Khái niệm những khoảng trống trong một bài thơ đóng góp ý nghĩa, cấu trúc, thẩm mỹ và giá trị cho bài thơ đó, được hầu hết các thi sĩ và các nhà phê bình thi ca ủng hộ.. Nhưng người đọc
Trang 1Tìm Hiểu Bản Sắc:
Khoảng Trống Của Thơ
Khái niệm những khoảng trống trong một bài thơ đóng góp ý nghĩa, cấu trúc, thẩm mỹ và giá trị cho bài thơ đó, được hầu hết các thi sĩ và các nhà phê bình thi ca ủng hộ Lý do căn bản giải thích vì bản sắc thơ cô đọng, thà thiếu chữ hơn thừa, thiếu ý hơn lạc nghĩa Vì vậy những khoảng trống cũng là những thi liệu bổ túc và tương ứng để xây dựng bài thơ
Vượt lên lý do căn bản, những khoảng trống được đưa vào nghệ thuật sáng tác, trở thành một phần thi pháp, bao gồm trong văn phạm và phong cách
Thậm chí, làm nền tảng cho một số phong trào thơ, ví dụ như thơ Cắt Vụn (Cut-Up) do nhà thơ, nhà văn, kiêm họa sĩ Brion Gysin (1916-1986) chủ xướng Và phong trào thơ Cụ Thể vào giữa thế kỷ
20 Trước đó, cuối thế kỷ 19, thi sĩ Guillaume Apollinaire
đã đưa giá trị khoảng trống vào thơ ở mức
độ thẩm mỹ như hội họa, kết hợp chữ đen
Trang 2trên nền trắng Bài thơ trở thành bức tranh (Du
Hành sáng tác 1914.)
Về sau, kỹ thuật sử dụng khoảng trống xa dần khái niệm hội họa nhưng phát triển trên quan điểm nghệ thuật tạo hình Quan niệm thẩm mỹ tập trung vào việc thể hiện bài thơ trên trang giấy như một thể thơ mới, thể thơ sáng tạo phù hợp với nội dung Đó
là những khoảng trống mặt ngoài, đối diện với người thưởng ngoạn Chính những khoảng trống bên trong, ẩn sau văn tự, mới làm cho thơ sâu rộng
Hầu hết các nhà thơ đều hiểu công dụng của khoảng trống trong sáng tác Ngược lại, hầu hết người đọc không quan tâm và không hiểu giá trị này Nhưng người đọc thơ sẽ phải đối diện với ý nghĩa của các loại khoảng trống khác nhau, nếu họ thật sự muốn lĩnh hội toàn thể bài thơ, vì mỗi bài thơ đều hoàn tất bằng ngôn ngữ và khoảng trống Khoảng trống trong thơ liên quan trực tiếp với sự đọc Trống kết hợp với chữ, trắng kết hợp với đen, cho nhận thức nhận diện ý nghĩa Ví dụ, trong giới hạn một trang giấy, chữ viết chằng chịt, san sát nhau, sẽ tạo ra rối rắm khi đọc Không phải chỉ là khó khăn cho nhãn lực, mà cảm giác nhận thức bị
đè ngộp Trong Lectures on Literature, 1983,
London, Vladimir Nabokov (1899-1977) viết: “Thật
lạ lùng, người nào đọc không hiểu một cuốn sách: Người ấy chỉ cần đọc lại Người đọc tử tế, người đọc chuyên, người đọc tích cực, người đọc sáng tạo đều là người đọc lại Để tôi cho bạn biết lý do tại sao Lần đầu khi chúng ta đọc một cuốn sách, quá trình di chuyển chăm chú của đôi mắt từ trái sang phải, từng dòng, từng trang, công việc thể xác phức tạp trên cuốn sách, chính là quá trình học hỏi
Trang 3về không gian và thời gian những gì trong cuốn sách, điều này đứng giữa chúng ta và sự định giá nghệ thuật Khi đọc một cuốn sách, chúng ta cần phải có thời giờ để làm quen với nó ” (trang 3.)
Trong câu trích này, lưu ý cụm từ “người đọc sáng tạo” (creative reader), khái niệm này cho biết một loại độc giả có khả năng thẩm thấu cao và nhận thức vượt trội Câu này cũng xác nhận để đọc một văn bản khó, cần thời giờ để đọc lại cho đến khi có thể lĩnh hội Thơ thời nay khó đọc chẳng những vì
ý tưởng và nghệ thuật tượng trưng, mà còn khó giải thích bởi những khoảng trống được dàn trải theo ý thức và vô thức của tác giả
Phân Loại Khoảng Trống Trong Thơ
Khoảng trống khác với khoảng trắng Khoảng trắng trong thơ bao bọc quanh chữ mang tính trình bày trên trang nền Mục đích thể hiện mỹ thuật, sáng sủa, sạch sẽ và dễ coi Trong khi, khoảng trống trong thơ tuy không chữ nhưng có ý nghĩa, chức năng và mục đích, đi song song với ngôn ngữ thơ Nhận xét tổng quát, nghệ thuật khoảng trống trong thơ là phương cách dàn trải chữ viết lên văn bản với những khoảng không, có mục tiêu gia tăng phẩm chất và giá trị bài thơ Theo Ian Davidson trong tác phẩm Ideas of Space in Contemporary
Poetry, nghệ thuật dùng khoảng trống trong thơ hiện đại sử dụng khái niệm “cắt dán” của hội họa Lập Thể Bao gồm Lập Thể trừu tượng và Lập Thể tổng hợp
Trang 41 Khoảng trống sử dụng như văn phạm, chủ yếu là dấu phẩy và dấu chấm Câu thơ trung bình vốn không dài Nhưng nhịp điệu tạo
ra những ngắt khoảng, ngưng nghỉ, xuống hàng
Có những khoảng trống dùng để “lấy hơi” Người đọc khi gặp những khoảng trống này sẽ tự động dừng lại trước khi lướt mắt đọc tiếp Có những khoảng trống mang giá trị như dấu chấm Nghĩa là
ý thơ trong câu đã hết Các nhà thơ thường xuống hàng ở khoảng trống nghỉ tương đương dấu phẩy
và khoảng trống tương đương dấu chấm Nhất là những nhà thơ làm thơ theo lối viết tự động, không
sử dụng chấm phẩy
Câu thơ vắt hàng thường khi không phải vì khoảng trống mà vì nhịp nhấn của ngôn ngữ đa âm Trong khi ngôn ngữ Việt đơn âm, vắt hàng trong câu thơ Việt hầu hết là ngộ nghĩnh hoặc ngây ngô Thơ Tân Hình Thức Việt gặp phải trở ngại này
Trong tác phẩm Space in Theory, Russell West Pavlov lập luận rằng, cho dù giá trị khoảng trống đã
có trước nhưng từ khi có computer hoặc những phương trình viết điện tử, nhà thơ chú trọng hơn về cách sắp đặt và dàn trải khoảng trống trong cấu trúc bài thơ
2 Những khoảng trống trực quang
(visual space) như thành phần cấu trúc thơ Thị Kiến (visual poem) Thơ thị kiến là một thể loại thơ
có đặc điểm ngôn ngữ phi biểu tượng và các yếu tố thị giác chiếm ưu thế Nghĩa là ngôn ngữ không đóng vai trò chủ động trong bài thơ mà hình ảnh,
ký hiệu thay thế vai trò chủ yếu Toàn thể bài thơ được nhìn như một bức tranh hoặc tấm ảnh với ý nghĩa thể hiện qua ngôn ngữ như những ký hiệu
Trang 5thông đạt Khái niệm như vậy, thơ thị kiến có phạm
vi lớn hơn
Năm 1897, nhà thơ phái Tượng Trưng Stéphane Mallarmé xuất bản tập thơ Un Coup de dés jamais
nabolirale hasard với lời mở đầu hướng dẫn người đọc một cách rõ ràng về nhận thức những khoảng trống giữa các từ ngữ và toàn bộ khoảng trống của trang in Ông cho rằng giá trị của những khoảng trống làm nổi bật phần mực đen Ông phân biệt phần nền (background) và phần cận cảnh (foreground) Khoảng trống ở phần nền tạo cho chữ ở phần cận cảnh một sức mạnh đúng với chức
năng của bản thân chữ Ông xác nhận trong Crise
de vers, mọi thứ đều sẽ cân nhắc, dàn trải các thành phần, thay thế và liên hệ - tất cả đóng góp này nhắm vào toàn bộ nhịp phách, đó là phần im lặng của thơ, trong các khoảng trống, vì sự im lặng được chuyển dịch theo cách riêng, bởi mỗi thành phần cấu trúc (Oeuvre complètes Mallarmé, trang 211.)
Từ khái niệm này, thơ Cụ Thể sử dụng chữ và ký hiệu như bản vẽ địa hình Họ sử dụng các hình thức kiểu mẫu chữ in, chen lẫn chữ lớn chữ nhỏ, không tuân theo luật đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Tuy nhiên, thơ Cụ Thể không có đời sống lâu dài, vì thơ rốt ráo không phải là hình thức,
mà chính là nội dung cưu mang ý nghĩa và thẩm
mỹ
Ví dụ bài Silencio (1954) của Eugen Gomringer:
Trang 6silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio silencio
Câu hỏi, mỗi người đọc sẽ cảm nhận như thế nào
về khoảng trống ở giữa khối chữ silencio (im lặng)? Liệu có bao người nhận ra sự mâu thuẫn, đối nghịch giữa hiện diện và vắng mặt Thâm thúy hơn nữa là sự nghịch lý giữa silencio (im lặng bằng chữ) và khoảng trống (im lặng hư không)
Một số nhà phê bình cho rằng thơ của Mallarmé tạo ngôn ngữ thơ thành biểu tượng trừu tượng, như một chùm sao lấp lánh trên trang giấy Nghĩa
là có sự dung hợp mỹ thuật giữa chữ với khoảng trống và ý nghĩa trên văn bản Nelson Goodman trong luận văn Languages of Art: An Approach to a
Theory of Symbols, nhận xét, giá trị của khoảng trống là mở rộng các tiết mục thơ bằng cách đưa các mã (codes) hình ảnh vào văn bản, nhờ vậy, người đọc vượt qua giới hạn của ngôn ngữ diễn tả,
để tiến vào miền ý nghĩa của biểu tượng Hình ảnh vốn đã sẵn có trong ngữ cảnh và sự sinh hoạt của các ngữ cảnh Vấn đề là thói quen của khả năng đọc sẽ nỗ lực chuyển nghĩa từ ngữ thay vì nhìn trực tiếp đến hình ảnh đang hiện ra
Trang 7Nếu khoảng trống theo văn phạm là nơi dừng nghỉ của mắt và ý, thì khoảng trống trực quan liên kết và
hỗ trợ cho ngôn ngữ thơ nổi bật Tạo cho bài thơ một mô hình ít quen thuộc, đánh thức độc giả ra khỏi thói quen đọc thơ vần điệu hoặc thơ theo thể thơ cố định
Ví dụ:
Bài I Was Just Frosted (2012) của Susan Wheeler
Tác giả sử dụng văn phạm với chấm, phẩy, gạch ngang, Những khoảng trống và hàng trống có mục tiêu làm nền cho khối chữ đen nổi bật Những khoảng trống xa hơn bình thường giữa các câu làm cho người đọc chậm lại để có thời giờ đón nhận câu tiếp theo Khối chữ hình chữ nhật nằm ở giữa
là trọng tâm của bài thơ Tiết lộ ý chính qua ba tứ thơ: thức ăn, nắng chiều và bóng tối
Trang 8Tôi Bị Đóng Băng
Cảm ơn, Ray, đây chỉ là những gì bác sĩ yêu cầu
Không, em không bao giờ thấy tôi ăn Ô liu - Bố em thích trái này nhưng tôi không chịu được
Không phải, chỉ là hành tây củ nhỏ dùng pha rượu Dan, tắt nó đi
Trái bơ, tăm xỉa răng, rau tía tô, củ rễ Nhiều tia nắng đủ màu từ mặt trời cuối ngày, tia nắng cắt chia bởi cành lá: lung lay, động đậy, ánh sáng lung linh Bóng âm u tối dần trong ly qua đôi mắt kính
Em có thể nhích qua một chút? Được rồi Ánh sáng chói vào mắt tôi
Nội dung bài thơ đơn giản nhưng không dễ hiểu Người đọc chẳng những phải đối phó với những khoảng trống ở mặt tiền, mà còn phải quan tâm những khoảng trống chen giữa những ẩn dụ Những khoảng trống ngầm có chức năng gì đặc biệt, có giá trị gì trong nghệ thuật xây dựng bài thơ
Ví dụ: [accumulation of land] của Myung Mi Kim Tác giả sử dụng khoảng trống văn phạm, ngưng nghỉ như dấu phẩy, dấu chấm Những khoảng trống giữa các cụm chữ được lập lại đều đặn tạo thành nhịp điệu khi đọc Những khoảng trống trực quang này ngoài mục tiêu mỹ thuật còn cố ý gây chú trọng đến ý nghĩa của từng cụm từ, đôi khi cụm
từ bị cắt lìa giám đoạn, khiến người đọc phải dừng lại, đọc lại Hình thức như một thể thơ lạ
Trang 9Hình thức bài thơ này trình bày mỹ thuật trong một dạng cấu trúc không quen thuộc Đây cũng là quan điểm tranh luận giữa người làm thơ mới và người làm thơ truyền thống, hoặc nói một cách cụ thể, giữa người làm thơ vần điệu và làm thơ tự do Thể thơ mới như một người ăn mặc thời trang, thay đổi
bề ngoài tùy vào mỗi trường hợp, mỗi bối cảnh Trong khi thể thơ truyền thống như một người xuất hiện bất kỳ lúc nào cũng áo dài khăn đóng
(Susan Wheeler và Myung Mi Kim là hai thi sĩ trong
số 13 thi sĩ xuất hiện trong tuyển tập American
Poets in the 21 st Century, The New Poetics do
Claudia Rankine và Lisa Sewll thực hiện, 2007 Xuất bản bởi Wesleyan University Press.)
Trang 103 Những khoảng trống trừu tượng là những khoảng trống vô hình chen giữa những ý tưởng trong nội dung bài thơ Một trong vài ưu điểm của thơ là sự nhảy vọt, chuyển đổi đột ngột, không cần phải mạch lạc Khác với truyện, cần trình bày những liên hệ trước sau và lý luận hợp lý, thơ không cần chiều dài, không dùng nhiều chữ nên bắt buộc phải chọn lối diễn tả gợi ý và không nhất thiết tuân theo lý luận bình thường Những tứ thơ đại diện cho ý tưởng có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, nơi nào, không nhất thiết phải liên hệ chặt chẽ nhưng phải nhất quán
Ví dụ: Trích bài Border Crossing của Don Schofield trên mạng World Literature Today, tháng 8 năm
2018
Border Crossing
Jolted awake Darkness Train not moving
Dirty windows Dirty metal sheds
Soldiers escort us and all our luggage
into the farthest building Sound of stamps
Sound of power in multiplicate
Stepping forward, I answer every question
where staying, how long, who with, what to declare
[ ]
Cửa Khẩu Biên Giới
Giật nẩy người thức dậy Đêm tối Tàu hỏa ngừng chạy Cửa kính dơ bẩn Kho hàng bằng sắt tồi tàn
Lính hộ tống chúng tôi và tất cả hành lý
vào tòa nhà xa nhất Tiếng đóng dấu
Tiếng quyền lực gia tăng
Trang 11Bước tới trước, tôi trả lời mọi câu hỏi
ở đâu, bao lâu, với ai, có gì khai báo
[ ]
Tác giả sử dụng dấu chấm không theo quy lệ văn phạm Những dấu chấm bất ngờ tạo những câu thơ không hoàn chỉnh Những câu không có động
từ Những câu chỉ có một danh từ Suy nghĩ bị cắt đứt Không có hành động liên hệ Tuy nằm kề nhưng rời rạc Ý tưởng cách khoảng Tạo những khoảng trống trừu tượng
Qua những khoảng trống này, người đọc phải suy luận, giải thích, phỏng đoán, tưởng tượng khi nối kết ý nghĩa những cụm chữ vào nhau Sự cộng hưởng của độc giả đưa đến hiệu quả, mỗi độc giả
có khả năng hiểu bài thơ khác biệt, cho dù họ có thể có chung một hình tứ, một ý nghĩa tổng quát
Sự kiện này cho phép bài thơ mở rộng hoặc đào sâu hơn ý định của tác giả Khoảng trống trừu tượng là một đặc tố làm cho thơ bí ẩn, cao kỳ, cùng một lúc, tạo nên mơ hồ, khó hiểu, nhưng là yếu tố giúp bài thơ tự phát triển
Tính hàm ý trong ẩn văn luôn luôn tạo những khoảng trống cho tưởng tượng, suy đoán, liên tưởng và sáng tạo Khi những ẩn dụ, những biểu tượng liên kết với nhau trong bài thơ, có nghĩa người đọc phải đối phó với nhiều khoảng trống trừu tượng bên trong nội dung, cùng một lúc với những khoảng trống trừu tượng khác chen giữa những ẩn
dụ Càng chứa nhiều ẩn dụ, nhiều khoảng trống trừu tượng, bài thơ càng có khả năng sinh tồn và phát triển theo thời gian Hầu hết những bài thơ nổi tiếng để lại trong lịch sử đều được diễn giải sâu rộng hơn ý định của thi sĩ Đây là lý do vì sao Cấu
Trang 12Trúc Luận chú trọng đến văn bản hơn là tâm lý và tri thức của tác giả
Ví dụ: The Hideout của Kevin Young Chúng ta có thể nhìn thấy một số cách diễn giải khác nhau trên cùng một văn bản
Woke up dead
tired, in my arms
an empty
an instead Tried
deeping it off,
my hangover of her,
wishing for some hair
of the dog - or slow purr -
The light my eye hurts
My tongue
white, eyes red
[ ]
Nơi Ẩn Náu
chết thức dậy
mệt mỏi, trong vòng tay
trống rỗng
một thay thế Cố gắng
đào sâu lấy nó ra,
vị thừa mứa tình nàng,
chỉ muốn vài sợi lông
chó - hoặc tiếng rên khẽ -
Ánh sáng làm mắt tôi khó chịu