Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Bài thảo luận thứ năm
LỚP: 122 – AUF45
Nhóm 3
Danh sách các sinh viên thực hiện:
1 Nguyễn Lê Trâm Anh – 2053801012020
2 Trần Hồ Trâm Anh – 2053801014014
3 Trần Dương Thiên Đồng – 2053801014041
4 Lê Nguyễn Hữu Khoa – 2053801014109
5 Bùi Nguyễn Nam Phương – 2053801011197
6 Trần Thị Minh Thư – 2053801015130
7 Liễu Hồng Thanh – 205301014237
Trang 2Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng gây ra
1.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh
do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho phía bên kia
Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể từ Điều 360 đến Điều 363 BLDS 2015 quy định căn
cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là:
- Thứ nhất là phải có hành vi vi phạm nghĩa vụ
- Thứ hai là phải có thiệt hại xảy ra
- Thứ ba là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
- Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là một trong những nội dung được bổ sung một cách cơ bản so với quy định tại BLDS 2005 Thay vì chỉ quy định chung trong một điều luật (Điều 307 BLDS 2005), BLDS 2015 dành 4 điều luật để quy định về nội dung này (từ Điều 360 đến Điều 363 BLDS 2015)
Từ quy định tại những điều này có thể thấy một số nội dung mới phát triển Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ và rõ ràng hơn
Thứ hai, so với BLDS 2005 thì tại Điều 360 BLDS 2015 thì không còn quy định "lỗi" của người có hành vi vi phạm là căn cứ, điều kiện bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm dân sự
1.2 Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn đã hội đủ chưa? Vì sao?
Trong tình huống trên, để xác định có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không thì cần phải xác định: việc núm vú cũng như các vết mổ của bà Nguyễn xảy ra vấn đề cần xem xét liệu đó là biến chứng do thể trạng cá nhân hay lỗi chủ quan của bác sĩ khi thực hiện thao tác
Trường hợp 1, nếu tình trạng của bà Nguyễn là do cơ thể phản ứng sau khi thực hiện phẫu thuật thì không thể kết luận ở đây bà Nguyễn đã bị xâm phạm về sức khỏe Do đó, trong tình huống trên, không có xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn
Trang 3Trong trường hợp này căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn chưa hội đủ Bởi vì:
- Thứ nhất, đã có thiệt hại xảy ra: bà Nguyễn đã bị mất núm vú phải
- Thứ hai, có hành vi vi phạm nghĩa vụ của ông Lại là không đúng: bởi ông Lại đã làm theo đúng thỏa thuận giữa hai bên Nhưng do cơ thể phản ứng sau khi thực hiện phẫu thuật của bà Nguyễn nên việc phẫu thuật núm vú đã có sự đồng ý của bà Nguyễn thì ông Lại mới có thể phẫu thuật tiếp cho bà
- Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: vì yếu
tố thứ hai đã không thỏa mãn nên không thể có mối quan hệ giữa hành vi và thiệt hại
Vì vậy, không hội tụ đủ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
Trường hợp 2, đây là lỗi chủ quan của bác sĩ khi thực hiện thao tác thì kết luận ở đây
bà Nguyễn đã bị xâm phạm về sức khỏe Do đó, trong tình huống trên, có xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn
Trong trường hợp này căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn hội đủ Vì:
- Thứ nhất, đã có thiệt hại xảy ra: bà Nguyễn đã bị mất núm vú phải
- Thứ hai, có hành vi vi phạm nghĩa vụ của ông Lại: bà Nguyễn đã thỏa thuận phẩu thuật ngực với 4 yêu cầu: lấy túi ngực ra, thâu nhỏ ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, không được đụng chạm đến núm vú Ông Lại đã đụng đến núm vú phải của bà Nguyễn khiến nó bị sưng lên, đau nhứt và đen như than Ông Lại đã vi phạm yêu cầu của bà Nguyễn
- Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: trong lúc phẩu thuật ông Lại đã đụng đến núm vú của bà Nguyễn, kết quả là bà đã bị mất núm
vú phải
Vì vậy, đã hội tụ đủ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
1.3 Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng
gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Dựa vào khoản 2 Điều 361 BLDS năm 2015 quy định: “Thiệt hại về vật chất là tổn
thất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút”
Như vậy để xác định những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường thì cần phải xác định những căn cứ sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ được phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ
Trang 4trong hợp đồng và áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm đó Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành động hoặc không hành động
- Có thiệt hại thực tế xảy ra: Thiệt hại được coi là yếu tố bắt buộc và tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không Thiệt hại trong vi phạm hợp đồng được hiểu là thiệt hại về vật chất Có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp và việc xác định thiệt hại là vô cùng quan trọng
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra: giữa hai yếu tố này phải có mối liên hệ nội tại, tất yếu trong đó hành vi vi phạm trên thực tế phải
là nguyên nhân gây ra hậu quả Nếu hành vi vi phạm hợp cùa một bên gây ra mà do nguyên nhân khác thì sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.4 BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi
phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo nhóm em, BLDS năm 2015 cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp đồng vì theo Điều 361 Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tại khoản
1 “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần” và theo điều 419 Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng tại khoản 3 “Theo yêu cầu
của người có quyền, Toà án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Toà án quyết định căn cứ vào nội dung vụ
việc”
1.5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo BLDS 2015 tại khoản 3 Điều 361 ” Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần
do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể” và khoản 3 Điều 419 “Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể” mà trong tình huống trên rõ ràng ông Lại đã vi
phạm yêu cầu của bà Nguyễn được ghi trong hợp đồng phẫu thuật thẩm mỹ, làm mất núm
vú phải của bà Nguyễn, bị hở vết mổ bằng ngón tay thấy cả túi nước bên trong, phải tiến hành mổ may lại, ảnh hưởng đến sức khoẻ, thân thể của bà Nguyễn Vì thế bà Nguyễn sẽ được bồi thường tổn thất về tinh thần nếu có yêu cầu
Vấn đề 2: Phạt vi phạm hợp đồng
2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng.
Điều 422 Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm
Trang 5“1 Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2 Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.
3 Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm
mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.”
Điều 418 Thỏa thuận phạt vi phạm
“1 Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng là:
Thứ nhất, về mức phạt ở khoản 2 Điều 422 BLDS 2005 quy định “Mức phạt vi phạm
do các bên thỏa thuận” còn BLDS 2015 khoản 2 Điều 418 theo hướng “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” Luật liên
quan ở đây cụ thể là: Luật xây dựng, Luật thương mại có quy định về mức phạt tối đa (tức các bên không hoàn toàn tự do thỏa thuận về mức phạt)
Thứ hai, tại khoản 3 Điều 422 BLDS 2005, đoạn “nếu không có thỏa thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại” BLDS 2015 phần in nghiêng đã được bỏ đi vì đây là vấn đề bồi thường thiệt hại và đã có quy định khác điều chỉnh (Điều 13 và Điều 360 BLDS 2015)
Đối với vụ việc thứ nhất
Tóm tắt bản án số 121/2011/KDTM-PT ngày 26/12/2011
Công ty Tân Việt và Công ty Tường Long đã ký Hợp đồng số 01-10 / TL - TV ngày 01/10/2010 và phụ lục hợp đồng ngày 07/10/2010 để mua vải thành phẩm Nội dung thanh toán ngay sau khi ký hợp đồng, Công ty Tân Việt thanh toán trước 30% đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, thanh toán 40% giá trị đơn hàng ngay sau khi bên Công ty Tường
Trang 6Long giao hoàn tất và 30% còn lại thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Ngày 19/10/2010 Công ty Tân Việt đã thanh toán 30%, ngày 12/11/2010 Công
ty Tường Long giao lô hàng mẫu Sau đó Công ty Tường Long có công văn gửi cho Công
ty Tân Việt yêu cầu tăng giá nhưng Công ty Tân Việt không đồng ý và đã gửi công văn phản hồi Ngày 3/12/2010 Công ty Tường Long thông báo hủy bỏ hợp đồng Công ty Tân Việt yêu cầu Công ty Tường Long thanh toán tiền phạt cọc và phạt hợp đồng là 509.769.640 đồng Quyết định của Tòa án buộc Công ty Tường Long thanh toán tiền phạt 102.849.604 đồng cho Công ty Tân Việt
2.2 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và vi phạm hợp đồng?
Điểm giống nhau:
- Về đối tượng thực hiện: Là khoản tiền mà một bên tham gia hợp đồng, thỏa thuận buộc phải nộp cho còn lại của hợp đồng, thảo thuận trên
- Về hình thức: Đều phải lập thành văn bản
- Về hậu quả pháp lý: Bên vi phạm phải chịu mất 1 khoản tiền (mức phạt vi phạm hoặc phạt cọc) mà không căn cứ vào thiệt hại thực tế
2.3 Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc
Vì thế dựa vào phần xét thấy của bản án cho thấy: “…Do vậy số tiền thanh toán đoạt 1
là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc.” Tòa án dựa trên khoản 3, Điều 4 Hợp đồng số 01-10/TL - TV quy định sai khi ký hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước cho bên bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc
2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%?
Ban đầu, Tòa án thừa nhận khoản tiền trả trước 30% ban đầu là tiền đặt cọc để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Sau đó, Tòa án nhận định rằng bị đơn đã thực hiện lần giao hàng thứ nhất và nguyên đơn cũng đã chấp nhận lần giao hàng này Vì vập Hợp đồng đã được thực hiện và phần tiền cọc phải được trả lại cho nguyên đơn hoặc được trừ
để thực hiện nghĩa vụ trả tiền, tức lúc này khoản tiền này không còn là tiền cọc mà là tiền thanh toán một phần giá trị hợp đồng
Tòa án cũng đã căn cứ vào các quy định tại khoản 2 Điều 358 BLDS 2005 tương đương với khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 quy định về đặt cọc: “ Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để
Trang 7thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Nghĩa là bị đơn chỉ bị phạt cọc khi bị đơn từ chối thực hiện hợp đồng Ở đây hợp đồng đã được thực hiện nên không thể
áp dụng các điều kiện có trong quy định của Điều luật trên
Đối với vụ việc thứ hai
Tóm tắt Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/8/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc Hùng, giám đốc công ty
Bị đơn: Công ty cổ phần Yến Việt
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đặng Phạm Minh Loan, giám đốc công ty
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Hoàng Lương
- Ông Võ Thái Lâm
Nội dung:
Tháng 10/2010, Công ty Yến Sào và Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Yến Việt (gọi tắt là Công ty Yến Việt) ký hợp đồng nguyên tác 02/HĐNT về việc đồng ý cho công
ty Yến Sào phân phối độc quyền ra phía Bắc các sản phẩm từ yến mang nhãn hiệu Yến Việt trong thời hạn mười năm Tại điều 11 của Hợp đồng, hai bên thỏa thuận “Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên nào vi phạm các điều đã cam kết trong hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên kia số tiền 10.000.000.000 đồng.” Công ty Yến Sào đã nhập 3 lô hàng của công ty Yến Việt Tuynhiên, công ty Yến Việt đã thành lập chi nhánh và các cửa hàng phân phối tại Hà Nội mà không trao đổi với công ty Yến Sào, và đã vi phạm Hợp đồng số 02 và gây thiệt hại cho công ty Yến Sào Nên công
ty Yến Sào khởi kiện, buộc công ty Yến Việt bồi thường 10.000.000 000 đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5.050.300.000 đồng, hoàn trả 145.478.000 đồng và buộc công ty Yến Việt chấm dứt hoạt động phân phối các sản phẩm từ yến tại thị trường phía Bắc Sau đó, Công ty Yến Việt có đơn phản tố yêu cầu Công ty Yến Sào trả số tiền 635.522.000 đồng và 447.660.150 đồng tiền lãi trả chậm, yêu cầu công ty Yến Sào chấm dứt vi phạm ngừng phân phối sản phẩm
Quyết định của Tòa án
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 11/2020/KM-KDTM ngày 9/6/2020 của Chánh án TANDTC
Trang 8- Hủy quyết định giám đốc thẩm số 12/2019/KDTM-GĐT, hủy bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 01/2017/DSPT, hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/KDTM-ST
- Giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét
xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật
2.5 Cho biết điểm giống và khác nhau giữa thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng và thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Điểm giống nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
- Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại đều được áp dụng đối với các hợp đồng có hiệu lực Cơ sở áp dụng: phải có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế và phải
có lỗi của bên vi phạm
- Đều là trách nhiệm pháp lý áp dụng với các chủ thể hợp đồng, bảo vệ quyền và lợi ích của bên bị vi phạm
- Đều là các quy định của pháp luật nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng
Điềm khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
Phạt vi phạm Bồi thường thiệt hại
Điều kiện áp
dụng
- Có thỏa thuận áp dụng
- Không cần có thiệt hại thực tế xảy ra
- Chỉ cần chứng minh được có vi phạm
- Không cần có thỏa thuận áp dụng
- Có thiệt hại thực tế xảy ra
- Phải chứng minh được phần thiệt hại thực tế xảy ra đó
- Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp
Mục đích
- Bảo vệ quyền và lợi ích của các bên chủ thể
- Là trách nhiệm pháp lý nhằm nâng cao ý thức của các bên và ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra khi thực hiện hợp đồng
- Bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm
- Nhằm bù đắp những lợi ích vật chất bị mất đi của bên vi phạm
- Khắc phục hậu quả do hành vi
vi phạm gây nên
Giới hạn áp dụng
- Mức phạt do các bên thỏa thuận trong hợp đồng và không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ TH quy định tại Điều 266 Luật thương
- Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra
và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
Trang 9mại 2005.
- Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định
vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
- Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất, bên
vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được (Điều 302,305 LTM2005) Nghĩa vụ của các
bên
- Chỉ cần thỏa thuận được ghi trong hợp đồng thì khi có hành vi
vi phạm có thể áp dụng
-Nghĩa vụ chứng minh tổn thất -Nghĩa vụ hạn chế tổn thất Tính phổ biến - Áp dụng phổ biến đối với các viphạm hợp đồng - Chỉ áp dụng khi khả năngthiệt hại có thể xảy ra. Phương thức - Phạt tiền,… - Bao gồm: tiền, vật chất, cácbiện pháp khắc phục sữa chữa.
2.6 Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?
Theo Toà án cấp phúc thẩm, thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà
án trong Quyết định số 10 là thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh dù không có thỏa thuận giữa các bên và khi hội tụ đủ các yếu tố như: có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra
Theo đó toà án phúc thẩm xác định công ty Yến Việt không bị phạm quy định tại điều
1 hợp đồng số 02/HDNT Buộc Công ty TNHH Yến Sào Sài Gòn phải trả cho Công ty cổ phần Yến Việt số tiền 854.777.000 đồng (trong đó tiền mua hàng còn thiếu nợ 635.522.000 đồng; trả lãi đối với số tiền 635.522.000 đồng tính từ tháng 02/2011 đến tháng 12/2014 số tiền 219.255.000
2.7 Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10 là thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng hay thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng? Vì sao?
Trang 10Theo Toà giám đốc thẩm (Hội đồng thẩm phán), thoả thuận được nêu tại mục 4 phần Nhận định của Toà án trong Quyết định số 10/2020/KDTM-GĐT ngày 14/8/2020 là thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng
Bởi vì: Tại Điều 11 Hợp đồng nguyên tắc số 02, hai bên đã thỏa thuận: “ nếu trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bên nào vi phạm các điều kiện đã cam kết trong Hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên kia số tiền là 10.000.000.000 đồng Tòa án căn cứ vào điều 300, 301, 302, 303, 304 Luật Thương Mại 2005 thì phạt vi phạm hợp đồng là việc các bên thỏa thuận phải trả một khoản tiền phạt được xác định trước , nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Tuy nhiên với
số tiền 10.000.000.000 đồng đã quá mức phạt tối đa so với Điều 301 Luật Thương Mại
2005 (mức phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm) Có thể thấy
đã có sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó xác định nếu 1 bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm trong trường hợp này số tiền là 10.000.000.000 đồng Và đã xác định các bên có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại gồm
đủ các yếu tố: có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
2.8 Cho biết suy nghĩ của anh chị về hướng xác định nêu trên của Hội đồng thẩm phán?
Hướng xác định nêu trên của Hội đồng thẩm phán là thuyết phục, bởi vì:
Vi phạm hợp đồng là vấn đề không ai mong muốn, tuy nhiên đây lại là điều không thể tránh khỏi khi giao kết hợp đồng trên thực tế Tòa án đã xác định được mục đích của các bên về mức bồi thường 10.000.000.000 là phạt vi phạm hợp đồng, tuy nhiên thỏa thuận này được tòa giám đốc thẩm cho rằng các bên thỏa thuận đã vi phạm quy định về thỏa thuận mức phạt vi phạm tại điều 301 luật thương mại 2005 Nếu xác minh bồi thường thiệt hại thì cần phải chứng minh có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành
vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại và bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Ở tòa
án sơ thẩm và ủy ban thẩm phán cấp cao đã yêu cầu bồi thường mà chưa làm rõ thiệt hại
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra
Vấn đề 3: Sự kiện bất khả kháng