Một cách tổng quát nhất, hiện có 4 cơ cấu dẫn động gồm AWD all-wheel drive tức là hệ dẫn động tất cả các bánh; 4WD four-wheel drive để chỉ xe dẫn động 4 bánh; RWD rear-wheel drive là hệ
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình Nhập môn Ô tô được biên soạn dựa theo chương trình chi tiết môn Nhập môn Ô tô giảng dạy cho HSSV hệ Trung cấp Tất cả các chương trong giáo trình đều được biên soạn dựa theo phương pháp tiếp cận năng lực và tuân theo bố cục lý thuyết và thực hành Cấu trúc giáo trình Nhập môn Ô tô chia thành 5 chương trình bày tổng quan hệ thống trên Ô tô Mỗi chương có lý thuyết và thực hành giúp HSSV có thể vận dụng lý thuyết vào trong thực hành
Giáo trình Nhập môn Ô tô được biên soạn theo các nguyên tắc: Tính định hướng thị trường lao động, tính hệ thống và khoa học Hướng tới liên thông, chuẩn đào tạo nghề khu vực và thế giới
Song do điều kiện về thời gian, mặt khác đây là lần đầu tiên nhóm biên soạn giáo trình dựa trên năng lực thực hiện, nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để giáo trình Nhập môn Ô tô được hoàn thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất cuẩ các doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai
Chân thành cảm ơn tập thể Khoa cơ khí Ô tô và giảng viên phản biện đã góp ý chân thành để nhóm biên soạn được hoàn thành giáo trình Nhập môn Ô tô
Thủ Đức, ngày tháng năm 2017
Tham gia biên soạn
Tiêu Hà Hồng Nhân
Trang 3
3
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC TỔNG QUÁT VỀ ÔTÔ 1
1.1 Phân loại ô tô theo nguồn động lực 2
1.2 Phân loại ô tô theo loại kiểu dáng 4
1.3 Phân loại theo kiểu truyền động 14
1.4 Các thông số chính của ôtô 19
1.5 Các công ty ôtô nổi tiếng và biểu tượng 20
CHƯƠNG 2 TÌM KIẾM THÔNG TIN VỀ Ô TÔ 145
2.1 Tìm kiếm thông tin qua mạng 147
2.2 Tìm kiếm thông tin qua sách chuyên ngành 150
2.3 Tìm kiếm thông tin qua các giáo trình điện tử 150
2.4 Tìm kiếm thông tin qua các tạp chí chuyên ngành 150
CHƯƠNG 3 CẤU TẠO TỔNG QUÁT VỀ Ô TÔ 151
3.1 Kiến thức tổng quan về động cơ 152
3.2 Kiến thức tổng quan về gầm ôtô 173
3.3 Kiến thức tổng quan về điện động cơ 189
CHƯƠNG 4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP Ô TÔ 208
4.1 Tình hình phát triển ô tô trên thế giới 209
4.2 Tình hình phát triển ô tô ở Việt nam 209
4.3 Tình hình xe gắn máy ở Việt Nam 211
CHƯƠNG 5: CÔNG VIỆC SAU KHI TỐT NGHIỆP 213
5.1 Công việc giảng dạy kỹ thuật: 214
5.2 Công việc ở các nhà máy sản xuất lắp ráp ôtô 214
5.3 Công việc ở các trạm bảo dưõng, sửa chữa 214
5.4 Công việc ở các trạm đăng kiểm 214
5.5 Công việc ở các cơ quan quản lý nhà nước 214
5.6 Công việc ở các lĩnh vực khác 214
Trang 44
GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN
Tên học phần: NHẬP MÔN Ô TÔ
Mã học phần: CST414120
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của học phần:
- Vị trí: Môn học Nhập môn Ô tô được thực hiện năm học đầu tiên Môn học này được bố trí
giảng dạy ở học kỳ I của khóa học và có thể bố trí dạy song song với các môn học như: Gầm
ô tô, động cơ xăng …
- Tính chất: Môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên các kiến thức tổng quan về kết cấu,
kiểu dáng, loại xe… trên ô tô Cách tìm kiếm thông tin của một chiếc xe, xác định nghề nghiệp cần phải làm sau khi tốt nghiệp
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: Sửa chữa và bảo dưỡng động cơ, gầm, điện,
đồng sơn là một công việc có tính thường xuyên, nặng nhọc và quan trọng đối với nghề sửa chữa ô tô, nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và duy trì tuổi thọ đáp ứng khả năng, yêu cầu vận hành của ô tô Công việc sửa chữa không chỉ cần những kiến thức cơ bản và kỹ năng sửa chữa cơ khí, mà nó còn đồi hỏi sự yêu nghề của người thợ sửa chữa ô tô Vì vậy công việc sửa chữa và bảo dưỡng động cơ, gầm, điện, đồng sơn đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng
và cần thiết để duy trì khả năng vận hành ô tô, vì thế người thợ cần cẩn trọng và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo hướng dẫn của hãng
Mục tiêu của học phần:
- Về kiến thức:
Nắm vững chắc cấu trúc và nguyên lý hoạt động tổng quan trên ô tô
Giải thích được các biểu tượng, logo của mỗi hãng xe khác nhau
Nắm vững phương pháp tìm kiếm thông tin trên ô tô
Trang 5Mục tiêu
Kiến thức:
- Phân biệt được các loại xe theo: hình dạng, kết cấu, chức năng, tải trọng
- Nhận dạng và định vị được các tổng thành, hệ thống chính trên ô tô, tra cứu được thông tin phương tiện
- Trình bày được nguyên lý cơ bản của các tổng thành chính trên ô tô
Kỹ năng:
- Quan sát, nhận biết nhanh
- Nhận diện, phân biệt được các tổng thành chính trên ô tô
Trang 62
1.1 Phân loại ô tô theo nguồn động lực:
1.1.1 Ô tô dùng động cơ xăng:
Động cơ dùng tia lửa để đốt cháy hỗn hợp hơi xăng và không khí Hơi xăng được hòa trộn với không khí trước khi đi vào xi lanh động cơ Điều này tạo ra hỗn hợp khí-xăng có khả năng cháy cao Sau đó hỗn hợp không khí – hơi xăng được nén lại và bốc cháy nhờ tia lửa điện ở bougie, tạo ra sự giãn nở nhiệt trong xi lanh sinh lực đẩy piston đi xuống Chuyển động tịnh tiến của piston được biến đổi thành chuyển động quay của trục khuỷu nhờ vào cơ cấu trục khuỷu –thanh truyền
Hình 2.1: Xe dùng động cơ xăng
1.1.2 Ô tô dùng động cơ diesel:
Khác với động cơ xăng, động cơ diesel nén không khí với tỉ số nén vào khoảng 22:1 Không khí được nén tới áp suất rat lớn nên nhiệt độ tăng cao (khoảng 538 oC),
Trang 73
lúc này, dầu diesel được phun vào xi lanh dưới áp suất cao sẽ tự bốc cháy, sinh công
và đẩy piston đi xuống
Hình 2.2: Động cơ diesel 1.1.3 Ô tô dùng động cơ điện:
Loại xe này sử dụng nguồn điện của accu để vận hành mô tơ điện Thay vì dùng nhiên liệu, chỉ cần nạp
điện cho accu mà thôi
Loại xe này mang lại
nhiều lợi ích như:
không gây ô nhiễm,
không tiếng ồn khi
hoat động…
Trang 84
Hình 2.3: Ô tô dùng động cơ điện 1:Bộ điều khiển công suất 2:Mô tơ điện
3:Accu
1.1.4 Ô tô dùng động cơ lai (Hybrid):
Loại xe này đƣợc trang bị đồng thời hai nguồn động lực khác nhau là động cơ đốt trong và mô tơ điện Do động cơ đốt trong dẫn động máy phát tạo điện năng nên không cần nguồn bên ngoài nạp điện cho accu Hệ thống dẫn động bánh xe dùng nguồn điện 270V – 550V, ngoài ra các thiết bị khác dùng nguồn 12V
Khi xuất phát hoặc chạy trong thnh phố, xe dùng động cơ điện cho ra moment xoắn cao mặc dù tốc độ thấp (đây chính là ƣu điểm của động cơ điện) Khi tăng tốc hoặc chạy trên xa lộ, xe sẽ dùng động cơ đốt trong vì động cơ loại này có hiệu suất cao hơn khi vận hành ở tốc độ lớn Bằng cách phân bố tối ƣu hai nguồn động lực nêu trên sẽ giúp giảm ô nhiễm do khí thải và nâng cao tính kinh tế nhiên liệu
Hình 2.4: Ô tô hybrid 1:Động cơ 2:Bộ đổi điện 3:Hộp số 4:Bộ chuyển đổi 5:Accu
1.2 Phân loại ô tô theo loại kiểu dáng:
1.2.1 Sedan (Anh) - Saloon (Mỹ):
Là loại xe mui kín 4 chỗ ngồi, chú trọng tiện nghi của hành khách và lái xe
Trang 9Hình 2.6: Mẫu xe coupé 1.2.3 Convertible:
Trang 106
Là các xe có mui tháo hoặc gấp lại được Mui có thể là loại hardroof (mui cứng), nhưng cũng có thể là loại phủ bạt hoặc da với gọng kim loại Hiện nay, người ta có xu thế ít coi convertible là một dòng xe riêng, nó được liệt vào dòng cabriolet
Hình 2.7: Mẫu xe Convertible
1.2.4 Cabriolet:
Là xe mui trần, nội thất sang trọng Loại xe này thường gặp ở các nước có khí hậu
ôn đới vì khí hậu ở đây không làm cho nội thất xe bị hư Các xe thường gặp: Alfa Romeo, Spider, Aston Martin DB7 Volante, Opel Astra Cabriolet, Volkswagen Polo Cabrio…
Hình 2.8: Mẫu xe Cabriolet
1.2.6 Lift back (Hatch back):
Về cơ bản loại nay gần giống như loại coupé nhưng khu vực danh cho người và hàng hoá được gắn liền nhau, cửa hậu và cửa sổ hậu mở ra cùng với nhau
Trang 117
Hình 2.10: Hatchback 1.2.7 Van và Wagon:
Loại này có không gian dành cho hành khách và hàng hoá liền nhau Nó chở được nhiều người hay hàng hoá Van chủ yếu chở hàng hoá còn Wagon chủ yếu chở người
Hình 2.11: Van và wagon
1.2.8 Pick up:
Đây là loại xe tải nhẹ có khoang động cơ kéo dài về phía trước của ghế lái xe và có khoang sau không mui để chứa hàng
Trang 128
Hình 2.12: Xe Pick up 1.2.9 SUV (Sport utility vehicle):
Hình 2.13: Loại xe SUV
Lịch sử dòng xe thể thao đa dụng SUV
Ra đời từ 1953, xe thể thao đa dụng SUV đạt cực thịnh vào những năm 1990 nhờ khả năng vượt địa hình hoàn hảo nhưng đang là gánh nặng của các hãng xe Mỹ
Nếu câu hỏi ai là người sáng tạo nên xe "cơ bắp" hay xe đa dụng (minivan) không bao giờ có câu trả lời chính xác thì với xe thể thao đa dụng SUV, mọi chuyện dễ dàng
hơn nhiều Theo New York Times, danh hiệu thuộc về International Harvester
Năm 1953, International Harvester, khi đó là nhà sản xuất máy cày và xe tải thương mại nổi tiếng, đã trình làng một mẫu mang tên Travelall có thiết kế dựa trên hai dòng wagon và bán tải Trước đó hơn 20 năm, Chevrolet đã trình làng Suburban có vóc dáng tương tự nhưng đáng tiếc nó không có hệ dẫn động 4 bánh, một trong những đặc trưng cơ bản của dòng SUV Mãi đến 1960, Suburban mới trang bị hệ dẫn động này
Trang 139
trong khi Travelall đã có từ 1956 Một ứng cử viên khác cho danh hiệu "xe SUV đầu tiên trên thế giới" là Town Wagon của Dodge nhưng bản dẫn động 4 bánh lại xuất hiện một năm sau Travelall Thế nhưng, không may cho International là hãng này có quá ít hậu thuẫn về kỹ thuật và thương mại Vào lúc phải trang bị thêm để có thể bán cho các gia đình ngoại thành, International đã quyết định tập trung vào dòng xe thương mại mà bỏ quên Travelall Trong lúc đó, những ông lớn như Chevrolet, Dodge và Jeep vẫn tiếp tục với SUV và dĩ nhiên, đã thu lợi lớn khi nước Mỹ bùng nổ làn sóng đi xe to
Travelall thế hệ đầu tiên
Lịch sử của Travelall đến nay ít được nhắc tới bởi ngay cả quyết định khai sinh ra nó cũng rất mơ hồ Theo Dee Kapur, Tổng giám đốc International Truck Group tại Navistar, không ai biết nguyên nhân tại sao và làm thế nào dự án Travelall được phê chuẩn Bởi vào thời điểm đó, không một cuộc nghiên cứu thị trường nào được thực hiện dù Travelall khác xa những gì hãng này đang sản xuất Tất cả chỉ dựa vào linh cảm
Trang 14xe con Và thực sự, nó đã thành công và bán tốt trong suốt 22 năm kể từ 1953 đến
1975 Travelall chỉ được thiết kế lại một lần đáng kể vào 1969 Ban đầu, Travelall có
2 cửa Đến giai đoạn 1957-1961, nó được tăng thêm một cửa nữa và sau đó ít lâu hoàn chỉnh thành mẫu xe 4 cửa Một trong những dấu ấn đậm nhất về Travelall là nhiếp ảnh gia nổi tiếng Ansel Adams sử dụng một chiếc để đi khắp nước Mỹ Những bức ảnh phong cảnh nổi tiếng được chụp từ nóc Travelall mà ông đề nghị độ thêm Cuộc đời đoản mệnh của Travelall và do xuất xứ từ một hãng ít tên tuổi nên nó ít xuất hiện trong các tài liệu xe hơi Thậm chí các nhà sưu tập xe cổ gần như không còn giữ lại một chiếc Travelall nào Từ rất lâu, mỗi khi nói về SUV là khách hàng liên tưởng ngay tới những sản phẩm của Jeep, Chevrolet hay Land Rover
Trang 1511
Land Rover Range Rover Supercharged
Tuy nhiên, một chi tiết thú vị là cái tên SUV, viết tắt từ "Sport Utility Vehicle", lại do Toyota phát minh chứ không phải những hãng có truyền thống như Chevrolet hay Jeep Ở Mỹ, khách hàng thích gọi là "dẫn động 4 bánh" hoặc "4x4"
Sau hơn 10 năm im ắng, SUV bắt đầu thời cực thịnh của mình vào những năm 1990
Nó nhanh chóng trở nên phổ biến ở những nước rộng lớn và địa hình hiểm trở như
Mỹ, Canada hay Australia Lợi thế của SUV là gầm cao, khả năng vượt địa hình tốt
và an toàn cho hành khách
Để thỏa mãn khách hàng, các hãng xe Mỹ đã liên tiếp cho ra đời các thế hệ SUV với động cơ to và khỏe hơn Và đây là điểm yếu căn bản khiến General Motors, Ford hay Chrysler thất bại trước các hãng xe Nhật khi mà giá xăng ngày càng lên cao vào đầu những năm 2000
Trang 16Nguyên nhân đơn giản là yêu cầu đa dạng hóa sản phẩm khiến các nhà sản xuất có hai phiên bản một cầu hoặc hai cầu trên cùng một mẫu xe vẫn được gọi là SUV
Vì thế, thể thao đa dụng giờ chỉ còn giữ lại phần cơ bản là những chiếc có khung gầm dựa trên xe tải hạng nhẹ, khoảng sáng gầm xe lớn và vào thời điểm này, chỉ còn Hummer, Land Rover và Jeep là những đại diện tiêu biểu nhất
1.2.10 Crossover
Mới xuất hiện trong 10 năm trở lại đây nhưng crossover đã nhanh chóng chiếm được tình cảm của thị trường nhờ cấy ghép sức mạnh dòng xe thể thao đa dụng (SUV) với vẻ đẹp sedan Ở Việt Nam, Porsche Cayenne, Nissan Murano, Lexus
RX, BMW X5 là những ví dụ điển hình nhất
Trang 1713
Murano - mẫu crossover của Nissan rất được
chuộng tại Việt Nam
Đa số những người lần đầu tiên gặp gỡ, và kể cả nhiều lần sau nữa vẫn giữ cảm giác mới lạ và hấp dẫn trước sự xuất hiện của Nissan Murano, Lexus RX, Infiniti FX hay BMW X5 trên đường phố Việt Nam Uyển chuyển, mạnh mẽ và đầm chắc là nhận xét chung nhất mà mọi người dành cho dòng xe non trẻ này Nhưng đối với giới hâm mộ
xe thể thao đa dụng truyền thống (còn gọi là xe địa hình) thì crossover ra đời giống như sự lai tạp không đáng có Họ tôn thờ nét cứng cáp, góc cạnh, phong trần của Jeep hay Land Rover hơn là vẻ "nữ tính" của những chiếc xe lai
Tuy nhiên, trước trào lưu thiết kế "cong hóa" trong những năm gần đây, crossover nhận được sự đồng tình của khách hàng và đặc biệt là người Mỹ Trong 5 năm, số mẫu crossover tại đây tăng từ 14 lên 41, gấp gần 3 lần và doanh số tăng từ 541.000 lên 2,24 triệu Trong khi đó, SUV giảm từ 2,98 triệu xuống 2,45 triệu xe Những ưu điểm nổi bật của crossover là an toàn, dễ lái và tiết kiệm nhiên liệu Bên cạnh đó, giá
cả cũng là lợi thế của dòng xe này do nó chủ yếu dựa trên khung sườn của các dòng
xe du lịch hạng nhỏ
Cho đến nay, không phải ai cũng đồng ý với khái niệm “crossover” Theo họ, crossover là từ “vô định hình” và nó liên quan tới mọi thứ, từ những chiếc wagon của Audi tới Porsche Cayenne Sự ra đời của nó cũng không làm hài lòng các nhà sản xuất Hoa Kỳ Do không thể cạnh tranh với nhóm 3 ông lớn (Big Three) của Mỹ trong phân khúc xe SUV nên các hãng xe Nhật Bản đã mượn thiết kế của dòng xe du lịch, ghép với SUV để sáng tạo nên “crossover”
Trang 1814
Lần đầu tiên thuật ngữ “crossover” được đặt cho chiếc RAV4 của Toyota năm 1995 Nhưng sau đó, Honda mới là hãng có cú “huých” vào thị trường Nhật Bản với mẫu CR-V có khung sườn lấy từ Honda Civic Tại Mỹ, phản ứng của thị trường trước sự xuất hiện của crossover làm sửng sốt hầu hết các nhà sản xuất, đặc biệt là 3 ông lớn ngự tại Detroit gồm Ford, Chrysler và General Motors Thủ phủ ngành công nghiệp
Mỹ đã miễn cưỡng phải thay đổi tư duy về SUV và bắt đầu “mặn mà” với crossover Hiện tại, Honda là hãng dẫn đầu phân khúc crossover ở Mỹ với doanh số 365.000 chiếc Tuy bước chân vào thị trường chậm hơn nhưng GM cũng đạt được thành tựu đáng kể với vị trí thứ 2, Ford thứ 3 còn Toyota xếp thứ 3 Doanh số của 3 công ty Mỹ tăng 30% trong năm nay Với những bước tiến quan trọng trong thời gian gầy đây, các chuyên gia cho rằng crossover sẽ dần tiếm ngôi SUV, cho dù nó không tạo nên
"cơn sốt" trên thị trường như SUV đã từng có
1.2.10 MPV (Multi purpose vehicle): Xe đa dụng, có thể vừa chở hàng vừa chở
người
Hình 2.14: Loại xe MPV
1.3 Phân loại theo kiểu truyền động:
1.3.1.Loại cầu trước chủ động (Hình A):
Ở xe loại này động cơ được đặt ở phía trước và cầu trước là cầu dẫn động
Trang 19
15
Hình 2.15: Loại cầu trước và cầu sau chủ động
1.3.1 Loại cầu sau chủ động (Hình B):
Ở loại này động cơ đặt ở phía trước và xe được dẫn động bằng cầu sau
1.3.2 Loại truyền động 4 bánh - 4WD:
Loại này xe được dẫn động thường xuyên bằng cả 2 cầu, do vậy, xe loại này có công suất kéo tốt hơn loại xe thường vì tận dụng được khả năng bám tốt hơn
Hình 2.16: Loại 4WD
Ưu nhược điểm của các hệ dẫn động
Mỗi hệ dẫn động cầu trước, cầu sau, 4 bánh và toàn bộ các bánh có ưu và nhược điểm riêng Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và tùy vào từng loại xe mà các hãng
có cách áp dụng thích hợp Chẳng hạn xe địa hình thường là dẫn động 4 bánh còn sedan đa số sử dụng hệ dẫn động cầu trước
Động cơ sinh ra công suất và mô-men xoắn Để truyền năng lượng tới các bánh khiến chúng quay, chiếc xe của bạn cần phải có cơ cấu dẫn động Tuy nhiên, không phải tất
cả các bánh đều trực tiếp nhận công suất và mô-men xoắn từ động cơ Tùy thuộc yêu
Trang 2016
cầu kỹ thuật giữa các loại xe và tại từng thời điềm mà người ta có những phương pháp truyền động khác nhau
Sơ đồ hệ dẫn động 4 bánh của Hummer
Một cách tổng quát nhất, hiện có 4 cơ cấu dẫn động gồm AWD (all-wheel drive) tức
là hệ dẫn động tất cả các bánh; 4WD (four-wheel drive) để chỉ xe dẫn động 4 bánh; RWD (rear-wheel drive) là hệ dẫn động cầu sau và cuối cùng là FWD (front-wheel drive) - dẫn động cầu trước Bánh nào trực tiếp nhận công suất và mô-men xoắn được gọi là bánh dẫn động
Dẫn động cầu trước FWD
Gần như tất cả các xe ngày nay đều sử dụng hệ dẫn động cầu trước Những năm đầu thế kỷ 20, kiểu FWD thuộc loại "hiếm có khó tìm" nhưng giờ đây, nó được trang bị trên khoảng 70% số xe mới xuất xưởng Như vậy, rõ ràng đã có một cuộc dịch chuyển ngoạn mục trong ngành công nghiệp ôtô khi từ hệ dẫn động cầu sau chuyển hết sang dẫn động cầu trước
Nguyên nhân chính nằm ở chỗ các xe hiện đại đều có động cơ đặt trước thay vì đặt sau như trước kia Vì vậy, để loại bỏ cơ cấu truyền động từ trước ra sau vốn "lằng nhằng" và tiêu hao nhiều năng lượng, truyền công suất tới ngay bánh trước là giải pháp khả thi nhất Ngoài ra, áp dụng FWD đồng nghĩa với việc các nhà sản xuất có thể giảm bớt các chi tiết, hạ thấp chi phí Đồng thời, khối lượng xe giảm đi cũng khiến nó "ăn" ít xăng hơn
Trang 2117
Ưu điểm quan trọng nữa của hệ dẫn động FWD là do động cơ đặt phía trên trục trước nên trọng lượng của nó được truyền thẳng xuống bánh dẫn động khiến độ bám đường tăng lên, giúp xe hoạt động tốt ở các mặt đường trơn trượt
Ngoài những ưu điểm trên, FWD còn có nhược điểm liên quan tới tính năng của xe Đầu tiên, trong trường hợp phân bố trọng lượng tập trung xuống phía sau, hệ dẫn động cầu trước rất khó tăng tốc và luôn thất thế trên các đoạn đường thẳng Điều khiển các xe sử dụng FWD rất dễ bị hiện tượng "oversteer", tức bánh sau bị trượt và không còn ma sát Nhược điểm cuối cùng là dù FWD hết sức thực tế nhưng thiết kế của chúng lại mâu thuẫn với tính năng vận hành của xe Tại sao xe của bạn đi bằng 4 bánh nhưng lại đặt tất cả nhiệm vụ định hướng, phanh và tăng tốc lên hai bánh trước?
Hệ dẫn động cầu sau RWD
Rõ ràng hai kiểu FWD và RWD có những ưu nhược điểm trái ngược nhau Với RWD, xe tăng tốc tốt hơn Hai bánh trước được giải thoát khỏi nhiệm vụ dẫn động và chỉ tập trung vào việc dẫn hướng (bánh lái) Tuy nhiên, ưu điểm này không làm RWD trội hơn so với FWD Thời kỳ đầu, sử dụng RWD xe phải có trục truyền động và một
bộ vi sai để truyền công suất từ động cơ xuống trục sau Thiết bị này làm tăng giá thành sản xuất và cùng với đó, trọng lượng xe tăng lên Vì vậy, RWD thực tế là không hiệu quả hơn FWD Ngoài ra, khi đi xe dẫn động cầu sau mà không có hệ thống kiểm soát độ bám đường, tài xế rất dễ mất lái ở các đoạn đường trơn trượt hay mắc kẹt xuống rãnh, mương, ổ gà
Dẫn động 4 bánh (4WD) và toàn bộ các bánh (AWD)
Hai hệ dẫn động giới thiệu ở trên chỉ sử dụng một nửa số bánh để dẫn động Và tất nhiên, sẽ có người đặt ra câu hỏi tại sao không sử dụng cả 4 bánh Đáp lại, ngành công nghiệp ôtô có câu trả lời rất sớm khi mà hãng xe nước Đức Spyker trình làng hệ thống dẫn động 4 bánh toàn thời gian (full-time) từ năm 1903 tại triển lãm xe hơi Paris
Trước hết, cần phải nói rõ rằng tại sao lại có sự khác biệt giữa dẫn động bánh 4WD
và dẫn động tất cả các bánh AWD Thuật ngữ 4WD hình thành trên cơ sở dùng để chỉ
Trang 2218
kiểu dẫn động 4 bánh thời kỳ đầu của hãng xe địa hình Jeep và xe tải Nó ám chỉ các
xe có chế độ chọn dẫn động 2 bánh hoặc 4 bánh bằng công tắc gắn trong xe
Trên các mẫu xe sử dụng 4WD thường có chế độ "low - thấp" và "high - cao" Khi chọn "low", hệ truyền động cấp nhiều mô-men xoắn hơn để đi trên các đoạn đường
gồ ghề hay trèo đèo Còn chế độ "high" sử dụng trên các đoạn đường trơn trượt 4WD còn sử dụng bộ khoá vi sai trung tâm nhằm tránh những chênh lệch không cần thiết giữa bánh bên trái và bên phải khi đi trên địa hình không bằng phẳng
AWD dùng để chỉ các xe dẫn động 4 bánh tại mọi thời điểm và không có chế độ
"low" hay "high" Trong khi khái niệm 4WD chủ yếu dùng cho xe thể thao đa dụng SUV, liên quan tới khả năng vượt địa hình thì AWD lại quen thuộc với các xe sedan, wagon, đa dụng minivan AWD có ý nghĩa giúp cải thiện độ bám đường trong điều kiện thời tiết xấu Một vài mẫu xe như Lexus RX330 là ví dụ điển hình, mặc dù chúng là xe SUV nhưng lại sử dụng AWD thay vì 4WD Vì thế, người ta gọi kiểu xe
là "crossover"
Chữ "all - tất cả" trong từ All Wheel Drive có một chút mâu thuẫn và dễ gây hiểu lầm khi mà hiện nay hầu hết các xe AWD có khả năng phân bổ toàn bộ công suất xuống bánh sau khi phát hiện bánh trước bị trượt Những chiếc Subaru hay Chrysler có thể
đi trên đường trơn trượt một cách thoải mái vì chúng có thể chuyển công suất từ bánh trượt (mất độ bám đường) sang bánh không bị trượt
Với những khả năng như vậy 4WD hay AWD dường như là hệ dẫn động tốt nhất Nhưng thực tế lại không hoàn toàn chính xác Cả hai đều có trọng lượng tăng lên đáng kể, thiết kế phức tạp và giá thành cao Chúng còn làm tăng mức tiêu hao nhiên liệu bởi tăng sức cản gió do cồng kềnh Đến một lúc nào đó, khi bộ kiểm soát độ bám đường trở nên phổ biến hơn trên các xe RWD hay FWD, 4WD và AWD sẽ trở thành
dĩ vãng
Với tất cả các ưu nhược điểm trên, không thể có hệ dẫn động tốt nhất trong tất cả các
hệ quy chiếu Vì vậy, bạn hãy chọn cho mình một chiếc xe có chế độ hợp lý, tuỳ thuộc vào điều kiện, công việc và sở thích của mình
Trang 2319
1.4 Các thông số chính của ôtô:
Hình 2.17 Các thông số hình học của ô tô
A: Chiều dài tổng thể (Overall length, total length)
B: Chiều rộng xe (Vehicle width)
C: Chiều cao xe (Vehicle height)
D: Phần nhô phía trước tính từ tâm bánh xe trước (Front overhang)
E: Chiều dài cơ sở, khoảng cách giữa hai cầu xe (Wheel Base)
F: Phần nhô ra phía sau tính từ tâm bánh xe sau (Rear overhang)
G: Khoảng cách từ mặt đất đến sàn xe (Ground clearance)
H , I: Chiều rộng cơ sở, khoảng cách giữa hai bánh xe chung cầu xe (Track, tread, track width, tread width, wheel track, wheel tread)
H: Chiều rộng cơ sở hai bánh phía trước (Front track, Track front)
I: Chiều rộng cơ sở hai bánh phía sau( Rear track, Track rear)
J: Góc tiến (Approach angle, Angle of incidence)
K: Góc phần nhô ra ở phía sau (Departure angle, Rear overhang angle)
L: Chiều cao có tải (Loading height)
M: Chiều dài của thùng xe (Chassis frame length)
N: Chiều cao của thùng chở hàng hoá (Cargo body height)
O: Chiều rộng bên trong thùng chở hàng hoá (Interior cargo body width)
P: Chiều rộng thùng chở hàng hoá( Cargo body width)
R: Chiều dài bên trong thùng chở hàng hoá (Interior cargo body length)
Trang 2420
1.5 Các công ty ôtô nổi tiếng và biểu tượng:
1.5.1 FORD MOTOR COMPANY
a.Vài nét về Ford Motor Company
-Vào ngày 16/6/1903, với ý tưởng vĩ đại là sản xuất xe hơi cho mọi người, Henry Ford đã cùng với các cộng sự đã lặng lẽ khai trương Công ty ô tô Ford ở Mỹ Từ đó đến nay, Ford không ngừng lớn mạnh và trở thành tập đoàn sản xuất ô tô lớn tren thế giới 1922, Ford Motor Company đã mua lại công ty Lincoln với giá 8 triệu USD Lincoln là hãng xe được đặt theo tên của tổng thống Mỹ Lincoln, chỉ sản xuất vài dòng xe rất sang trọng, được cải tiến mỗi năm
-Công ty ôtô Ford tiếp tục mở rộng phát triển trên toàn thế giới Năm 1925, công ty
mở nhà máy lắp ráp Koyasu tại thành phố Yokohama, Nhật Bản 1990 Ford Motor Company mua lại công ty Jaguar (Anh) 1993 Aston Martin trở thành công ty thuộc quyền sở hữu của hãng Aston Martin là biểu tượng của dòng xe trang nhã, những xe thể thao có công suất lớn, được sản xuất bởi các thợ lành nghề Trong hơn 85 năm tồn tại, chỉ có khoảng 16.000 chiếc được sản xuất và ¾ vẫn còn được sử dụng.1999 Volvo trở thành thành viên của tập đoàn Ford Motor Company Năm 2000, Ford Motor Company mua lại tập đoàn Land Rover từ tay BMW 2001 Ford Motor Company sở hữu 33,4% cổ phiếu của hãng Mazda và giữ quyền kiểm soát công ty này
-Ford không chỉ là động lực thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất ô tô trên thế giới phát triển mà còn góp phần rất lớn cho sự phát triển của xã hội nhờ các ý tưởng đột phá như sản xuất ô tô hàng loạt hoặc qui định mức lương tối thiểu vào thời bấy giờ
Đi lên vững mạnh từ suốt hơn 100 năm qua, Ford Motor Company trở thành huyền thoại của nước Mỹ
Hiện nay Ford là tập đoàn đứng thứ ba trên thế giới về san xuất ô tô, có mặt trên hơn 200 thị trường ở khắp các châu lục Sở hữu nguồn tài chính vững mạnh, nguồn nhân lực xuất chúng và chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ xuất sắc Tập đoàn Ford Motor là một trong những công ty được kính trọng nhất, ngưỡng mộ và tin cậy nhất thế giới
Trang 2521
b.Biểu tượng:
Năm 2003, Ford Motor kỷ niệm 100 năm thành lập nhưng logo của hãng hiện nay mới chỉ có hơn 30 năm tuổi Trong lịch sử phát triển, Ford đã không ít lần thay đổi logo Năm 1903, thương hiệu “Ford Motor Company” được dùng trong các giao dịch thương mại đầu tiên, nhưng khi bắt đầu sản xuất hàng loạt những chiếc xe Model A, trợ lý của Henry Ford đã có những cải tiến đặc biệt để biến tên công ty trở thành biểu tượng của hãng bằng cách bao quanh nó một đường viền hết sức độc đáo và cực kỳ thời trang vào lúc đó
Logo của Ford năm 1903
Trải qua những bước phát triển ban đầu, Henry Ford nhận thấy cần phải có những thay đổi trong thiết kế logo sao cho đơn giản, ưa nhìn và ấn tượng Cũng rất tâm linh, logo đó phải thể hiện bước tiến vượt bậc của Ford Motor trong tương lai Năm 1906, logo với tên Ford viết nghiêng 45o được cách điệu ở chữ F và chữ D sao cho mềm mại, bay bổng, thể hiện sự tinh tế và ước muốn vươn cao, vươn xa hơn nữa của Henry Ford được trình làng và đăng ký bản quyền tại văn phòng phát minh sáng chế Mỹ năm 1909
Bên cạnh logo đã được đăng ký tại Mỹ, biểu tượng Ford hình oval lần đầu tiên được giới thiệu tại Anh vào năm 1907 do các đại lý Perry, Thornton và Schreiber - người đưa Ford đặt chân vào nước Anh - thiết kế với mục đích quảng cáo cho các sản phẩm của Ford như là “dấu chứng nhận cho lòng tin và sự tiết kiệm ”
Trang 2622
Logo Ford 1912
Năm 1911, Ford đưa ra logo hình oval quyết định và sử dụng nó để thống nhất các nhà buôn tại Anh Tuy nhiên trên các sản phẩm và trong các giao dịch thương mại, Ford vẫn dùng logo đầu tiên cho đến những năm 1920 Năm 1912, chỉ trong một thời gian ngắn, Ford đã loại bỏ toàn bộ những logo hình oval và thay vào đó là logo cánh chim hình tam giác trên các sản phẩm của mình Logo này được thiết kế để thể hiện cho tốc độ, sự nhẹ nhàng, vẻ duyên dáng và sự ổn định Logo có hai màu, vàng và xanh đen, trên đó mang dòng chữ “Universal Car” Henry Ford không thích biểu tượng này, và cũng chỉ trong một thời gian ngắn, người ta không còn thấy nó trên các sản phẩm của Ford
Logo Ford 1928
Năm 1927, người ta thấy một logo hình oval mang tên Ford xuất hiện trên lưới tản nhiệt của mẫu Model A mới với nền màu xanh hoàng gia thẫm tương tự với logo ngày nay của Ford Logo này được sử dụng trong hầu hết các mẫu xe cho đến cuối những năm 1950 Được sử dụng một cách thống nhất trong toàn bộ các giao dịch thương mại, đến giữa những năm 1970 ý tưởng về logo hình oval này mới được thiết
kế lại
Trang 2723
Năm 1976, logo Ford hình oval với hai gam màu xanh và bạc được sử dụng như là dấu hiệu để chứng nhận thương hiệu của Ford Motor Company Nó dễ dàng trở nên phổ biến và thích nghi với tất cả các nhà máy sản xuất của Ford trên toàn thế giới
Logo hiện nay của Ford
Logo mới gồm hai hình elip đồng tâm có tỷ lệ trục dài trên rộng là 2,55 phù hợp với kích cỡ của chữ Ford với tỷ lệ 2,3 Toàn bộ logo được in nổi tượng trưng cho sự mạnh mẽ và thịnh vượng Hình oval ngoài cùng còn được đánh bóng màu bạc ánh kim, tượng trưng cho công nghệ vượt bậc của những sản phẩm mang thương hiệu Ford Và dĩ nhiên chúng ta không thể bỏ qua gam màu xanh xuyên suốt 100 năm tồn tại, phát triển, đó là màu tượng trưng cho sự thân thiện, trường tồn và luôn quan tâm đến người tiêu dùng của Ford Motor Company
c.Các sản phẩm tiêu biểu:
Ford Fiesta Thể thao, hiện đại và thông minh Đó là những gì mọi người sẽ nói về chiếc xe của bạn! Với tính năng tiết kiệm nhiên liệu hàng đầu, chỉ 5.9 l/100km, thiết kế mô phỏng dòng chảy năng lượng thuần khiết và những công nghệ kỹ thuật vốn chỉ có ở những dòng xe cao cấp, Fiesta hoàn toàn mới sẽ là một lựa chọn đúng đắn cho bạn
Trang 28Tuy nhiên điều đó mới chỉ là sự khởi đầu Hãy cùng khám phá sâu hơn bốn lý do chính khiến Ford Fiesta là lựa chọn sáng suốt của bạn
Tiết kiệm nhiên liệu
Bạn sẽ tốn ít thời gian ở những trạm xăng và có nhiều thời gian hơn để đến nơi bạn muốn Với tính năng tiết kiêm nhiên liệu tối ưu, Fiesta hoàn toàn mới không chỉ giúp bạn tiết kiệm tiền xăng mà còn thân thiện hơn với môi trường
Nhưng điều đó không có nghĩa là Fiesta thỏa hiệp với tính năng vận hành của xe Dù bạn đang len lỏi trên những con đường đông đúc, hay đang lướt đi trên những con đường cao tốc, Bạn sẽ yêu thích khả năng phản ứng nhanh của Fiesta trong mọi điều kiện
Trang 2925
Với động cơ 1.6l Ti – VCT và hộp số 6 cấp ly hợp kép ấn tượng, cho phép tăng tốc nhanh nhất và tiết kiệm nhiên liệu hiệu quả nhất so với các dòng xe cùng loại, chỉ 5.9l/100 km, chắc chắn bạn sẽ thích lái chiếc Fiesta hoàn toàn mới này
Hãy gây ấn tượng bạn bè và gia đình về khả năng tăng tốc và chế độ khởi động giữa dốc hoàn hảo của Fiesta Công nghệ hộp số tự động 6 cấp ly hợp kép hiện đại duy nhất có ở Ford trong phân khúc xe hạng nhỏ cùng với các công nghệ tiên tiến khác cho bạn cảm giác lái chính xác, nhanh nhạy và êm ái
Khởi hành hoàn hảo ngay cả khi ở giữa dốc: Quên đi những lần xuất phát khó chịu từ một điểm đỗ trên đồi Với Hệ thống Hỗ Trợ Khởi Hành leo dốc của hộp số Powershift, chiếc xe sẽ xác định độ dốc và giữ áp lực phanh, cho bạn có đủ thời gian chuyển từ chân phanh sang chân ga để tăng tốc Do đó sẽ không bị giật lùi và
khởi động giật khục nữa
Sự chuyển số nhẹ nhàng cho bạn một chuyến đi êm ái và tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn: Hộp số 6 cấp Powershift của Fiesta là sự kết hợp tuyệt vời của hai loại hộp số: số tự động và số sàn Nó phát huy được hết những tính năng ưu việt, đồng thời loại bỏ được những hạn chế của hai loại hộp số này Với Fiesta, bạn sẽ được thưởng thức sự tiện dụng của hộp số tự động tính năng tiết kiệm nhiên liệu và khả năng phản ứng nhanh của số sàn.Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là tất cả
Với hộp số tự động, các kỹ sư thiết kế của Ford đã giữ nguyên lý của hai bộ ly hợp bên trong (Tính năng này cho phép số sẽ tự động chuyển mà không cần tác động lên bàn đạp ly hợp) Khi Côn thứ nhất phụ trách số 1, 3 và 5, côn thứ hai sẽ phụ trách số
2, 4 và 6
Hệ thống kiểm soát hộp số điên tử kết hợp hài hòa động cơ và hộp số của xe để đảm bảo rằng động cơ luôn ở khoảng chế độ vận hành hiệu quả nhất, thậm chí là khi sang
số, cho việc lái xe trở nên êm ái hơn
Không còn phải thay dầu hộp số Không cần phải lo lắng: Hộp số PowerShift của Fiesta là sử dụng bộ ly hợp kép, khô Bởi vậy bạn sẽ không cần dầu, nước làm mát và những chất khác như ở những hộp số tự động thông thường Nó vừa giúp tối ưu hóa việc tiết kiệm nhiên liệu, dễ dàng cho việc bảo dưỡng, giảm sai xót
cũng và chi phí vận hành thấp hơn
Kết nối thông minh: Bạn cần điện thoại cho mẹ? Hãy yêu cầu và Fiesta sẽ giúp bạn kết nối ngay lập tức Bạn muốn nghe lại một bản
Trang 30Màn hình lớn, Bluetooth và Hệ thống Điều khiển bằng giọng nói giúp bạn luôn kết nối với điện thoại di động, máy nghe nhạc MP3, radio và CD Nhờ đó, bạn hoàn toàn kiểm soát sự tiện nghi thoải mái, cuộc sống xã hội và sự an toàn của bạn
Gọi điện cho ban bè, tìm kiếm một số điện thoại trong danh bạ, đổi tần số nghe đài, phát những bản nhạc yêu thích nhƣng tay bạn vẫn đặt an toàn trên vô lăng? Tất cả công việc bạn phải làm là yêu cầu Fiesta
Escape Microsite
Thông số kỹ thuật
Trang 3127
Ford GT
Mondeo
Động cơ 5,4 L V8 32 van DOHC
Điện động cơ EEV-V
Công suất cực đại 550 mã lực tại số vòng quay 6500vòng/phút
Tỉ số nén 8,4:1
Hệ thống nhiên liệu EFI
Hộp số Số tay 6 tốc độ
Trang 3228
Bố trí xi lanh 4 xi lanh thẳng
hàng
V6
Công suất cực đại 105 kW tại 6000 v/p 127 kW tại 6100 v/p
Moment xoắn cực đại 185 Nm tại 4500 v/p 226 Nm tại 4100 v/p
Hộp số 4 số tự động 5 số tự động kết hợp với sang số
tay
Focus
Động cơ Duratec 20-2,0 l, 4 xi lanh thẳng hàng
Điện động cơ EEV
Dung tích xi lanh 2,0 lít
Công suất cực đại 136 mã lực tại 6000v/p
Tỉ số nén 10:1
Trang 3329
TRANSIT
Dung tích xi lanh 2.3 L thẳng hàng 2.4 L thẳng hàng
Công suất cực đại 107 kW tại 5500 v/p 88 kW tại 4000 v/p
Moment xoắn cực đại 200 Nm tại 2500 v/p 240 Nm tại 1800 v/p
Phân phối nhiênliệu Phun đa điểm liên tục
Kinh tế nhiên liệu Thành phố: 26l/100km Xa lộ:
35l/100km
Hộp số Số tay 5 tốc độ
Hệ thống thải Đơn, thép không rỉ, sử dụng bộ
catalytic
Trang 34-Đáp ứng theo yêu cầu của Hitler, Porsche thiết kế một chiếc xe cầu sau chủ động
có động cơ 4 xi lanh được làm mát bằng không khí Sở dĩ làm mát động cơ bằng không khí vì nhà độc tài này nghĩ là vương quốc của mình sẽ sớm mở rộng sang đến tận sa mạc Châu Phi Chiếc xe không chỉ có những đặc trưng riêng biệt mà nó được thiết kế với độ tin cậy, tính kinh tế và sự thoải mái cao Ngày nay đó chính là chiếc Beetle hay như cách người Mĩ hay gọi là Bug
-1941 một nha máy rất lớn được xây dựng Khi chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, các
xe của Volkswagen được dùng cho mục đích quân sự tại chiến trường sa mạc Bắc Phi
-Sau chiến tranh, khu vực mà nhà máy tọa lạc nằm dưới sự kiểm soat của Anh quốc Người Anh không thích sản xuất ô tô tại nước họ n6n đã giúp đỡ Volkswagen xây dựng lại nhà máy và đổi tên là Wolfsburg Ngày nay, Wolfsburg vẫn là đại bản doanh của Volkswagen đồng thời là nhà máy sản xuat ô tô lớn nhất thế giới
-Doanh số bán ra của Volkswagen trong suốt thập niên 90 đạt mức 21.000.000 chiếc phá vỡ kỉ lục 15.000.000 chiếc do chiếc Fod GT lập nên
Từ khi xuất hiện lần đầu tiên cách đây 25 năm, Golf (hoặc là Rabit) là mẫu xe bán chạy nhất Châu Âu với 4 thế hệ được giới thiệu
-Xuyên suốt lịch sử của công ty, Volkswagen vẫn là công ty sản xuất ô tô lớn nhất nước Đức với thành viên chỉ có Audi Từ những năm 80, Volkswagen bắt đầu quốc tế hoá khi mua Seat (80), Skoda(đầu những năm 90) Năm 1998, Volkswagen có thêm 3 thành viên mới đó là Lamborghini, Bugatti và Bentley
-Các công ty trực thuộc VW: Audi, Seat, Skoda, Bentley, Lamborghini, Bugatti
b Logo:
Trang 3531
c Sản phẩm:
-Mặc dù là nhà sản xuất ô tô lớn nhì nước Đức, nhưng Audi không sản xuất xe với
số lượng lớn mà chú trọng tới sản xuất ô tô sang trọng với số lượng có hạn mà thôi Mục tiêu hiện nay của Audi chính là Mercedes, dù vẫn chưa vượt qua được Mercedes
ở dòng xe gia đình nhưng Audi lại rất thành công trong thiết kế kiểu dáng và tính năng thể thao Điều này tạo ra lợi thế cho Audi trong cạnh tranh với BMW và Jaguar
Trang 3632
-Thế mạnh của Audi chính là chất lượng, ở điểm này Audi hơn hẳn BMW và Mercedes Còn kĩ thuật thì không hẳn là Audi thua kém BMW và Mercedes như người ta thường nói
b Biểu tượng:
Có thể ít nổi tiếng hơn, nhưng bên cạnh biểu tượng của BMW và Benz, logo Audi với 4 vòng tròn đan vào nhau cũng là dấu hiệu chứng tỏ sự sang trọng và chất lượng hàng đầu mà bất cứ chủ xe nào cũng muốn có
Mercedes-Nước Đức cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, dân gian truyền tụng về một người thợ làm bánh vô danh, ngụ tại thành phố Munich, bỗng trở thành “nhà thiết kế” chính biểu tượng của hầu hết các hãng xe hơi Thoạt đầu, anh ta lấy một chiếc bánh, chia thành 3 phần đều nhau và gửi cho Mercedes làm logo Một chiếc bánh khác được chia đều thành 4 phần dành cho BMW Đến lượt Volkswagen, bí quá, người thợ
“chém bừa” lên đó mấy nét, thành hình hai chữ V ngoắc vào nhau Không hài lòng lắm nhưng Volkswagen cũng mang nó về
Khi tới lượt 4 ông chủ của Audi đến và yêu cầu người thợ bánh thiết kế logo cho họ, anh ta thực sự bối rối Chẳng còn ý tưởng gì để thực hiện trên chiếc bánh bé tí teo nữa Nhưng trong lúc bày bánh ra đĩa mời khách, đến chiếc thứ tư, anh ta liền nảy ra ý: lấy 4 chiếc bánh tượng trưng cho 4 công ty thành lập nên Audi Và bởi không muốn làm mếch lòng bất cứ ai trong số những vị khách sang trọng ngoài kia, một cách bình đẳng, anh ta đặt chúng thành hàng ngang, tuy hơi tốn diện tích Lúc đĩa bánh cùng ý tưởng về logo của hãng được đặt lên bàn, 4 ông chủ nhìn nhau và cười Đây chỉ là câu chuyện mà dân mê xe hơi nghĩ ra để lý giải về sự gặp gỡ tình cờ trong thiết kế logo của các hãng xe hơi Đức mà Audi là một trong số đó Tuy còn ít được biết đến ở Việt Nam, nhưng sau gần 100 năm lịch sử, chất lượng và uy tín của các sản
Trang 3733
phẩm Audi thực sự là nhãn hiệu mang tên “Made in Germany” Bằng chứng là Audi trở thành mác xe được ưa thích nhất năm 2004 tại Trung Hoa láng giềng và rất có thể không bao lâu nữa, những chiếc xe hơi Audi sẽ tung hoành trên đường phố Việt Nam
Phiên bản mui trần của A4
Audi “ngày nay” có tiền thân từ hãng xe và đội đua nổi tiếng mang tên Auto Union
AG Auto Union AG thành lập năm 1932 sau sự sáp nhập của bốn công ty có trụ sở tại quận Saxony bao gồm: Audi “ngày xưa” (thành lập năm 1909), Horch (thành lập năm 1899) tại Zwickau, Wanderer ở Chemnitz-Siegmar (thành lập năm 1885) và DKW trong khu Zschopau (1904) Thời điểm đó Auto Union AG là công ty có quy
mô lớn thứ hai trên thế giới Cũng trong năm 1932, Auto Union thông qua biểu tượng 4 hình tròn xếp lồng vào nhau, tượng trưng cho 4 công ty Tất cả các hình
tròn có kích thước hoàn toàn bằng nhau, nằm bình đẳng trên một đường ngang, lồng vào nhau, thể hiện sự đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau
Sau Đại chiến thế giới thứ hai, các nhà máy của Auto Union nằm trên lãnh thổ thuộc Đông Đức Hầu hết những người lãnh đạo của hãng chuyển đến Bavaria, nơi đóng đô của BMW Tại đây, họ thành lập nên Auto Union GmbH (công ty TNHH Auto Union) vào năm 1949 Auto Union GmbH sản xuất ôtô như truyền thống và 4 vòng tròn đan xen vẫn là biểu tượng chính thức của công ty Năm 1969, Auto Union GmbH liên kết với hãng NSU để hình thành nên Audi NSU Auto Union AG (công ty
cổ phần Audi NSU Auto Union) Do cái tên này quá dài, không thuận tiện cho việc kinh doanh và quảng bá thương hiệu, năm 1985, công ty đổi tên thành Audi AG (công ty cổ phần Audi) Mặc dù xuất hiện thêm công ty thứ 5 cùng tạo nên Audi
“ngày nay”, nhưng trên quan điểm về giá trị thương hiệu, hãng vẫn dùng logo 4 vòng tròn, vốn đã quen thuộc với người tiêu dùng trong suốt 53 năm tới lúc đó
Trang 3834
44 chiếc Audi xếp thành hình logo, kỷ niệm con số 15 triệu xe bán ra trong 40 năm, 1975-2003
Không ít người lần đầu tiên nhìn thấy logo Audi đã liên tưởng đến biểu tượng của thế vận hội Olympic 5 vòng tròn trên lá cờ Olympic được bá tước Pierre de Coubertin, vị chủ tịch đầu tiên của Uỷ ban Olympic quốc tế, giới thiệu năm 1914 và trở thành biểu tượng của Thế vận hội 1920 tại Antwerp, Bỉ, tượng trưng cho 5 châu lục cùng sát cánh bên nhau trong phong trào Olympic
Tới nay, 4 vòng tròn liên hoàn của Audi đã có 73 năm tuổi và thương hiệu này cũng trải qua gần 100 năm tồn tại Rất có thể, người thiết kế logo cho Audi đã chịu ảnh hưởng về ý nghĩa và nghệ thuật tạo hình từ biểu tượng Olympic Xuyên suốt 73 năm tồn tại, trải bao thăng trầm, Audi vẫn là một trong những hiệu xe sang trọng hàng đầu nhờ những sản phẩm chất lượng không bị lẫn với bất cứ đối thủ nào
c Sản phẩm:
Trang 3935
Với giá bán từ 3,2 tỷ đồng, chiếc Audi Q7 3.0 TFSI phiên bản 2011 nhập khẩu chính hãng đầu tiên tại Việt Nam đang chuẩn bị được giao tới tay khách hàng, sớm hơn dự định vài tuần
Phiên bản mới này của Audi Q7 sử dụng động cơ V6 TFSI mới, dung tích nhỏ hơn các phiên bản ra đời trước đó, nhưng nhờ với ứng dụng công nghệ nạp cưỡng bức và phun nhiên liệu trực tiếp, sử dụng bơm tăng áp trên cả van nạp và van xả, nên công suất không kém với các phiên bản trước
Q7 3.0 TFSI có công suất tối đa 272 mã lực tại 3.500 - 6.200 vòng/phút, mômen xoắn cực đại 400 Nm tại 2.250 - 3.750 vòng/phút Xe có khả năng tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong 7,9 giây, đạt vận tốc tối đa 225 km/h
Tại châu Âu, phiên bản này được công bố mức tiêu hao nhiên liệu là 10,7 lít/100km -
so với các phiên bản 3.6L và 3.2L trước đây tiết kiệm hơn từ 12-16% (tương đương 1,4-2 lít/100km, thông số của Audi Việt Nam)
Audi Q7 3.0 TFSI vẫn sử dụng hệ thống giảm xóc xương đòn kép bằng hợp kim nhôm, kết hợp hệ thống thanh giằng độc lập và không sử dụng hệ thống treo khí nén với khả năng tùy chọn độ cao theo điều kiện đường đi Tuy nhiên, khách hàng có thể tùy chọn bộ mâm bánh có kích thước lên đến 21”
Chiếc xe đầu tiên về Việt Nam có màu sơn và nội thất da đen, khách hàng có thể tùy chọn màu xe cũng như màu nội thất khác trong bảng màu của hãng
Trang 4036
Phiên bản mới này có kích thước 5.090 x 1.980 x 1.740 (dài, rộng,
cao), 7 chỗ ngồi, khoang hành lí 775L
Chiếc Audi Q7 3.0 V6 TFSI đầu tiên tại Việt Nam trang bị bộ mâm bánh 18" và hệ thống phanh đĩa gốm của Audi với khả năng thu hồi
lực phanh