Hình 4- Quy mô sản xuất theo diện tích , Hình 5 – Thị trường địa lan Đà Lạt Mục lục bảng biểu Bảng 1- Bảng phân bổ số lượng và vị trí các cơ sở khảo sát Bảng 2 - Bảng phân bổ sử dụng gi
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông lâm tp hồ chí minh
*********
Tên đề tài:
TẠO LẬP, QUẢN Lí VÀ PHÁT TRIỂN NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN
"ĐÀ LẠT" CHO SẢN PHẨM HOA ĐỊA LAN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
GVHD: TS Trần Đắc Dân HVTH: Thái Quốc Long
Lâm Đồng, tháng 10/2012
Trang 2Mục lục
Mở đầu
Phần I Thông tin chung về dự án
Phần II Tổ chức thực hiện và quản lý dự án
II.1 Công tác giao chủ trì và phối hợp thực hiện dự án
II.2 Tình hình thực hiện dự án
II.2.1 Công tác tổ chức thực hiện dự án
II.2.2 Phương án tài chính
II.2.3 Các biện pháp áp dụng để triển khai thực hiện dự án
II.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án
II.2.5 Tổ chức nghiệm thu cấp cơ sở
II.2.6 Một số vấn đề phát sinh, vướng mắc trong tổ chức thực hiện dự án
Phần III Kết quả thực hiện dự án
III.1 Nội dung công việc đã thực hiện
III.1.1 Điều tra thu thập, tổng hợp các thông tin
III.1.2 Xác định tiêu chí cần chứng nhận của sản phẩm Hoa địa lan Đà Lạt
III.1.3 Xác định tổ chức chứng nhận NHCN
III.1.4 Xây dựng quy định quản lý và sử dụng NHCN
III.1.5 Xây dựng hồ sơ đăng ký bảo hộ NHCN
III.1.6 Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý NHCN
III.1.7 Xây dựng hệ thống các văn bản quản lý việc sử dụng NHCN
III.1.8 Xây dựng hệ thống phương tiện, điều kiện quảng bá, khai thác giá trị NHCN
III.1.9 Triển khai thực hiện hoạt động quản lý và khai thác NHCN
III.2 Các kết quả đạt được
Phần IV Đánh giá
IV.1 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện dự án
IV.2 Đánh giá về nội dung và kết quả
IV.3 Đánh giá về hiệu quả của dự án
Phần V Kết luận và kiến nghị
V.1 Kết luận
Trang 3V.2 Kiến nghị Tài liệu tham khảo PHỤ LỤC
Phụ lục 01 Kết quả khảo sát chất lượng mẫu hoa địa lan
Phụ lục 02 Các cơ sở tham gia sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt
Phụ lục 03 Sổ quản lý các cơ sở tham gia sử dụng NHCN Hoa Đà Lạt
Mục lục hình ảnh, sơ đồ, đồ thị
Hình 1, 2, 3: Hình thái ngoài, Cành Hoa địa lan Cymbidium
Hình 4- Quy mô sản xuất theo diện tích , Hình 5 – Thị trường địa lan Đà Lạt
Mục lục bảng biểu
Bảng 1- Bảng phân bổ số lượng và vị trí các cơ sở khảo sát
Bảng 2 - Bảng phân bổ sử dụng giống lan Cymbidium sản xuất của các cơ sở
Bảng 3 - Bảng khảo sát tình trạng ứng dụng kỹ thuật tại các cơ sở
Bảng 4 - Bảng kết quả nhận biết và áp dụng tiêu chuẩn
Bảng 5 - Bảng ý kiến về các chỉ tiêu chất lượng
Bảng 6 - Nhận thức và sự sẵn sàng tham gia sử dụng NHCN hoa Đà Lạt
Bảng chữ viết tắt
Cơ sở Doanh nghiệp, cơ sở, hộ gia đình sản xuất kinh doanh
KHCN, KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 4Mở đầu
Đà Lạt được mệnh danh là thành phố hoa Hoa Đà Lạt từ lâu đã được người tiêu dùng trong nước biết đến như một sản vật độc đáo của vùng cao nguyên Đà Lạt có thể coi là nơi cung cấp nhiều loại sản phẩm hoa với số lượng lớn phục vụ thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Theo số liệu của UBND thành phố Đà Lạt, ngành sản xuất hoa cắt cành với diện tích gieo trồng năm 2011 xấp xỉ 2.000 ha, cung cấp cho thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu gần 1,5 tỷ cành hoa các loại; doanh số ước đạt trên 5.200 tỷ đồng với lợi nhuận không dưới 1.500 tỷ đồng Mặc dù được nhiều người biết đến, nhưng việc xây dựng thành một thương hiệu “hoa Đà Lạt” mang lại giá trị cho cả người sản xuất và người tiêu dùng vẫn là một việc làm cấp thiết, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường của nước ta hiện nay
Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm Viên, về phía Đông Bắc của tỉnh Lâm Đồng, với phía Bắc giáp huyện Lạc Dương, phía Nam giáp huyện Đức Trọng, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Đơn Dương, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lâm Hà Địa hình Đà Lạt nhìn chung thuộc dạng sơn nguyên, cao trung bình 1.500 m so với mặt nước biển, với tổng diện tích tự nhiên 39.494 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 9.769 ha và có hơn 11.000 hộ gia đình sống bằng kinh tế nông nghiệp Khí hậu của tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là thành phố Đà Lạt
có những điểm khác biệt so với các vùng xung quanh như mát lạnh quanh năm, mưa nhiều, mùa khô ngắn, lượng nước bốc hơi thấp và không có bão
Theo các nhà doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất hoa địa lan trên địa bàn thành phố Đà Lạt, để việc xuất khẩu hoa ra thị trường quốc tế khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì vai trò của chính quyền địa phương và các nhà khoa học, các nhà đầu tư là rất quan trọng Tuy nhiên, trong những năm qua, hoa Đà Lạt nói chung được xuất khẩu qua các nước Nhật, Đài Loan, Hồng Kông… cũng chỉ do các công ty nước ngoài trên địa bàn Đà Lạt như Đà Lạt Hasfarm, Bonie Farm cung ứng Để hoa Đà Lạt (trong đó có hoa địa lan) có thể vươn xa hơn ra thị trường các nước, cần xây dựng thương hiệu, cũng như những tiêu chuẩn chất lượng để có thể đảm bảo tính
ổn định và uy tín của sản phẩm hoa Đà Lạt
Hoa lan Cymbidium được trồng tại Đà Lạt từ những năm 1960; cùng với những loài tự nhiên là rất nhiều giống lan Cymbidium lai được nhập nội và trồng thành công tại Đà Lạt Hiện nay, có thể nói Đà Lạt là nơi trồng hoa địa lan Cymbidium nhiều nhất, với nguồn giống phong phú nhất, nơi cung cấp hoa địa lan lớn nhất và cũng là nơi hội tụ các kỹ thuật tiến bộ mới nhất trong trồng hoa địa lan so với cả nước Hiện nay, theo thống kê có khoảng trên 400 hộ tham gia trồng địa lan với quy mô 200 chậu (đơn vị) trở lên Tổng số chậu ước tính khoảng 2 triệu, gồm cây ở các độ tuổi khác nhau Giá hoa địa lan cắt cành khoảng 40.000-70.000 đồng/cành và 100.000 - 150.000 đồng/cành/chậu trong dịp Tết và lễ hội Đặc biệt, hoa địa lan chỉ được trồng tại Đà Lạt là một ưu thế rất lớn để tạo thương hiệu và tăng khả năng sản xuất phục vụ thị trường nội tiêu và xuất khẩu
Hoa địa lan Đà Lạt đã và đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần
ổn định và phát triển kinh tế, xã hội cho thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, việc trồng, canh tác, kinh doanh hoa địa lan hiện nay mang tính tự phát, sản phẩm đưa ra thị trường chất lượng chưa đồng đều; đặc biệt, nhiều tổ chức, cá nhân lợi dụng danh tiếng của hoa địa lan
Đà Lạt đã chào bán và đưa ra thị trường hoa địa lan mang thương hiệu Đà Lạt nhưng lại không
Trang 5có xuất xứ từ Đà Lạt Nguyên nhân một phần do các tổ chức, cá nhân trồng và kinh doanh hoa, các cơ quan có trách nhiệm chưa đưa ra thị trường sản phẩm hoa có chất lượng đồng đều cũng như chưa có phương pháp hữu hiệu giúp cộng đồng, người tiêu dùng nhận biết và phân biệt được hoa địa lan có xuất xứ từ Đà Lạt với hoa địa lan được trồng, canh tác từ khu vực khác Do
đó, việc xây dựng, quản lý và phát triển NHCN cho sản phẩm hoa địa lan Đà Lạt là rất cần thiết
Dự án giúp các doanh nghiệp, các hộ nông dân trồng và kinh doanh hoa nâng cao nhận thức về giá trị tài sản trí tuệ, biết xây dựng và phát triển các tài sản trí tuệ; giúp cho cơ quan quản lý ở địa phương hiểu biết, điều hành quản lý và tổ chức sử dụng NHCN góp phần tăng sức cạnh tranh về giá trị sản phẩm và phát triển thương hiệu hoa Đà Lạt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt nói riêng và cả tỉnh Lâm Đồng nói chung
Thông tin chung về dự án
1 Tên dự án: Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Đà Lạt” cho sản phẩm hoa địa lan của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
2 Thời gian thực hiện:
- Góp phần nâng cao giá trị kinh tế, xã hội, văn hóa của sản phẩm hoa địa lan mang NHCN “Đà Lạt” đối với địa phương nơi sản xuất sản phẩm
Trang 68.1 Nội dung xác lập quyền đối với NHCN
- Điều tra sơ bộ, thu thập, tổng hợp các thông tin làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng NHCN về sản phẩm hoa địa lan; danh tiếng; quy trình kỹ thuật sản xuất (trồng, canh tác, thu hoạch); các tiêu chí đặc trưng của sản phẩm hoa địa lan; thông tin về vùng sản xuất hoa địa lan
- Xác định cụ thể các tiêu chí cần chứng nhận của sản phẩm hoa địa lan của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng:
+ Tiêu chí về nguồn gốc, xuất xứ: hoa địa lan được ươm/trồng, chăm sóc và ra
hoa tại thành phố Đà Lạt; Xác định vùng/lãnh thổ có điều kiện tự nhiên tốt nhất cho việc sinh trưởng và phát triển của hoa địa lan
+ Tiêu chí về chất lượng: giống hoa, dạng phát hoa, kích cỡ, màu sắc hoa
- Xây dựng bản tiêu chí chất lượng của sản phẩm Hoa địa lan mang địa danh Đà Lạt dùng để chứng nhận
- Điều tra, thu thập, xác định các số liệu kỹ thuật về: quy trình ươm giống, quy trình trồng và chăm sóc, quy trình đóng gói, gắn tem nhãn, quy trình thu hái và bảo quản hoa địa lan trước khi bán ra thị trường
- Xác định tổ chức chứng nhận – đồng thời là chủ sở hữu NHCN
- Thiết kế, thống nhất lựa chọn mẫu NHCN
- Xây dựng, thống nhất ý kiến về Quy chế quản lý sử dụng NHCN
- Chuẩn bị tài liệu, lập và nộp đơn đăng ký NHCN
8.2 Nội dung quản lý và phát triển NHCN
- Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý NHCN
+ Chỉ định đơn vị quản lý NHCN Hoa địa lan Đà Lạt;
+ Mô hình tổ chức hệ thống quản lý NHCN;
+ Bổ sung các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt
động của các cơ quan tham gia kiểm soát việc sử dụng NHCN
- Xây dựng hệ thống các văn bản quản lý việc sử dụng NHCN
+ Quy trình cấp quyền sử dụng NHCN;
+ Quy chế sử dụng NHCN
- Đăng ký mã số, mã vạch tại Trung tâm Tiêu chuẩn chất lượng
- Thuê khoán chuyên môn thiết kế, sản xuất tem, nhãn, bao bì sử dụng cho các sản
phẩm hoa địa lan Đà Lạt
- Các quy trình, kỹ thuật canh tác/sản xuất sản phẩm gồm:
+ Quy trình ươm giống;
Trang 7+ Quy trình trồng, chăm sóc;
+ Quy trình thu hái sản phẩm và bảo quản sản phẩm;
+ Quy trình đóng gói, gắn tem sản phẩm
- Xây dựng hệ thống phương tiện, điều kiện quảng bá, khai thác giá trị NHCN
+ Thiết kế bộ tài liệu về giống và các sản phẩm hoa Địa lan phục vụ việc quảng bá nhãn hiệu;
+ Thiết kế, phát hành các tài liệu giới thiệu hoa địa lan của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và NHCN Hoa địa lan Đà Lạt;
+ Tổ chức các hoạt động, sự kiện nhằm quảng bá NHCN;
+ Quảng bá NHCN trên các phương tiện truyền thông đại chúng;
+ Xây dựng đoạn phim tư liệu về hoa địa lan Đà Lạt phục vụ việc quảng bá, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Triển khai thực hiện thí điểm hoạt động quản lý và khai thác NHCN
+ Lựa chọn vùng sản xuất sản phẩm hoa địa lan điển hình để áp dụng thí điểm mô hình;
+ Tổ chức triển khai mô hình: tập huấn về phương thức quản lý và sử dụng NHCN, kiểm định và chứng nhận sản phẩm đủ điều kiện cấp quyền sử dụng NHCN, giám sát việc tuân thủ Quy chế quản lý việc sử dụng NHCN; + In ấn, cấp tem chứng nhận cho các sản phẩm hoa địa lan có đủ điều kiện sử dụng
- Tổ chức đánh giá hiệu quả và hoàn thiện mô hình quản lý và khai thác NHCN
9 Các sản phẩm của dự án
9.1 Báo cáo điều tra, khảo sát sơ bộ thông tin tài liệu làm cơ sở cho việc xây dựng NHCN
hoa địa lan Đà Lạt
9.2 Hệ thống các tiêu chí cần chứng nhận cho sản phẩm hoa địa lan, kèm theo cơ sở khoa
học và thực tiễn của việc xác định các tiêu chí đó
9.3 Bộ hồ sơ đơn đăng ký NHCN hoa địa lan Đà Lạt và kết quả xác lập đối với NHCN
Hoa địa lan Đà Lạt Hồ sơ được Cục Sở Hữu Trí Tuệ chấp nhận và Giấy chứng nhận đăng ký
9.4 Hệ thống các quy định về việc quản lý NHCN và kiểm soát chất lượng sản phẩm hoa
địa lan mang NHCN Đà Lạt
9.5 Hệ thống các quy định về việc sử dụng NHCN hoa địa lan Đà Lạt trên thực tế
9.6 Mô hình hệ thống các cơ quan, tổ chức quản lý NHCN Hoa Đà Lạt
9.7 Dấu hiệu nhận diện NHCN; dấu hiệu truy xuất nguồn gốc; hệ thống các phương tiện,
điều kiện quảng bá NHCN hoa địa lan Đà Lạt
Trang 8- Phụ lục hệ thống dấu hiệu nhận diện NHCN Hoa Đà Lạt
- Mã số quản lý cơ sở tham gia sử dụng NHCN
- Bộ tài liệu về giống hoa địa lan phổ biến
- Mẫu thiết kế các tờ rơi quảng bá NHCN Hoa Đà Lạt
- Khung chương trình quảng bá Hoa địa lan Đà Lạt
- CD Video quảng bá
9.8 Bộ tài liệu đào tạo tập huấn
- Tài liệu hướng dẫn thủ tục thực hiện việc tham gia sử dụng NHCN “Hoa Đà Lạt”
- Bộ quy định kỹ thuật hướng dẫn áp dụng cho việc ươm giống, trồng, chăm sóc, thu hái
và bảo quản Hoa địa lan sử dụng NHCN “Hoa Đà Lạt” gồm:
+ Quy trình ươm giống Hoa địa lan + Quy trình chăm sóc Hoa địa lan + Quy trình thu hái và bảo quản Hoa địa lan + Quy trình đóng gói, gắn tem nhãn Hoa địa lan
9.9 Báo cáo kết quả việc thực hiện triển khai nội dung quản lý và khai thác NHCN; kết
quả khai thác NHCN (Báo cáo tổng hợp kết quả dự án)
Tổ chức thực hiện và quản lý dự án
Phần I Kết quả thực hiện dự án
I.1 Nội dung công việc đã thực hiện
I.1.1 Điều tra thu thập, tổng hợp các thông tin
I.1.1.1 Khái quát về xây dựng NHCN gắn với địa danh
Nhằm mục đích thực hiện việc xây dựng thương hiệu gắn với địa danh Đà Lạt cho sản phẩm hoa, nhóm thực hiện đã nghiên cứu các tài liệu liên quan đến kinh nghiệm về bảo hộ yếu
tố chỉ dẫn địa lý trong thương hiệu Theo quy định của pháp luật SHTT của nước ta hiện nay, có các hình thức bảo hộ địa danh trong thương hiệu gồm:
- Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu tập thể, Nhãn hiệu chứng nhận
Việc thực hiện bảo hộ địa danh theo hình thức chỉ dẫn địa lý đòi hỏi xác định được rõ ràng (có thể đo lường một cách khoa học) các đặc thù của sản phẩm là do các đặc thù của vùng địa lý đó tạo ra Vấn đề này cần phải có các nghiên cứu để chỉ ra được bằng chứng đó, tốn nhiều thời gian và tiền bạc Việc quản lý chỉ dẫn địa lý thường được quy định chặt chẽ từ nguồn gốc, cách thức chế tạo sản phẩm, do chính quyền quy định để đảm bảo các đặc tính riêng biệt của sản phẩm Nhờ việc quản lý chặt chẽ, nó tạo cơ sở có độ tin cậy cao cho việc xác lập uy tín đối với người tiêu dùng Chỉ dẫn địa lý được coi là tài sản quốc gia
Trang 9NHCN là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu Điểm thuận lợi của hình thức này là không đòi hỏi đầu tư nhiều như hình thức chỉ dẫn địa lý, nhưng có thể dễ tạo được lòng tin với khách hàng hơn hình thức nhãn hiệu tập thể Lý do chính là NHCN không
do tự người sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó công bố mà là do một bên thứ ba chứng nhận Cơ chế chứng nhận của bên thứ ba là một cơ chế mang tính khách quan, phổ biến trong thương mại hiện nay để tạo dựng lòng tin cho khách hàng, người tiêu dùng không có đủ điều kiện để tự mình xác định, mà cũng không thật tin tưởng vào sự tự công bố của người cung ứng hàng hóa
- Các tiêu chí chứng nhận gồm hai phần về chứng nhận xuất xứ thực hiện sản xuất kinh doanh sản phẩm và chứng nhận chất lượng sản phẩm Việc thực hiện sản xuất kinh doanh ở đây
có thể chỉ là một phần trong quá trình, tùy thực tế sản xuất ở địa phương, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sản xuất kinh doanh, mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
- Đối với tiêu chí chất lượng sản phẩm cần phản ánh sự cân bằng lợi ích giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Các tiêu chí tùy thuộc đặc tính của sản phẩm, phản ánh nhu cầu thị trường Mức chất lượng cụ thể cần chọn để có thể phản ánh mức độ quản lý chất lượng của khu vực sản xuất, có thể đảm bảo tốt nhất cho người tiêu dùng, có thể lấy theo mức trung bình tiên tiến của khu vực sản xuất
- Việc xây dựng các quy định về quản lý phải căn cứ vào các quy định pháp luật, nhưng đạt được bởi sự đồng thuận của các đại diện cho cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ tham gia sử dụng NHCN
- Mô hình quản lý và phát triển NHCN cho nông sản của các địa phương trong nước khá
đa dạng Với thực tế cách thức tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, cơ quan quản
lý NHCN thường là cơ quan của chính quyền địa phương hoặc do chính quyền ủy nhiệm Trường hợp vùng địa lý chứng nhận rộng hơn quyền hạn hành chính của cơ quan địa phương thực hiện việc chứng nhận, thì cần có sự phối hợp của các cơ quan đồng cấp ở các địa phương liên quan Việc thực hiện chứng nhận có sự tham gia của các phòng kiểm nghiệm chất lượng đủ năng lực kỹ thuật và có tư cách pháp nhân Việc cơ quan chính quyền thực hiện việc quản lý NHCN không chỉ là phù hợp theo quy định trong nước, mà cũng tương thích với quy định ở các nước khác, ví dụ như ở Mỹ Đối tượng đăng ký tham gia sử dụng NHCN có thể trực tiếp là các
hộ sản xuất kinh doanh nông sản hay là hợp tác xã tiêu thụ, việc này phụ thuộc thực tế quy mô sản xuất và mức quan hệ trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Đối với sản phẩm hoa Đà Lạt, việc chọn lựa mô hình có thể tương tự như các sản phẩm rau, trà, cà phê đã được xây dựng NHCN ở tỉnh
I.1.1.2 Về hoa Đà Lạt và hoa địa lan Đà Lạt
Đà Lạt được vinh danh là thành phố hoa bởi các điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho các loài hoa Ở Đà Lạt không chỉ các nhà vườn trồng hoa quy mô, được canh tác với các ứng dụng công nghệ tương đối khá so với cả nước, mà còn có thể thấy hoa dại mọc ở khắp nơi, đủ loại tạo nên cho thành phố một vẻ đẹp rất riêng có Vinh danh người trồng hoa, nghề trồng hoa tỉnh Lâm
Trang 10Đồng đã tổ chức nhiều Lễ hội Hoa, Festival Hoa Đà Lạt và Chính phủ chính thức cơng nhận Đà Lạt là thành phố Festival Hoa
Nghề trồng hoa được phát triển ở Đà Lạt từ lâu, từ khi các cư dân từ các miền đến đây lập nghiệp, mang theo nghề trồng hoa từ quê nhà Làng hoa Hà Đơng được thành lập vào năm 1938, khi người dân ở các làng hoa Nghi Tàm, Quảng Bá (Hà Nội) vào Đà Lạt Làng hoa Vạn Thành được hình thành năm 1960, với các người dân Hà Nam đầu tiên vào đây sinh sống, vừa trồng rau và trồng hoa Làng hoa Thái Phiên, với các dân cư từ miền Trung đến lập nghiệp với nghề trồng rau, cây ăn trái; đến năm 1956, người dân trồng thử các giống hoa cĩ nguồn gốc từ Pháp như Hồng anh, Lay-ơn, Xạc-ra, Cẩm tú cầu, hoa Hồng, hoa Cúc… sau đĩ nhanh chĩng trở thành một vùng sản xuất hoa chủ yếu của dân địa phương
Ngày nay, ngành nghề trồng hoa phát triển ra các khu vực phụ cận thành phố Đà Lạt như các huyện Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà,… Các loại hoa trồng phổ biến là cúc, hồng, xa lem, lay ơn, ly ly, cát tường,… và đặc sản của vùng núi cao là hoa địa lan Diện tích trồng hoa ở Đà Lạt khoảng trên 2000 ha, với sản lượng cắt cành mỗi năm khoảng 01 tỷ cành
Cây địa lan (Cymbidium spp.) được trồng tại Việt Nam chỉ tập trung ở các vùng núi cao
như Sapa, Đà Lạt,… tạo nên loại cây trồng đặc hữu và cũng là thương hiệu mang giá trị thương mại cao
Hoa địa lan được ưa chuộng do sự phong phú về màu sắc và hình dáng hoa, thuộc họ
lan Orchidaceae, bộ Orchidales, phân lớp Liliopsida, ngành Ngọc lan Magnoliophyta (Angiespermae) Đây là một họ lớn, nằm trên nhánh tiến hĩa cao nhất của lớp một lá mầm, cĩ
gần 450 chi với khoảng 20.000 lồi và phát triển theo hướng thụ phấn nhờ cơn trùng
Cymbidium là một chi của họ lan, đã được nhà thực vật học người Thụy Điển Otto
Swartz mơ tả năm 1799 Theo Jean Camard (1978), cĩ trên 60 lồi phân bố ở Châu Á (Ấn Độ,
Nam Trung Quốc, Việt Nam), châu Úc và châu Mỹ Ở Việt Nam, Cymbidium cĩ khoảng 12 lồi
phân bố ở Đà Lạt và một số vùng rừng phía Bắc với độ cao trên 1.500m Phần lớn các lồi trong chi này sống ở các vùng rừng núi khá cao, khơ và lạnh, một vài lồi khác chịu được điều kiện nĩng ẩm của rừng nhiệt đới Đối với các giống địa lan hiện đang được trồng phổ biến, nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng và phát triển tốt ban ngày 24 - 270C, ban đêm về mùa khơ là 7 -
130C, độ ẩm không khí từ 60 – 70%, độ ẩm giá thể 70 – 80%, chế độ ánh sáng
từ 50 – 60% Nhiệt độ tối ưu cho cây lan Cymbidium vào thời kỳ chuẩn bị ra hoa là: 7,5 – 13oC vào ban đêm và 18,5 – 24oC vào ban ngày Sau khi đã cĩ chồi hoa, nhiệt độ thích hợp nhất để cho cành hoa phát triển tốt là từ: 13 – 24oC Ở nhiệt độ cao cây lan Cymbidium khơng thể ra hoa
được Đa số giống địa lan cho hoa khoảng tháng 11,12 năm trước đến khoảng tháng 2 năm sau
Ánh sáng là điều kiện rất quan trọng cho cây lan Cymbidium phát triển Do cĩ xuất xứ từ
những vùng khí hậu lạnh và ánh sáng chĩi chang của châu Á, cây lan cần nhiều ánh sáng, nhưng khơng chịu được ánh sáng trực tiếp, mà phải là ánh sáng khuếch tán Vậy nên khi trồng
Cymbidium phải cĩ lưới che thích hợp Căn cứ vào nhu cầu ánh sáng, cĩ nhiều chế độ che sáng
khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu sinh lý về cây giống, tuổi cây và thời kỳ sinh trưởng, phát triển Ở châu Mỹ và Châu Âu, người ta khơng cần che ánh sáng vào mùa đơng, vào mùa hè
thường che từ 30 – 50% ánh sáng, tuỳ theo giống Nhìn chung, cây lan Cymbidium cần lượng
Trang 11ánh sáng khá cao: giai đoạn cây con dưới 3 tháng tuổi từ: 30.000 – 40.000 Lux; giai đoạn cây trưởng thành, lượng ánh sáng cần thiết từ 60.000 – 80.000 Lux
Địa lan Cymbidium là cây thân thảo, đa niên
và đẻ nhánh hàng năm, tạo thành những bụi nhỏ Có
loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ
sinh), có loài rễ ăn sâu trong bọng cây và trong đất
mùn Thân ngầm của cây (căn hành) thường ngắn nối
những củ lan với nhau, các củ lan thực chất là cành
ngắn của căn hành Củ già khi bị tách khỏi căn hành, có
thể mọc ra những đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên
những cây con Củ lan (giả hành) thường có dạng con
quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 - 15 cm, củ
thường được bọc trong các bẹ lá (Hình 1.)
Lá thường có hai dạng: dạng vẩy dính theo một
đoạn căn hành và dạng thực dính trên giả hành Lá thực
thường có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng
phân cách Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy
giả hành Vài loài không có cuống lá Lá có dạng mũi
mác, dạng phiến Đầu lá nhọn chia thành 2 thùy, kích
thước của bản lá biến động từ 0,5 - 6 cm, chiều dài của lá thay đổi từ 10 - 150 cm Phiến lá thường có màu xanh đậm, một số ít có màu xanh vàng
Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới giả
hành và trong nách của các bẹ lá già Thông thường mỗi giả hành chỉ cho hoa một lần Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân, chồi hoa thường
no tròn còn chồi thân thì hơi dẹp Các lá đầu tiên ở chồi thân mọc đâm ra hai phía hình đuôi cá, còn ở chồi hoa thì các lá bao hoa luôn ôm chặt quanh phát hoa Phát hoa không phân nhánh, dựng đứng hay buông thỏng Chiều dài của phát hoa từ 10 -100
cm Cành hoa mang từ vài đến vài chục búp hoa xếp luân phiên theo đường xoắn ốc (hình 2.)
Hình 1- Hình thái ngoài của Địa lan Cymbidium
Hình 2- Cành hoa Địa lan Cymbidium
Trang 12Thoạt nhìn, hoa Cymbidium có 5 cánh gần giống nhau, thực ra chỉ có 2 cánh hoa ở bên
trong, còn lại là 3 lá đài ở bên ngoài, có cấu trúc và màu sắc giống cánh hoa Cánh hoa thứ 3 chuyển hóa thành cánh môi, màu sắc rực rỡ hơn, xẻ thành 3 thùy tạo ra dạng nửa hình ống Hai thùy bên ôm lấy trụ, thùy thứ 3 có dạng
bầu hay nhọn tạo thành hình đáy
thuyền, làm chỗ đậu cho côn trùng khi
đến hút mật và thụ phấn cho hoa Giữa
cánh môi có 2 gờ dọc song song màu
vàng (Hình 3) Tận cùng bên trong có
dĩa mật và đôi khi có những tuyến tiết
mùi hương Hoa địa lan lưỡng tính, nhị
đực và nhụy cái cùng gắn chung trên
một trục gọi là trục hợp nhụy Hoa địa
lan đa dạng và phong phú về màu sắc
Hoa địa lan có nhiều màu sắc, thay đổi
từ màu trắng đến màu hồng, nâu, đỏ,
cam, vàng, xanh và có những màu trung
gian phức tạp Ngoài ra, trên cánh môi
còn có những nét khảm sặc sỡ và cầu
kỳ Quả lan là một nang chứa 3 góc và
bên trong có chứa hàng trăm ngàn hạt
Khi chín, quả mở theo 3 đường góc và gieo vào không khí những hạt như bụi phấn màu vàng lụa Khi rơi vào nơi có điều kiện ẩm độ, ánh sáng thích hợp và có nấm cộng sinh tham gia, hạt
sẽ nảy mầm và phát triển thành cây mới
Hoa địa lan Đà Lạt là loại hoa đặc hữu, có giá trị kinh tế đối với địa phương nên trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu để hoàn chỉnh quy trình trồng và sản xuất Năm 2004-
2005, tỉnh đã có đề tài “Nghiên cứu tác nhân gây bệnh và các biện pháp phòng trừ bệnh chết củ
địa lan tại Đà Lạt - Lâm Đồng” nhằm tìm ra nguyên nhân bệnh thối củ, thối rễ gây chết địa lan
hàng loạt Đề tài đã xác định được các tác nhân cơ bản là nấm bệnh và virus, xuất phát từ điều kiện độ ẩm cao, giá thể không thoát nước tốt, sự lây lan do khoảng cách chậu không hợp lý hoặc/và lan truyền qua hệ thống thoát nước tưới, tiêu không được kiểm soát tốt; chưa có cách thuốc điều trị đặc trưng, biện pháp chủ yếu là phòng ngừa Vào năm 2006-2007, tỉnh đã phê
duyệt thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình trồng địa lan theo hướng kiểm soát an toàn dịch
bệnh” và năm 2007-2009 thực hiện dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất hoa tại Đà Lạt - Lâm Đồng” trên cơ sở các kết quả của đề tài Các nghiên
cứu về nhân giống đã được thực hiện từ năm 2005 đến 2007 với đề tài “Ứng dụng các tiến bộ
công nghệ sinh học để sản xuất cây giống hoa địa lan (Cymbidium) tại Đà Lạt” và dự án sản
xuất thử nghiệm “Sản xuất thử nghiệm cây dâu tây, salem và địa lan tại Đà Lạt bằng công nghệ
nuôi cấy mô quang tự dưỡng” Về cơ bản, các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác phòng ngừa bệnh
đã được triển khai thành các mô hình kiểm nghiệm trong thực tế và đã đề xuất được các quy trình tương đối phù hợp với điều kiện của Đà Lạt Các quy trình được trình bày trong sản phẩm
Hình 3- Hoa địa lan Cymbidium
Trang 138 (Phụ lục Các sản phẩm của dự án) là kết quả rút ra từ kết quả các đề tài dự án đã nghiệm thu
và công bố trên địa bàn tỉnh
Việc thu hái, bảo quản đã được nghiên cứu trong đề tài “Nghiên cứu công nghệ xử lý bảo
quản và đóng gói thích hợp cho một số loại hoa cắt cành tại Đà Lạt phục vụ nội tiêu và xuất khẩu” trong thời gian 2006-2007 Đề tài đã đề ra các quy trình thu hái các loại hoa, trong đó có
địa lan Đà Lạt, cũng như các giải pháp bảo quản sau thu hoạch Kết hợp các tài liệu khác và kết quả đề tài là cơ sở cho việc xây dựng các quy trình về thu hái, bảo quản hoa địa lan theo sản phẩm 8 (Phụ lục Các sản phẩm của dự án)
I.1.1.3 Điều tra, khảo sát thực địa
Mục đích điều tra, khảo sát: nhằm xác lập những chỉ tiêu định lượng và định tính đối với việc trồng trọt và kinh doanh sản phẩm hoa lan Cymbidium tại Đà Lạt – Lâm Đồng, phục vụ cho chương trình xây dựng nhãn hiệu hàng hóa đối với sản phẩm hoa lan Cymbidium
Trên cơ sở thông tin sơ bộ về tình hình sản xuất và kinh doanh sản phẩm hoa lan Cymbidium tại các địa phương do Hội hoa lan Đà Lạt quản lý và thống kê của Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt cho thấy: vùng tập trung sản xuất thuộc thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương,
có khoảng 300-400 cơ sở (hộ) trồng địa lan, số lượng các cơ sỏ (hộ) cụ thể luôn biến động do xu thế sử dụng đất ở Đà Lạt và tình hình bệnh thối củ, thối rễ; quy mô sản xuất hoa lan Cymbidium tại Đà Lạt có nhiều cấp độ khác nhau, từ vài trăm chậu đến hàng chục ngàn chậu Trên địa bàn cũng hình thành các cơ sở (hộ) kinh doanh sản phẩm hoa địa lan cắt cành hoặc kinh doanh hoa chậu Các cơ sở, hộ kinh doanh thì hoạt động tập trung vào mùa thu hoạch hoa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau
Các vấn đề cần điều tra chủ yếu là quy mô sản xuất kinh doanh, giống sử dụng, các vấn
đề về sử dụng tiêu chuẩn sản phẩm, các tiêu chí quan tâm nhiều về chất lượng, vấn đề kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật thu hái, bảo quản, sử dụng nhãn hiệu và thị trường Chương trình điều tra, khảo sát được thực hiện trên cơ sở mẫu phiếu (xem Phụ lục Các sản phẩm của dự án, sản phẩm
1, phần mẫu phiếu khảo sát) đã được xây dựng riêng cho nhóm hộ/cơ sở sản xuất (320 hộ) và
nhóm hộ/cơ sở kinh doanh sản phẩm hoa lan Cymbidium (80 hộ) phân theo từng địa bàn cơ sở nuôi trồng và kinh doanh sản phẩm hoa lan Cymbidium trên địa bàn thành phố Đà Lạt và huyện
Lạc Dương (về cơ bản gần như diều tra hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh)
Trang 14Bảng 1- Bảng phân bổ số lượng và vị trí các cơ sở khảo sát
Tổ chức điều tra do Trung tâm Nông nghiệp Thành phố Đà Lạt thực hiện thông qua mạng lưới nhân viên khuyến nông và khuyến nông viên cơ sở tại các địa bàn để tổ chức khảo sát theo mẫu phiếu đã chuẩn bị Tổ chức tập huấn, hướng dẫn ghi chép thông tin cho nhóm thành viên khảo sát Thực hiện phỏng vấn và ghi chép trực tiếp vào mẫu phiếu Việc xử lý số liệu được thực hiện bằng bảng tính Microsoft Excel Kết luận chung sau khi xử lý kết quả điều tra:
a) Quy mô đầu tư, tổ chức sản xuất
Hoạt động sản xuất hoa lan Cymbidium hiện nay vẫn còn đang ở trình độ thấp với quy
mô nhỏ
Diện tích trồng hoa lan Cymbidium trung bình hiện nay là 725 m2/hộ/cơ sở; quy mô phổ biến và chiếm tỷ lệ cao là các nhóm từ 200 - 700 m2 (52,8%) và từ 1.000 m2 đến dưới 5.000 m2(26,6%) Các cơ sở có quy mô sản xuất trên 5000 m2 còn rất ít (1,3%) (hình 4)
Chủ yếu hiện nay vẫn là các giống có trước năm 1995 với các giống truyền thống là Vàng
Ba Râu với trên 73,4% số hộ/cơ sở có nuôi trồng (15,3% cơ cấu), Xanh Thơm với trên 76,6 %
số hộ/cơ sở nuôi trồng (16,7 % cơ cấu), Tím Hột trên 81,9% số hộ/cơ sở nuôi trồng (17,2% cơ
Hình 4- Quy mô sản xuất theo diện tích