Về mặt thực tiễn: Qua việc nghiên cứu mức độ và các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc CBTT, tác giả mong muốn đưa ra một đánh giá khách quan về thực trạng CBTT kế toán của các do
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC
-
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO
THƯỜNG NIÊN TẠI SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP.HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thị Thu Hoài
Tp Hồ Chí Minh
T n n m
Trang 2DANH M C CHỮ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính
BCTN: Báo cáo thường niên
Trang 3M C L C
LỜI MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu nghiên cứu 8
2.1 Mục tiêu chung: 8
2.2 Mục tiêu cụ thể: 8
3 Câu hỏi nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp định tính: 9
5.2 Phương pháp định lượng: 9
6 Đóng góp của nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10
1.1.Các nghiên cứu thế giới 11
1.2.Các nghiên cứu tại Việt Nam 13
1.3.Điểm mới của nghiên cứu 13
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
2.1 Tổng quan về CBTT 16
2.1.1 Khái niệm về CBTT 16
2.1.2 Lý do cho việc lựa chọn báo cáo thường niên 16
2.2 Các lý thuyết về CBTT 17
2.3 Môi trường CBTT của các doanh nghiệp niêm yết hiện nay 18
2.4 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Quy trình nghiên cứu 26
3.2 Mô hình nghiên cứu 27
3.3 Đo lường biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình 29
Trang 43.4 Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu 32
3.4.1 Mẫu nghiên cứu 32
3.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 32
3.5 Phương pháp phân tích số liệu 32
3.5.1 Thống kê mô tả 32
3.5.2 Phân tích tương quan 33
3.5.3 Kiểm định t-test 33
3.5.4 Phân tích hồi quy đa biến 34
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 36
4.1 Kết quả nghiên cứu 36
4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị và gợi ý chính sách 43
5.2.1 Các kiến nghị nhằm tăng cường mức độ CBTT 43
5.2.2 Kiến nghị đối với nhà đầu tư 48
5.2.3 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý NN 48
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 5DANH M C BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1: Môi trường bên trong và bên ngoài DN 20
Hình 2.2: Đặc điểm DN và mức độ CBTT 21
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 26
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu 28
Bảng 3.3: Bảng mô tả chọn mẫu 32
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến định lượng 36
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định t-test 37
Bảng 4.3 Ma trận tương quan 39
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy đa biến 40
Trang 6TÓM TẮT
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp (DN) và mức độ công bố thông tin (CBTT) nhằm đưa ra các kiến nghị để nâng cao mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Tác giả sử dụng phương pháp chỉ số CBTT để đo lường mức độ CBTT và mô hình hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của các đặc điểm DN đến mức độ CBTT trong báo cáo thường niên (BCTN) của 100 công ty niêm yết trên sàn HOSE Các đặc điểm DN được đưa vào nghiên cứu là loại ngành, công ty kiểm toán, tính thanh khoản, lợi nhuận, thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quy mô, đòn bẩy và tỷ lệ sở hữu nước ngoài Kết quả phân tích cho thấy: (i) Mức độ CBTT trong BCTN của các công ty niêm yết chưa thật sự cao (72.85%); và (ii) Các yếu tố thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng mạnh mẽ lên mức độ CBTT, các biến khác dường như không có ảnh hưởng
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ đang chuyển dịch theo hướng ngày càng toàn cầu hóa hơn mà còn đồng thời phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và lạm phát Đặc biệt là ở thị trường chứng khoán Việt Nam, khi mà đây mới chỉ là một thị trường còn rất non trẻ trình độ hiểu biết về các báo cáo công ty, các quy định tài chính còn rất hạn chế Do đó, để bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh và sự cạnh tranh khốc liệt, các công ty Việt Nam, đặc biệt là các công ty niêm yết đang cố gắng thỏa mãn ở mức tối đa những gì mà những đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp cần, mà trong đó, việc tăng cường mức độ công bố các thông tin trên BCTN đang được lưu ý Điều này là do những lý
do sau:
Thứ nhất, CBTT giống như “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, những thông tin được trình bày trong các BCTN của công ty đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định
Thứ hai, mức độ CBTT cao có thể giúp thu hút các cổ đông mới qua đó giúp duy trì một nhu cầu tích cực đối với cổ phiếu và giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ hơn giá trị nội tại của nó
Thứ ba, báo cáo chất lượng cao là điều cần thiết để duy trì một hệ thống thị trường vốn hiệu quả Một thị trường vốn tính thanh khoản cao đòi hỏi sự sẵn có của thông tin minh bạch và đầy đủ để tất cả những người tham gia có thể đưa ra quyết định khi họ phân bổ vốn giữa các lựa chọn thay thế cạnh tranh
Trên toàn thế giới và ở Việt Nam cũng đang ngày càng có nhiều nghiên cứu chú ý đến vấn đề này Qua đó, nhận thấy các khe hở của nghiên cứu trước như: (i) mới chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm tài chính lên mức độ CBTT
mà chưa có một cái nhìn toàn diện trên đặc điểm của doanh nghiệp; (ii) tập trung nghiên cứu mức độ CBTT trên phạm vi báo cáo tài chính (BCTC) Do đó, việc mở rộng hướng nghiên cứu này thông qua nhận diện toàn diện hơn các đặc điểm DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN để đánh giá thực trạng CBTT của các công ty niêm yết để đưa ra các kiến nghị là thật sự cần thiết
Trang 8Mục tiêu n iên cứu
- Đề xuất các kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
3 Câu ỏi n iên cứu
- Thứ nhất: Các lý thuyết liên quan đến mức độ CBTT là gì?
- Thứ hai: Các đặc điểm nào của công ty ảnh hưởng tới mức độ CBTT?
- Thứ ba: Các đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức CBTT trên BCTN như thế nào?
- Thứ tư: Các kiến nghị để tăng cường mức độ CBTT?
4 Đối tượng, p ạm vi nghiên cứu
4 Đối tượn n iên cứu
Đối tượng được nghiên cứu: Nghiên cứu mức độ công bố thông tin và các đặc điểm DN ảnh hưởng tới mức độ CBTT trên BCTN của DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 95 P ươn p p n iên cứu
số CBTT của mỗi DN trong mẫu nghiên cứu
- Thu thập báo cáo thường niên của các doanh nghiệp theo mẫu đã chọn
- Đo lường các biến đặc điểm DN dựa trên dữ liệu thu thập từ BCTN
- Thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT trên BCTN của các doanh nghiệp
thông qua phương pháp chỉ số CBTT theo cách tiếp cận không trọng số
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định t-test
và phân tích hồi quy bội để đo lường ảnh hưởng của các biến đặc điểm DN lên mức độ CBTT
6 Đón óp của n iên cứu
Về mặt khoa học: Nghiên cứu củng cố và bổ sung cơ sở lý thuyết về các
nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT thông tin trên BCTN của DN
Về mặt thực tiễn: Qua việc nghiên cứu mức độ và các đặc điểm doanh
nghiệp ảnh hưởng đến việc CBTT, tác giả mong muốn đưa ra một đánh giá khách quan về thực trạng CBTT kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đồng thời phân tích các nhân tố thuộc về đặc
Trang 10điểm môi trường, tài chính, quản trị của DN đến mức độ công bố Từ đó đề xuất được giải pháp nâng cao chất lượng thông tin công bố của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền vững
7 Kết cấu dự kiến của luận v n
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG :TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nội dung CBTT đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam với nhiều khía cạnh, thời điểm và các phạm vi khác nhau Có thể kể đến các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như sau:
1.1 C c n iên cứu t ế iới
Hiện nay, một hạn chế lớn khi nghiên cứu về CBTT là cách tiếp cận để đo
lường mức độ CBTT Theo Francesca Citro (2013) với nghiên cứu “Disclosure level evaluation and disclosure determinant analysis: a literature review” đã chỉ ra
rằng cho đến nay có hai cách tiếp cận chính đã được sử dụng để hình thành một
bảng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty: phân tích nội dung và chỉ số CBTT Trong đó, phân tích nội dung là phương pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên
cứu suy luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để lượng hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT Tuy nhiên phương pháp này tốn rất nhiều công sức nên hạn chế có cỡ
mẫu lớn Cách tiếp cận thứ hai là phương pháp chỉ số CBTT Theo đó, người nghiên
cứu sẽ xây dựng bộ tiêu chí CBTT Bộ tiêu chí này bao gồm một danh sách các khoản mục thông tin được lựa chọn, có thể được công bố trong báo cáo của các công ty Đây là cách được đa số các nhà nghiên cứu sử dụng Sau đó, các mục thông tin sẽ được đo lường trong các biến giả theo phương pháp không trọng số (lưỡng phân) hoặc phương pháp có trọng số
Sau khi hiểu rõ được cách thức đo lường mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu
sẽ có cơ sở để phát triển nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Bhayani (2012) nghiên cứu về “The Relationship between comprehensiveness of corporate disclosure and firm characteristics in India” Tác
giả nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô, lợi nhuận, cơ cấu sở hữu, công ty kiểm toán,
đòn bẩy tài chính tác động lên mức độ CBTT Cũng áp dụng phương pháp chỉ số CBTT với đo lường không trọng số, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quy mô
lớn, lợi nhuận cao, đòn bẩy cao, được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn có
xu hướng minh bạch thông tin hơn
Nandi and Ghosh (2012) nghiên cứu về “Corporate governance attributes, firm characteristics and the level of corporate disclosure: Evidence from the Indian
Trang 12listed firms” Bài nghiên cứu này cũng sử dụng phương pháp chỉ số CBTT nhưng
dựa trên mô hình của Standard & Poor để đo lường mức độ CBTT Kết quả cho thấy quy mô, lợi nhuận và tính thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT Tuy nhiên đòn bẩy và thành phần HĐQT lại ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT
Yanesari et al (2012) nghiên cứu về “Board Characteristics and Corporate Voluntary Disclosure: An Iranian Perspective” Cũng với phương pháp chỉ số CBTT, nghiên cứu dựa trên thực nghiệm để kiểm tra mối quan hệ giữa thành phần
HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với mức độ CBTT Kết quả cho thấy công ty
có tỷ lệ thành viên HĐQT càng cao thì mức độ CBTT càng cao Tuy nhiên, nghiên cứu lại không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT và mức độ CBTT
Fathi (2013) với nghiên cứu “Corporate Governance and the Level of Financial Disclosure by Tunisian Firm” đã phân tích mức độ CBTT của các công
ty ở Tunisian Nghiên cứu cũng chọn cách tiếp cận thứ hai là chỉ số CBTT Kết quả
nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô, lợi nhuận, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT khác nhau thì điểm số CBTT cũng khác nhau
Nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) về “The assosiation between firm characteristics and corporate financial disclosures: evidence from UAE companies” Tác giả cũng sử dụng phương pháp chỉ số CBTT để nghiên cứu tác
động của loại ngành, lợi nhuận, quy mô, tính thanh khoản, tỷ lệ sở hữu nước ngoài,
tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập lên mức độ CBTT Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng có mức độ CBTT cao hơn ngành sản xuất và dịch
vụ Ngoài ra, quy mô của công ty cũng được tìm thấy là có liên quan đáng kể với mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Sartawi et al (2014) về “Board Composition, Firm Characteristics, and Voluntary Disclosure: The Case of Jordanian Firms Listed on the Amman Stock Exchange” Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung để
đo lường mức độ CBTT Nghiên cứu cho thấy yếu tố loại ngành có mối quan hệ tích cực đến mức độ CBTT, các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm có xu hướng CBTT nhiều hơn các công ty trong ngành công nghiệp và dịch vụ Ngoài ra, các công ty có tỷ lệ sở hữu của HĐQT cao có mức độ minh bạch thông tin càng thấp
Trang 131.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước về mức độ công bố thông tin
có một số các nghiên cứu như sau:
Lê Trường Vinh (2008) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra 2 nhóm đặc điểm ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính và loại thứ hai là các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp Những đặc điểm thuộc về tài chính bao gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài sản cầm cố, hiệu quả sử dụng tài sản Những đặc điểm về quản trị doanh nghiệp: mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT Và do giới hạn về
đề tài nên tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu về nhóm đặc điểm tài chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Tương tự như vậy, Huỳnh Thị Vân (2013) nghiên cứu “Mức độ CBTT
kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội” Tác giả cũng chỉ nghiên cứu tác động của các biến thuộc đặc điểm tài
chính lên việc CBTT bắt buộc như quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy, khả năng thanh toán, tốc độ tăng trưởng doanh thu và công ty kiểm toán đến mức độ CBTT Kết quả cho thấy chỉ có Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức độ CBTT, các biến còn lại không có ý nghĩa
Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Đông (2013)“Các nhân
tố tác động đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” Luận văn nghiên cứu tác động của bảy
biến tới mức độ công bố thông tin như quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động, tài sản cố định Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai nhân tố là khả năng sinh lời và tài sản cố định có ảnh hưởng thuận chiều tới mức độ CBTT Tuy nhiên, cũng như hai nghiên cứu trước
đó, nghiên cứu cũng bỏ qua tác động của nhóm yếu tố thuộc đặc điểm quản trị DN
1.3 Điểm mới của n iên cứu
Như vậy, rõ ràng là đã có những công trình nghiên cứu sâu rộng về công bố thông tin trên toàn thế giới và ở Việt Nam cũng đang ngày càng có nhiều nghiên
Trang 14cứu chú ý đến vấn đề này Tuy nhiên, việc lựa chọn các danh mục CBTT để đánh giá ở các nước thì không giống nhau Hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng phương
pháp chỉ số CBTT và luận văn này cũng được sử dụng phương pháp tương tự
Dựa trên tìm hiểu về các nghiên cứu trước đây, luận văn có kế thừa một số đặc điểm như tìm hiểu về các nhân tố tác động lên mức độ CBTT và phân tích tác động của chúng thông qua mô hình định lượng
Đồng thời, luận văn bổ sung thêm những điểm mới trong nghiên cứu Cụ thể
là tác giả tiến hành nghiên cứu mức độ CBTT trên BCTN, trên cả thông tin bắt buộc và tự nguyện chứ không chỉ gói gọn trong các thông tin bắt buộc trên BCTC Ngoài ra, tác giả tiến hành nghiên cứu toàn diện về các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT, bao gồm cả những đặc điểm liên quan đến quản trị
DN như thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT Đồng thời, để tạo cơ sở
vững chắc cho bộ tiêu chí CBTT, tác giả xây dựng Bộ tiêu chí dựa trên sự tham khảo Thẻ điểm quản trị công ty do IFC ban hành
Trang 15Kết luận c ươn :
Qua việc giới thiệu về tính cấp thiết, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu toàn luận văn, tác giả đã giúp người đọc
thấy được cái nhìn khái quát về nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả đã liệt kê và phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu liên quan Qua đó, nhận thấy các khe hở của nghiên cứu trước như:
Mới chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm tài chính lên mức độ CBTT mà chưa có một cái nhìn toàn diện trên đặc điểm của doanh nghiệp
Tập trung nghiên cứu mức độ CBTT trên phạm vi báo cáo tài chính, nghĩa là mới chỉ dừng lại ở các thông tin bắt buộc mà chưa nghiên cứu trên phạm vi các thông tin tự nguyện
Do đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây, kết hợp với cơ sở các lý thuyết về CBTT và các quy định hiện hành của Việt Nam sẽ làm cơ sở để hình thành luận văn
với đề tài “Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin
trên báo cáo thường niên tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM”
Trang 16CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổn quan về CBTT
K i niệm về CBTT
Tính minh bạch và CBTT đại diện cho một trong những trụ cột của quản trị doanh nghiệp Các bên liên quan khác nhau sử dụng các thông tin công bố trong BCTN của công ty trong quá trình ra quyết định của họ Theo HNX (2014), CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công
bằng và đồng thời
Lý do c o việc lựa c ọn b o c o t ườn niên
Theo sổ tay CBTT mà Bộ tài chính ban hành, các công ty niêm yết có thể CBTT trên hai phương tiện:
Báo cáo thường niên: là ấn phẩm thường niên cung cấp thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm tài chính liền trước
Trang thông tin điện tử (website): là kênh truyền thông hiệu quả và kinh tế trong thời đại công nghệ cao như hiện nay Đây được xem là một trong những kênh thông tin chính thống của tổ chức niêm yết
Hoặc là, có rất nhiều kênh khác nhau mà qua đó công ty có thể phổ biến thông tin của họ cho công chúng như báo cáo thường niên, thông cáo báo chí, các trang web, bản tin công ty và các cuộc họp của công ty
Trong đó, BCTN được coi là nguồn thông tin quan trọng nhất cho các đối tượng sử dụng khác nhau ( như các nhà quản lý, cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ, nhà nghiên cứu…) Báo cáo này cung cấp các thông tin định tính và định lượng, tài chính và phi tài chính, hiện tại và tương lai về các đơn vị kinh tế Có nhiều lý do để lựa chọn BCTN như là một phương tiện thích hợp để nghiên cứu về công bố thông tin Thứ nhất, BCTN là tài liệu hàm chứa tình hình và kết quả hoạt động toàn diện về một công ty Thứ hai, các bên liên quan có thể truy cập thông tin trên BCTN một cách dễ dàng và vào bất cứ lúc nào, được công bố thường xuyên Thứ ba, các thông tin trên báo cáo này đã được kiểm toán hoặc được đảm bảo ở
Trang 17mức đáng tin cậy Báo cáo thường niên được lập theo quy định tại mẫu BCTN ban hành kèm theo thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ trưởng Bộ tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Nội dung
cơ bản gồm:
Tóm lược lịch sử hoạt động của công ty;
Báo cáo của Hội đồng quản trị;
Báo cáo của Ban giám đốc;
Báo cáo tài chính;
Bản giải trình báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán;
Các công ty con và công ty liên quan;
Tổ chức và nhân sự của công ty;
Thông tin cổ đông, thành viên góp vốn và Quản trị công ty;
Lí thuyết đại diện (Agency Theory)
Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết đại diện xuất phát từ Jensen và Meckling năm 1976 Lý thuyết người đại diện mô tả các mối quan
hệ giữa người quản lý và các cổ đông Vấn đề người đại diện xảy ra bởi vì việc tách bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty và được phóng đại bởi các vấn đề bất đối xứng thông tin từ các nhà quản lý có kiến thức tốt hơn về giá trị tương lai của công ty so với các cổ đông và chủ nợ Chi phí đại diện xuất phát từ giả định rằng hai bên, người quản lý và cổ đông của công ty có mâu thuẫn về lợi ích
Để hạn chế chi phí đại diện, CBTT được sử dụng như là một phương tiện giảm thiểu các vấn đề đại diện, việc người quản lý CBTT nhiều hơn giúp giảm chi phí đại diện và cũng là để thuyết phục người sử dụng thông tin bên ngoài doanh
Trang 18nghiệp về tình hình hoạt động của công ty Một vài đặc điểm DN ảnh hưởng đến mức độ CBTT có liên quan đến lí thuyết đại diện là công ty kiểm toán, thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quy mô, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời và
tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Lí thuyết tín hiệu (Signalling Theory)
Lý thuyết tín hiệu được hình thành vào đầu những năm 1970 và nó cũng đã được Ross (1977) sử dụng để giải thích CBTT trên báo cáo của công ty Theo lý thuyết tín hiệu, các nhà quản lý là những người mong đợi một tín hiệu tăng trưởng cao trong tương lai sẽ có động cơ phát tín hiệu này tới các nhà đầu tư CBTT là một trong những phương tiện phát tín hiệu, nơi các công ty sẽ công bố nhiều thông tin hơn để báo hiệu cho các nhà đầu tư, để cho thấy rằng họ là tốt hơn so với các công
ty khác trên thị trường Một vài đặc điểm DN ảnh hưởng đến mức độ CBTT có liên quan đến lí thuyết đại diện là loại ngành, lợi nhuận, tính thanh khoản
2.3 Môi trườn CBTT của c c doan n iệp niêm yết iện nay
Để nghiên cứu các đặc điểm DN ảnh hưởng tới mức độ CBTT thì trước tiên chúng ta cần có cái nhìn khái quát về môi trường CBTT của các DN hiện nay Theo Mohamed Hossain và Helmi Hammami (2009) môi trường CBTT của DN bao gồm
cả các yếu tố bên ngoài lẫn bên trong của DN
2.3.1 Môi trường CBTT: bên ngoài DN
Môi trường bên ngoài là những yếu tố khách quan xuất phát từ các đối tượng bên ngoài mà DN tương tác trong quá trình hoạt động của mình Các đối tượng đó
có thể kể đến như:
Thứ nhất là các cơ quan quản lý NN Các cơ quan quản lý NN đề ra các Luật
và văn bản dưới luật (chuẩn mực kế toán, thông tư hướng dẫn và các quy định riêng cho công ty niêm yết) về CBTT để quy định hoạt động CBTT của các DN Theo đó, động cơ CBTT của các DN mang tính tuân thủ được hình thành Do đó, môi trường
về các quy định, hướng dẫn do các cơ quan quản lý NN đề ra ảnh hưởng lớn tới mức độ CBTT của các DN
Thứ hai, HĐQT là cơ quan đại diện cho cổ đông của DN, là những người sở hữu muốn kiểm soát việc CBTT của DN để đảm bảo tính hữu ích của đồng vốn mà
Trang 19họ bỏ ra Đặc biệt trong thành phần trong HĐQT, các thành viên “không độc lập”
có tác động nhất định đến CBTT của DN Vì vậy, môi trường HĐQT trong mỗi DN ảnh hưởng rất lớn tới CBTT của DN đó
Thứ ba, tình hình thị trường chứng khoán cũng tác động không nhỏ đến các hoạt động của DN niêm yết nói chung và CBTT ở các DN niêm yết nói riêng Khi thị trường chứng khoán ra đời và phát triển đã giúp cho DN có thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn mới Và khi cổ phiếu của công ty được niêm yết trên thị trường sẽ tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu của công ty Điều này giúp cho việc thu hút nhà đầu tư hơn vì nhà đầu tư có thể dễ dàng nhượng bán cổ phiếu khi cần vốn Đồng thời thị trường chứng khoán cũng là nơi là tăng uy tín của DN, đánh giá giá trị của DN Bởi vì nó tạo áp lực lên ban lãnh đạo công ty trong việc quản lý DN, các thông tin phải được công bố một cách chính các, kịp thời, đầy đủ ra công chúng Chính vì những lý do đó nên vai trò của thị trường chứng khoán là không thể phủ nhận DN muốn nâng cao vị thế của mình trên thị trường chứng khoán cần minh bạch hóa thông tin, tạo sự tin tưởng của các đối tượng sử dụng thông tin
Thứ tư là các chủ nợ, các tổ chức tín dụng mà DN vay vốn Việc quyết định việc cho hay không hoặc cho vay nhiều hay ít cũng tùy thuộc vào uy tín của DN và các thông tin mà DN tự cung cấp về mình Các chủ nợ cần am hiểu con nợ của mình để đưa ra các quyết định phù hợp Vì vậy, DN càng phụ thuộc vào nguồn vốn vay càng cần phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của các chủ nợ
Ngoài ra, môi trường CBTT thông tin của DN còn chịu ảnh hưởng bởi một
số đối tượng khác như khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh…DN luôn cân nhắc đến lợi ích của mình và động cơ của các đối tượng có liên quan mỗi khi ra quyết định CBTT Ví dụ như nếu việc CBTT thêm thông tin đáp ứng nhu cầu các đối tượng khác nhưng mặt khác sẽ gây bất lợi cho DN trong quan hệ với các đối thủ cạnh tranh Vì vậy, tùy từng mối quan hệ với các đối tượng mà DN sẽ ra quyết định CBTT cho phù hợp
2.3.2 Môi trường CBTT bên trong DN
Quá trình cung cấp thông tin trong báo cáo thường niên của các DN niêm yết được thực hiện bởi bộ máy kế toán dưới định hướng của NQT có sự tác động của
Trang 20ban kiểm soát (nếu có) và kiểm toán độc lập Trong đó, đối tượng mấu chốt trong
CBTT của các DN là nhà quản trị DN
NQT trong DN là người chịu trách nhiệm lớn về việc CBTT ra bên ngoài với
các đối tượng có liên quan cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, bộ máy kế
toán giúp việc cho NQT trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin Và những
thông tin đó chịu sự giám sát của Ban kiểm soát và Kiểm toán độc lập Trong đó,
yếu tố Kiểm toán độc lập là khâu cuối cùng, đại diện cho sự kiểm soát bên ngoài
đối với DN, tạo được sự tin tưởng cao về chuyên môn Tuy độc lập với doanh
nghiệp, nhưng đặc điểm về chất lượng, chuyên môn của công ty kiểm toán lại phụ
thuộc vào sự quyết định của doanh nghiệp bởi quyền lựa chọn thuê công ty nào và
trách nhiệm trả chi phí kiểm toán thuộc về doanh nghiệp Chính vì thế, một cách
gián tiếp, công ty kiểm toán độc lập là một yếu tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp
Có thể tóm tắt môi trường CBTT của DN thông qua sơ đồ sau:
Hìn : Môi trường bên trong và bên ngoài DN
Trang 21Tóm lại, qua hai nội dung trên, môi trường CBTT đã được phân tích qua việc đi sâu vào tác động của các đối tượng bên trong và ngoài doanh nghiệp đến quá trình lập và công bố Tuy nhiên phản ứng của mỗi doanh nghiệp trong các mối tương tác này lại không giống nhau, phụ thuộc vào đặc điểm riêng của doanh nghiệp
Hình : Đặc điểm DN và mức độ CBTT
2.4 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào cơ sở lí thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các đặc điêm DN ảnh hưởng đến mức độ CBTT của công ty, các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng như sau:
Các nhân tố liên quan đến thị trường
Loại ngành
Aljifri and Alzarouni (2013) đã chia yếu tố loại ngành ra làm bốn loại là sản xuất, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ, và tác giả đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa ngành ngân hàng và mức độ CBTT Tại Việt Nam, ngành sản xuất đóng một vai trò
to lớn trong nền kinh tế vì nó có tính chất chi phối đến các ngành còn lại Do đó, nghiên cứu thực hiện phân loại lĩnh vực hoạt động thành hai loại chính là sản xuất
và phi sản xuất Vì vậy, nghiên cứu tiến hành kiểm tra giả thuyết:
Giả thuyết H1: Các doanh nghiệp ngành sản xuất cung cấp thông tin nhiều hơn
các doanh nghiệp những ngành khác
Công ty kiểm toán
Lý thuyết đại diện cho rằng kiểm toán độc lập bên ngoài đóng một vai trò trong việc giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư Công ty kiểm toán lớn hoạt động như một cơ chế để giảm chi phí đại diện và phát huy nhiều
- Môi trường bên trong
- Môi trường bên ngoài
Đặc điểm
DN
Mức độ CBTT
Trang 22hơn một vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của các nhà quản lý (Jensen and Meckling, 1976) Điều này cho thấy các công ty kiểm toán để duy trì danh tiếng của mình đòi hỏi khách hàng phải có mức độ CBTT cao Về quy mô, công ty kiểm toán lớn được xác định là một trong những công ty Big Four, các công
ty kiểm toán còn lại là các công ty kiểm toán nhỏ Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa công ty kiểm toán và mức độ CBTT như Bhayani (2012)
và Fathi (2013) Trên cơ sở đó, giả thiết 2 được đưa ra là:
Giả thuyết H2: Nếu được kiểm toán bởi Big4, báo cáo thường niên các doanh
nghiệp sẽ công bố nhiều thông tin hơn
Các nhân tố liên quan đến hiệu suất hoạt động
Tính thanh khoản
Theo lý thuyết tín hiệu, một công ty có tính thanh khoản cao có thể phát tín hiệu bằng cách công bố thêm thông tin và tăng niềm tin đối với những nhà đầu tư và ngược lại, một công ty có tính thanh khoản thấp thường kín đáo trong CBTT để hạn chế thông tin yếu kém của mình công bố ra bên ngoài Nandi and Ghosh (2012), đã tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT Giả thuyết thứ ba được lập như sau:
Giả thuyết H3: Các công ty trên sàn HOSE với tính thanh khoản cao có xu hướng
công bố nhiều thông tin hơn
Lợi nhuận
Theo lý thuyết đại diện, với khả năng sinh lời cao hơn, nhà quản trị sẵn sàng công
bố nhiều thông tin hơn để chứng minh cho các thành quả quản trị của ban giám đốc Còn theo lý thuyết tín hiệu, các DN có lợi nhuận cao, muốn phân biệt mình với các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp, thông qua lý thuyết tín hiệu giúp họ tăng giá trị cổ phiếu và thu hút nhà đầu tư Nghiên cứu của Fathi (2013), Bahayani (2012), Nandi
& Ghosh (2012)…đã tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa lợi nhuận và mức
độ CBTT Giả thuyết thứ tư nói rằng:
Giả thuyết H4: Các công ty có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao có mức độ
CBTT nhiều hơn các công ty có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp
Trang 23 Các nhân tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp
Giả thuyết H5: Công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập càng cao thì mức độ
CBTT càng cao
Tỷ lệ sở hữu của HĐQT
Lý thuyết đại diện phát biểu rằng nơi có một sự tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát của một công ty là tiềm năng cho các chi phí đại diện phát sinh do sự xung đột lợi ích giữa các bên ký kết hợp đồng Theo đó, các công ty có tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng thấp thì nhà quản lý cung cấp thêm thông tin để báo hiệu rằng họ làm việc vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông Mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT đã được kiểm chứng trong nghiên cứu của Sartawi và cộng sự (2012) Giả thuyết được đưa ra như sau:
Giả thuyết H6: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với
mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính
Các nhân tố liên quan đến cấu trúc công ty
Quy mô công ty
Quy mô có tác động đáng kể tới mức độ CBTT vì những lí do sau: (i) việc CBTT cần một khoản chi phí không nhỏ, và do đó có thể không hợp lý cho các công ty nhỏ; (ii) chi phí đại diện có xu hướng gia tăng cùng với quy mô của công ty vì các công ty với số lượng cổ đông lớn thường nỗ lực hơn trong việc giám sát người quản lý; (iii) các công ty lớn có xu hướng đến thị trường tài chính để huy động vốn thường xuyên hơn những công ty nhỏ Aljifri & Alzarouni (2013), Bhayani (2012)
Trang 24đã chỉ ra rằng DN có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT càng cao Vì vậy, giả thiết được đưa ra là:
Giả thuyết H7: Các công ty với quy mô lớn có xu hướng công bố nhiều thông tin
hơn các công ty có quy mô nhỏ
Đòn bẩy tài chính
Theo lý thuyết đại diện, các công ty có đòn bấy cao phát sinh chi phí giám sát cao,
họ tiết lộ thêm thông tin để giảm chi phí và đáp ứng nhu cầu của các chủ nợ, giảm bất đối xứng thông tin với các chủ nợ Nghiên cứu của Bhayani (2012), Popova và cộng sự (2013) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa đòn bẩy mà mức độ CBTT Giả thuyết H8 được đưa ra là:
Giả thuyết H8: Các công ty có đòn bẩy càng cao thì mức độ CBTT càng cao
Tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Lý thuyết đại diện cho rằng sự mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người quản lý của một công ty là tiềm năng cho các chi phí phát sinh Theo Sartawi
và cộng sự (2012), các công ty có số lượng cổ đông lớn thì nhu cầu CBTT có thể cao hơn và theo đó, nhu cầu về thông tin dự kiến cũng sẽ cao hơn từ các nhà đầu tư nước ngoài do sự tách biệt về địa lý giữa nhà quản lý và chủ sở hữu Do đó, giả thuyết được đưa ra là:
Giả thuyết H9: Các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao thì CBTT nhiều hơn
những công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài thấp
Trang 25Kết luận c ươn :
Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết về CBTT và các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng tới mức độ CBTT Các lý thuyết được đưa ra bao gồm tổng quan
về CBTT, các lý thuyết có liên quan và các đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức
độ CBTT Trong đó, các lý thuyết chính làm cơ sở cho việc CBTT gồm: lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu
Có nhiều nhân tố tác động đến mức độ CBTT Tuy nhiên, nghiên cứu đưa ra chín nhân tố tác động do kế thừa từ các nghiên cứu trước ở những nước mà tình hình kinh tế tương đồng với Việt Nam, đồng thời để thấy được toàn diện nhất các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT Như vậy, chín đặc điểm DN
được nghiên cứu bao gồm: loại ngành, công ty kiểm toán, lợi nhuận, tính thanh khoản, thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quy mô, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài cùng với một nhân tố bị tác động là chỉ số công bố thông tin
Trang 26CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3 Quy trìn n iên cứu
Luận văn này được thực hiện nhằm nghiên cứu các đặc điểm của công ty và
mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên thông qua phương pháp định
tính và định lượng theo các bước như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp, phạm vi và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết các nghiên cứu trước đây Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng sau đó đưa ra giả
thuyết nghiên cứu
Đưa ra mô hình nghiên cứu Cách thức đo lường các biến
Mô tả cách lấy mẫu và cách thức xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu:
Thống kê mô tả mẫu quan sát phân tích tương quan, phân tích hồi quy, kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu Kiểm định các giả thiết nghiên cứu
Đề xuất và hướng nghiên cứu
tiếp theo
Trang 273 Mô ìn n iên cứu
Từ những lý thuyết kinh tế đến thực tiễn nghiên cứu cụ thể đã được công bố
về nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm công ty và mức độ CBTT của các quốc gia trên thế giới đều đi đến kết luận chung là có sự tác động của đặc điểm công ty lên mức độ CBTT Từ nền tảng của các lý thuyết và những nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đưa ra các kỳ vọng tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Có rất nhiều đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT của các công ty Tác giả chọn ra 9 loại đặc điểm DN với các lý do như sau:
Thứ nhất, dựa vào nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) đã xem x t
sự tác động của đặc điểm công ty lên mức độ CBTT của các quốc gia trong khối UAE Trong đó, nghiên cứu đã chạy phương trình hồi qui nhằm đo lường sự tác động của đặc điểm công ty đến mức độ CBTT, thông qua các biến như: loại ngành, tình trạng niêm yết, lợi nhuận, tính thanh khoản, quy mô, sở hữu nước ngoài, thành phần HĐQT và ủy ban kiểm toán Đối với các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi qua nghiên cứu thực nghiệm của Aljifri và Alzarouni thì kết quả có thể chấp nhận được với điều kiện của nền kinh tế Việt Nam Do đó, mô hình cho nghiên cứu đề nghị sẽ
kế thừa được một số nhân tố của mô hình nghiên cứu trên Cụ thể, nghiên cứu sẽ
xem xét các yếu tố về: loại ngành, lợi nhuận, tính thanh khoản, quy mô, sở hữu nước ngoài, thành phần HĐQT Ngoài ra, tác giả còn đưa vào trong mô hình một số nhân tố như công ty kiểm toán, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT Các yếu tố
này đưa ra dựa vào các nghiên cứu của Fathi (2013)
Thứ hai, do khả năng thu thập số liệu và thời gian nghiên cứu có hạn cũng như nhằm mục đích nghiên cứu một cách toàn diện nhất về đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT nên tác giả tiến hành chọn các biến đặc trưng nhất
liên quan đến các nhóm đặc điểm khác nhau như: các biến liên quan đến thị trường, hiệu suất hoạt động, quản trị doanh nghiệp và cấu trúc công ty
Như vậy, nghiên cứu tiến hành đo lường tác động của chín đặc điểm doanh nghiệp lên mức độ CBTT Dựa trên các giả thuyết được đưa ra, mô hình hồi quy tổng thể được đề nghị trong nghiên cứu này để kiểm định các giả thuyết nêu trên có dạng như sau:
Trang 28Loại ngành
I = β0 + β1 loainganh + β2 kiemtoan + β3 thanhkhoan + β4 loinhuan +
β tpHĐQT +β6 vonHĐQT + β7 quymo + β8 donbay + β9 sohuuNN + ε
Với ε: sai số ngẫu nhiên
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu
+
+ +
+
- +
+ + +
Công ty kiểm toán
Tính thanh khoản
Thành phần HĐQT
Quy mô
Mức độ CBTT Lợi nhuận
Trang 29 Mô tả các biến:
Biến độc lập
tpHĐQT Tỷ lệ thành viên HĐQT độc
lập
+
Biến phụ thuộc:
3.3 Đo lường biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình
Đo lường biến phụ thuộc
Bước 1: Xây dựng bộ tiêu chí CBTT:
Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đã đo lường mức độ CBTT theo
phương pháp chỉ số CBTT và nghiên cứu này cũng lựa chọn phương pháp tương tự
Theo phương pháp này, để tính điểm CBTT cho các công ty cần thiết lập một danh sách các khoản mục thông tin (bộ tiêu chí CBTT) Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở VN chưa có lời giải thích cụ thể hoặc hướng dẫn chung cho việc thiết lập bộ tiêu chí này Vì vậy, ở các nghiên cứu trước tại Việt Nam, việc thiết lập bộ tiêu chí CBTT còn mang tính chủ quan cao của người nghiên cứu, mỗi người nghiên cứu, khi dựa trên cơ sở đó sẽ đưa ra một danh sách không đồng nhất
và chưa được thẩm định Vì vậy, cần thiết phải có một bộ tiêu chí CBTT của các
Trang 30doanh nghiệp niêm yết Việt Nam mà đã được thông qua hội đồng chuyên gia hoặc
09/2010/TT-khảo Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2012) do IFC-Tổ chức tài chính quốc tế soạn thảo Các mục thông tin trong bộ tiêu chí này bao gồm 52 khoản mục sẽ được nhóm lại trong sáu loại thông tin
Bước 2: Tính chỉ số CBTT
Để tính điểm chỉ số CBTT, có hai phương pháp thường được sử dụng là phương pháp đo lường không trọng số và đo lường có trọng số Tuy vậy, phương pháp có trọng số có hạn chế là cho kết quả nghiên cứu mang tính chủ quan cao Vì
vậy, nghiên cứu chọn p ươn p p đo lường không trọng số
Theo đó, mức độ công bố của các công ty được tính bằng cách cho điểm các mục được công bố dựa trên bộ tiêu chí Mỗi mục thông tin nếu được thuyết minh trên BCTN và các báo cáo kèm theo sẽ được tính và cho 1 điểm còn nếu không được thuyết minh sẽ tính và cho 0 điểm Cần lưu ý rằng nếu thông tin không thu thập được thông qua BCTN hoặc các báo cáo kèm theo của công ty thì mục thông tin của công ty đó sẽ được chấm điểm là 0 Chỉ số CBTT sẽ được tính theo công thức:
Trong đó:
- Ij : chỉ số công bố thông tin của công ty j
- dij = 1 nếu mục thông tin được công bố, = 0 nếu mục thông tin không được công
bố
- n: Số lượng mục thông tin công ty có thể công bố (n=52)
- 0< Ij < 1
Trang 31 Đo lường biến độc lập
ảnh ưởng
loainganh Loại ngành Biến giả = 0 : nếu công ty thuộc lĩnh vực
sản xuất Biến giả = 1 : nếu công ty thuộc các lĩnh vực khác
+
kiemtoan Công ty kiểm toán Biến giả = 0 : nếu công ty kiểm toán độc
lập thuộc nhóm Big4 Biến giả = 1 : nếu không thuộc nhóm Big4
(Số cổ phiếu phổ thông được nắm giữ bởi
cổ đông nước ngoài / Tổng số cổ phiếu phổ thông) x 100
+
Trang 323.4 Mẫu nghiên cứu và p ươn p p t u t ập dữ liệu
3.4.1 Mẫu nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu tập trung vào các DN niêm yết trên sàn HOSE Quá trình chọn mẫu các công ty niêm yết trên sàn HOSE được mô tả trong bảng sau:
Nguồn: Theo tổng kết của tác giả
3.54.2 P ươn p p t u thập dữ liệu
Dữ liệu trong nghiên cứu được lấy từ các BCTN cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2013 của các DN niêm yết trên sàn HOSE Người nghiên cứu tải 100 BCTN cùng các phụ lục đính kèm theo phương pháp chọn ngẫu nhiên Sau đó, tác giả lấy
dữ liệu của biến phụ thuộc và các biến độc lập từ 100 BCTN và các phụ lục kèm
theo bao gồm: CBTT, loainganh, kiemtoan, thanhkhoan, loinhuan, tpHĐQT, vonHĐQT, DT thuần, tổng tài sản, DB, SHNN
3.5 P ươn p p p ân tíc số liệu
Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích mô hình, phân tích tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc Để xử lý số liệu, nghiên cứu thực hiện các phương pháp phân tích sau:
3.5 T ốn kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả hoặc suy luận về một tập dữ liệu, hay nói cách khác nó là công cụ để tóm tắt và trình bày dữ liệu Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) thì các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính đối với các biến định lượng Nếu tính các đại lượng này đối với các biến định tính thì
Trang 33kết quả sẽ không có ý nghĩa Trong luận án này, thống kê mô tả được sử dụng để tính toán số quan sát, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất và độ lệch chuẩn
của biến phụ thuộc chỉ số CBTT và bảy biến độc lập định lượng bao gồm thanhkhoan, loinhuan, tpHĐQT, vonHĐQT, quymo, donbay, sohuuNN
3.5 P ân tíc tươn quan
Phân tích tương quan đo lường ảnh hưởng hay liên hệ giữa các biến định lượng trong phương trình hồi quy Hai biến được coi là có mối tương quan chặt chẽ khi hệ số tương quan từ 0.5 trở lên (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Trong nghiên cứu này, kiểm định Pearson được thực hiện để phát hiện mối
tương quan giữa các biến định lượng trong mô hình là thanhkhoan, loinhuan, tpHĐQT, vonHĐQT, quymo, donbay, sohuuNN và CBTT
Luận án này sử dụng hệ số tương quan Pearson không chỉ để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, mà còn để phát hiện các vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến
Đa cộng tuyến tồn tại khi hai hay nhiều biến độc lập có mối tương quan rất cao với nhau Nếu đa cộng tuyến tồn tại trong một phương trình, nó có thể gây khó khăn trong việc phân biệt những tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, chỉ số thường dùng là hệ số phóng đại phương sai VIF (variance inflation factor) Thông thường, nếu VIF của biến độc lập nào đó lớn hơn 10 thì hiện tượng
đa cộng tuyến có thể xảy ra (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
3.5.3 Kiểm địn t-test
Kiểm định t-test được sử dụng để mô tả về giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến định tính cũng như đánh giá mức độ giải thích biến phụ thuộc của các biến định tính Kiểm định t-test giúp phát hiện sự khác biệt về mức độ CBTT trung bình của hai nhóm độc lập trong một biến Dựa vào kiểm định này, ta có thể biết được hai nhóm của một biến độc lập có giá trị trung bình khác biệt về mức độ CBTT hay không Nếu khác biệt đó càng lớn thì mức độ ảnh hưởng của biến đó lên mức độ CBTT càng lớn và ngược lại Nghiên cứu sử dụng t-test để kiểm tra các
biến độc lập loainganh, kiemtoan
Trang 343.5 P ân tíc ồi quy đa biến
Phân tích hồi quy là một công cụ thống kê thường được sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ tuyến tính giữa một biến phụ thuộc duy nhất và một tập hợp các biến dự báo Khi sử dụng mô hình hồi quy bội chúng ta cần chú ý sự phù hợp và kiểm tra các giả thuyết của nó Trong nghiên cứu này, phân tích hồi quy dùng để kiểm tra các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7, H8, H9 đã nêu ở chương hai
Trang 35Kết luận chươn 3:
Chương 3 cung cấp một mô tả chung về phương pháp tiếp cận nghiên cứu
áp dụng cho luận án này
Mẫu nghiên cứu gồm 100 công ty (chiếm khoảng 35% tổng thể) được chọn theo phương pháp xác suất từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM BCTN của các DN là trọng tâm của nghiên cứu vì vai trò chính của nó trong giao tiếp giữa các doanh nghiệp và các bên liên quan tại Việt Nam
Người nghiên cứu chọn phương pháp chỉ số CBTT để đo lường mức độ CBTT sau đó tiến hành thu thập thông tin của nhân tố bị tác động dựa trên phương pháp đo lường không trọng số
Phương pháp đo lường các nhân tố tác động đã được xây dựng và phục vụ cho công tác thu thập thông tin Mô hình được phân tích dựa trên các phương pháp như thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định t-test và phân tích hồi quy bội
Chương kế tiếp cung cấp số liệu thống kê mô tả cho biến phụ thuộc và biến độc lập