, nhà đầu
tư đa số mua doanh nghiệp để cải tổ doanh nghiệp theo những dự án, nhữnghoài bão mà chỉ có mình họ thấy và chỉ có trên tư cách đa số mới thực hiệnđược
GTDN tính toán được sẽ là giá trị cao nhất mà nhà đầu tư đa sốcó thểtrả,nếu tham gia đấu thầu thì đó là giá trị cao nhất có thể trả cho gói thầu
Phương pháp này cung cấp giải thích rõ ràng nhất:Tại sao doanh nghiệpnày lại có giá trị cao hơn doanh nghiệp kia
Nó đã chỉ ra được những cơ sở để mỗi nhà đầu tư có thể tùy ý mà pháttriển những ý tưởng của mình nếu sở hữu
Nhược điểm:
Đối với những doanh nghiệp chưa có chiến lược kinh doanh xác định thìphương pháp này khó áp dụng, việc dự báo dòng tiền vào dòng tiền ra sẽ làmphức tạp hơn quy trình định giá
Đòi hỏi các thẩm định viên phải có được kinh nghiệm chuyên môn về lĩnhvực thẩm định dự án đầu tư, điều này không phái thẩm định viên nào cũng có
Đòi hỏi độ tin cậy cần thiết của các thông tin cung cấp, một lượng thôngtin lớn để đánh giá các yếu tố môi trường vĩ mô, vi mô Cũng giống như phươngpháp định giá chứng khoán, phương pháp này cũng gặp khó khăn trong việc xácđịnh tỉ suất vốn hóa
2.6.3 Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại)
Nội dung phương pháp:
Khái niệm: Phương pháp định lượng Goodwill là phương pháp thẩm
định giá trị doanh nghiệp thông qua việc đánh giá lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Nội dung phương pháp:
V0 = ANC + GW
Trang 37Trong đó:
V0: GTDN
ANC: giá trị tài sản thuần
GW: giá trị tài sản vô hình (lợi thế thương mại)
Bt : là lợi nhuân năm t
At : là giá trị tài sản đưa vào kinh doanh
r : là tỷ suất lợi nhuận trung bình của tài sản đưa vào kinh doanh
rAt : là lợi nhuận trong điều kiện bình thường của tài sản năm t
Bt - rAt : là siêu lợi nhuận năm t
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp
Ưu điểm:
Phương pháp định lượng Goodwill là một trong những phương pháp hiếmhoi xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, đồng thời có cơ sở lý luậnvững chắc và đáng tin cậy Cách thức tính toán này nêu bật lên quan điểm chorằng doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được cấu thành bởi hai yếu tố là tài sảnhữu hình và tài sản vô hình
Phương pháp Goodwill tạo cơ sở để các nhà định giá có thể bù trừ sai sót
có thể xảy ra khi đánh giá lại giá trị tài sản thuần và phân tích mức độ tác độngcủa yếu tố rủi ro kinh doanh và rủi ro lãi suất tới GTDN
Phương pháp này còn được xây dựng trên cơ sở có tính đến cả lợi ích củangười mua và người bán Và bao hàm trong đó là quan niệm về mức sinh lời tốithiểu của một đồng vốn đưa vào đầu tư Đây là cơ sở cho mọi quyết định đầu tư
Nhược điểm:
Siêu lợi nhuận chỉ ra khả năng sinh lời có thực của nhiều doanh nghiệp.Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh,
Trang 38quy luật tỷ suất sịnh lời bình quân thì doanh nghiệp khó có thể duy trì lợi thế đómột cách lâu dài, tức là chúng ta sẽ gặp khó khăn trong việc dự đoán độ dài thờigian thu được khoản siêu lợi nhuận đó.
Do đây là sự kết hợp của hai phương pháp giá trị tài sản thuần và hiện đạihóa thu nhập nên cũng khó tránh khỏi những hạn chế vốn có của chúng
Khi sử dụng phương pháp này cần thận trọng trong việc xác định r vì khi rthay đổi thì lợi nhuận cũng sẽ thay đổi theo một lượng At nào đó Nói cáchkhác, Goodwill có biên độ dao động lớn trước r Sự thận trọng này sẽ giúp thẩmđịnh viên tránh việc đưa ra kết luận sai lầm về GTDN
2.6.4 Phương pháp định giá dựa vào chỉ số PER
Đây là một phương pháp mang nặng tính kinh nghiệm nhưng lại được sửdụng một cách phổ biến trên các thị trường tài chính thế giới để ước lượngnhanh giá trị của một chứng khoán
Thực chất của tỉ số PER: phương pháp dựa trên những nhận định sau :Giá cả của chứng khoán chịu sự tác động của các yếu tố khác nhau: cung,cầu, các yếu tố đầu cơ,….vậy nên giá cả chứng khoán không phản ánh đúng giátrị cổ phiếu phát hành
Thị trường chứng khoán hoàn hảo phải:
- Có vô số người mua và người bán
- Các loại chứng khoán có thể thay thế được cho nhau
- Chứng khoán và thông tin được lưu thông tự do
- Mọi thành viên tham gia thị trường đều tham gia thị trường đều nắm được cácđiều kiện giao dịch mua bán chứng khoán
- Người ta có thể mua bán chứng khoán ở bất kì lúc nào
Nội dung phương pháp :
GTDN được tính theo công thức sau:
V = Lợi nhuận ròng dự kiến * P/E
Trang 39Trong đó: P/E = PS / EPS = 1/ i
Với:
PS: giá mua bán cổ phần trên thị trường
EPS: thu nhập dự kiến của mỗi cổ phần được tính như sau:
EPS = Lợi nhuận ròng dự kiến / N
Với:
N: số lượng cổ phần đã phát hành
i: tỷ suất hiện tại hóa
Tỷ số P/E thể hiện mối tương quan giữa giá giao dịch cổ phiếu trên thịtrường với tỷ suất lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư
Tỷ số P/E của các công ty lớn tại các quốc gia phát triển được công bố hàngngày trên các tờ báo chuyên ngành và trên mạng internet
Ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp:
Ưu điểm:
Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển, đây là một phươngpháp định giá khá phổ biến Tính phổ biến này là do nó cho phép ước lượngtương đối nhanh chóng giá trị doanh nghiệp, đảm bảo tính kịp thời trong việc raquyết định của nhà đầu tư thiểu số trên thị trường thứ cấp
Bản chất của phương pháp này là sử dụng giá trị thị trường, so sánh trựctiếp để ước lượng giá trị doanh nghiệp Đây hoàn toàn có thể là một phươngpháp hiệu quả nếu thị trường chứng khoán hoạt động ổn định, các yếu tố về đâu
cơ có thể giảm thiểu đến mức thấp nhất
Nhược điểm:
Phương pháp này về cơ bản là thiếu cơ sở lý thuyết rõ ràng, mang nặngtính kinh nghiệm, do đó thiếu tính thuyết phục: giá cả giao dịch là mức giá trảcho lợi nhuận từ doanh nghiệp, không bị ảnh hưởng bởi yếu tố đầu cơ Và vìvậy, kết quả nhận được có độ tin cập không cao Cùng với đó làTỷ số PER củamỗi doanh nghiệp là khác nhau Phương pháp này không đưa ra được cơ sở để
Trang 40các nhà đầu tư phân tích, đánh giá về khả năng tăng trưởng và mức độ rủi rotác động đến giá trị doanh nghiệp.
Điều kiện áp dụng:
Phương pháp tỷ số P/E được sử dụng để ước tính GTDN, với điều kiện làcác doanh nghiệp khác trong ngành có thể so sánh được với doanh nghiệp cầnthẩm định và thị trường để ước tính GTDN này một cách tương đối chính xác
2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định giá
2.7.1 Nhân tố thuộc về môi trường kinh tế quyết định phương pháp, cơ sở thẩm định GTDN
Môi trường kinh tế chính là “môi trường sống” của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm năng phát triển của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng cho việc lựa chọn cơ sở, phương pháp thẩm định GTDN của tổ chức tư vấn định giá.
Các yếu tố của môi trường kinh tế được đo lường qua các chỉ tiêu như :Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá ngoại tệ có ảnhhưởng rất lớn đến giá trị doanh nghiệp Nền kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độcao, phản ánh nhu cầu đầu tư và tiêu dùng ngày càng lớn, GTDN cũng được đẩylên theo Chỉ số giá chứng khoán như phong vũ biểu của nền kinh tế, phản ánhđúng mối quan hệ cung cầu, quy mô SXKD của doanh nghiệp sẽ được mở rộngkhi đồng tiền ổn định,tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đầu tư Ngược lại, kinhtế suy thoái, lạm phát phi mã, chứng khoán ảo sẽ khiến GTDN bị đảo lộn hoàntoàn Vì vậy, trong CTTĐ GTDN, thẩm định viên cần xem xem các yếu tố điềukiện môi trường kinh doanh để đưa ra lựa chọn cơ sở giá trị thị trường hay cơ sởgiá trị phi thị trường Tỷ suất chiết khấu ước tính dựa trên các chỉ số của môitrường kinh tế, chỉ trong điều kiện kinh tế ổn định, tốc độ tăng trưởng đều đặnthì phương pháp chiết khấu dòng tiền mới dự báo dòng tiền tương lai chính xáchơn và khả năng ứng dụng thực tiễn cao.Như vậy, các yếu tố của một bối cảnhkinh tế cụ thể là khách quan, tác động trực tiếp mạnh mẽ đến lựa chọn phương