Xji j = 1, 2,…, n là biến độc lập – các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên bao gồm các yếu tố về đặc điểm cá nhân và năng lực của sinh viên như nơi cư trú, điểm trung bì
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Năm học 2016-2017
TÊN ĐỀ TÀI:
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Xác nhận trưởng đơn vị chủ trì Xác nhận chủ nhiệm đề tài:
(ký, ghi rõ họ tên, chức vụ) (ký, ghi rõ họ tên)
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỜI GIAN
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY KHOA TÀI CHÍNH KẾ TOÁN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 Giới thiệu 5
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan 5
Kết luận chương 1 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 8
2.1 Cơ sở lý luận về tự học 8
2.1.1 Khái niệm tự học 8
2.1.2 Vai trò của tự học trong quá trình dạy học 8
2.1.3 Các hình thức khác nhau của tự học 10
2.1.4 Cơ sở lý thuyết về tự học 11
2.2 Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học 12
2.2.1 Các yếu tố về đặc điểm cá nhân, năng lực sinh viên 14
2.2.2 Các yếu tố về hoạt động giảng dạy 16
2.2.3 Yếu tố về cơ sở vật chất (Máy tính cá nhân, Internet) 17
Kết luận chương 2 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Quy trình nghiên cứu 20
3.2 Nghiên cứu định tính 21
3.3 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 23
3.3.1 Mẫu nghiên cứu 23
Trang 43.3.2 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.4 Nghiên cứu định lượng 23
3.4.1 Thống kê mô tả 24
3.3.2 Phân tích tương quan 24
3.3.3 Kiểm định t-test 24
3.3.4 Phân tích hồi quy đa biến 25
Kết luận chương 3 26
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Thực trạng thời gian tự học của sinh viên khoa Tài chính kế toán trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức 27
4.1.1 Thông tin về mẫu điều tra sinh viên 27
4.1.2 Thực trạng thời gian tự học của sinh viên 27
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học sinh viên khoa Kế toán trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức 29
4.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 29
4.2.2 Kiểm định t-test 30
4.2.3 Phân tích mối tương quan 31
4.2.4 Kết quả hồi quy đa biến 33
4.2.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 35
Kết luận chương 4: 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề xuất 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 2
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các biến độc lập được lựa chọn đưa vào mô hình 14
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 20
Bảng 3.1: Mô tả tóm tắt các biến độc lập và phụ thuộc trong mô hình hồi quy đa biến 22
Bả ng 4.1: Thống kê chi tiết mẫu điều tra 27
Bả ng 4.2: Hệ số số tiết tự học trên số tiết lên lớp của sinh viên 28
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến độc lập 30
Bảng 4.4 Kiểm định t-test các biến định tính 2 nhóm 31
Bảng 4.5 Ma trận phân tích tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 32
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy đa biến 34
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định giả thiết 35
Trang 7Chính vì vậy, trong lịch sử giáo dục ở Việt Nam, yếu tố tự học luôn được đề cao
và khuyến khích Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị lần 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI nhấn mạnh: “Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…coi trọng tự học” Luật Giáo dục (2005) chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học thời gian tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Trong hoạt động học tập ở trường cao đẳng, đại học, tự học được xem là nhiệm
vụ học tập chính yếu của sinh viên Tự học không những giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thái độ nghề nghiệp đúng đắn mà còn giúp sinh viên rèn luyện nhân cách, hình thành thói quen học nữa, học mãi Tự học là đặc biệt cần thiết đối với các chương trình đào tạo theo hình thức tín chỉ Học tín chỉ, thực chất là dành quyền chủ động cho sinh viên tự sắp xếp thời gian để tự học và nghiên cứu Lên lớp, giảng viên chỉ có vai trò dẫn dắt và định hướng, còn lại sinh viên phải tự tìm hiểu và nghiên cứu Theo chương trình tín chỉ, giờ lên lớp ít hơn thay vào đó là thời gian tự học
tự nghiên cứu Nhưng ngoài giờ lên lớp, đa số sinh viên dành thời gian còn lại để thực hiện các mục đích cá nhân, thiếu ý thức tự học tự nghiên cứu, dẫn đến có một số lượng
Trang 8Trang 2
lớn sinh viên có kết quả học tập không tốt, tinh thần sa sút, thất nghiệp sau khi ra trường, vướng vào tệ nạn xã hội… Đó cũng do ý thức cá nhân và việc sử dụng thời gian quý báu không đúng mục đích
Tại Trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức, kể từ năm 2009 các chương trình đào tạo bậc cao đẳng được chuyển sang đào tạo theo hình thức tín chỉ Tuy nhiên, ngoài giờ lên lớp, sinh viên có rất nhiều hoạt động khác nhau ngoài tự học như hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn hóa văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao, hoạt động vui chơi giải trí và hoạt động tạo thu nhập Có rất nhiều yếu tố vừa chủ quan, vừa khách quan ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp cho việc tự học Và từ thực tế hoạt động giảng dạy, tôi nhận thấy đa số sinh viên chưa đầu tư thời gian đúng mức cho việc tự học, điều này dẫn đến kết quả học tập của sinh viên chưa cao, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của nhà trường
Vì vậy, vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh
viên là vấn đề cần được quan tâm Trước thực tế đó, tôi chọn nghiên cứu chủ đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên chính quy khoa Tài chính Kế toán trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức” để có thể đưa ra những kết luận và giải
pháp nhằm tạo điều kiện, khai thác hợp lý thời gian tự học của sinh viên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên chính quy khoa Tài chính kế toán tại trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức
Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên chính quy khoa Tài chính kế toán tại trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức
Đề xuất một số giải pháp nhằm nhằm tạo điều kiện, khai thác hợp lý thời gian tự học của sinh viên
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Sinh viên hệ chính quy tập trung được đào tạo theo học chế tín chỉ khoá 14, 15 khoa Tài chính kế toán trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
Trang 9Trang 3
n
j
=1
Đối tượng nghiên cứu: Thời gian tự học của sinh viên chính quy khoa Tài chính
kế toán tại trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thời gian tự học trong việc học tập tại trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức của sinh viên ngành Kế toán được đào tạo theo học học chế tín chỉ bao gồm khoá 14, 15 trong thời gian từ tháng 07/2016 đến tháng 01/2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết có liên quan, tiến hành điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp
Phương pháp định lượng: thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS
Mô hình nghiên cứu dự kiến:
Yi 0 j X ji i
Y là biến phụ thuộc - thời gian tự học của sinh viên Thời gian tự học bao gồm thời gian làm bài tập nhóm, thời gian xem bài trước và sau khi lên lớp, thời gian tìm kiếm tài liệu, học tập từ internet, thư viện
Xji (j = 1, 2,…, n) là biến độc lập – các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên bao gồm các yếu tố về đặc điểm cá nhân và năng lực của sinh viên (như nơi
cư trú, điểm trung bình tích lũy, làm thêm ngoài giờ…); các yếu tố về hoạt động giảng dạy (tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm, tỷ lệ học phần yêu cầu thuyết trình…); và các yếu tố về cơ sở vật chất hỗ trợ tự học (máy tính cá nhân, internet…)
6 Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Trang 4
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Trang 11có một số rất ít các nghiên cứu quan tâm Ngoài giờ lên lớp, sinh viên còn có rất nhiều hoạt động khác nhau ngoài tự học như: hoạt động chính trị xã hội, hoạt động văn hoá nghệ thuật, hoạt động thể thao, hoạt động vui chơi giải trí và hoạt động tạo thu nhập Do
đó, có rất nhiều yếu tố vừa chủ quan, vừa khách quan ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên cho việc tự học
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan
1.2.1 Ở nước ngoài
Nghiên cứu của Barbara S Grave (2010) về “The Effect of Student Time Allocation
on Academic Achievement” Nghiên cứu phân tích hiệu quả của việc sử dụng thời gian
lên thành tích của sinh viên, song song đó, nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa giới tính, năng lưc sinh viên và thời gian tự học Kết quả cho thấy giới tính không ảnh hưởng tới thời gian tự học của sinh viên, tuy nhiên, năng lực của sinh viên có khác biệt, những sinh viên có học lực trên mức trung bình dành nhiều thời gian cho tự học hơn
1.2.2 Ở trong nước
Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự (2014) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến
thời gian tự học của sinh viên: trường hợp của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ” Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thời
gian tự học của sinh viên Khoa Kinh tế & Quản trị Kinh doanh được thực hiện dựa trên
bộ dữ liệu khảo sát từ 523 sinh viên Tác giả xây dựng mô hình hồi quy nhằm xác định ảnh hưởng của 13 biến độc lập lên thời gian tự học là: giới tính, nơi ở, loại sinh viên, điểm đậu đại học, điểm trung bình tích lũy, thâm niên học tập tại trường, làm thêm ngoài giờ, kế hoạch học tập, số tín chỉ đăng ký trong một học kỳ, tỷ lệ học phần có làm bài tập
nhóm trong tổng số học phần trong học kỳ đang học, máy tính cá nhân, internet Kết quả
nghiên cứu cho thấy giới tính, nơi cư trú SV, điểm đậu đại học, năm học đại học, điểm
Trang 13ít các nghiên cứu nước ngoài quan tâm
Do đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây, kết hợp với cơ sở các lý thuyết về vấn
đề tự học để hình thành đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh
viên chính quy khoa Tài chính Kế toán trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức”
Trang 14Trang 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng
do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định
Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn (2002) tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định Có nhiều khía cạnh liên quan đến tự học như thời gian dành cho tự học,
kỹ năng tự học, tính tích cực tự học… Trong nghiên cứu này, phạm vi chỉ nghiên cứu
về “thời gian tự học” ngoài giờ lên lớp
2.1.2 Vai trò của tự học trong quá trình dạy học
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học, cao đẳng nói riêng, GV luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của SV Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù GV có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng SV không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp
lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được
Trang 15Trang 9
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
Khi bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: “Tự học,
tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình
tự giáo dục Qui mô của giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” (Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày 6/1/1998) Học ở đại học, cao đẳng, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn
và khó, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông qua hoạt động tự học này
đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập biểu hiện
Thứ nhất, tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới
Thứ hai, tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp sinh viên
mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học
Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, cao đẳng, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn
có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo
Trang 16Trang 10
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tập thể sinh viên trong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng và hiệu quả
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học
Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang bước vào cuộc
sống
2.1.3 Các hình thức khác nhau của tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
* Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có
sách và sự hướng dẫn của GV
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
* Hình thức 2: Tự học có tài liệu nhưng không có GV bên cạnh
Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong tài liệu qua
đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời
* Hình thức 3: Sinh viên tự học dưới sự định hướng của GV
Trong quá trình tự học theo hình thức này, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn những yêu cầu do giáo GV đề ra Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học của
Trang 17Trang 11
SV có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong
đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của GV và quá trình tự học của SV Trong nghiên cứu này, thời gian dành cho tự học được hiểu là thời gian ngòai giờ lên lớp mà SV tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách và sự hướng dẫn của GV, hoặc tự học có tài liệu nhưng không có GV bên cạnh, hoặc SV tự học dưới
sự định hướng trước của GV
sự ham hiểu biết của người học, luôn coi người học vừa là mục đích, vừa là chủ thể của quá trình dạy học Dạy học “lấy người học làm trung tâm” có tư tưởng chủ đạo là tổ chức cho sinh viên hoạt động tích cực, sáng tạo, lấy tự học làm chính Một giảng viên sáng tạo là người biết giúp đỡ sinh viên tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học
- Người học tự khai phá tri thức, tự nghiên cứu; giảng viên chỉ hướng dẫn và cung cấp thông tin
- Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình; người thầy chỉ làm trọng tài
- Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh, thầy chỉ làm cố vấn
Sinh viên làm trung tâm, còn được gọi là giáo dục người học làm trung tâm, rộng rãi bao gồm các phương pháp giảng dạy mà chuyển trọng tâm giảng dạy từ các giảng viên đến sinh viên Trong cách sử dụng ban đầu, sinh viên làm trung tâm nhằm phát triển tự chủ học và độc lập bằng cách đặt trách nhiệm cho con đường học tập trong tay của sinh viên
Trang 18Trang 12
b Lý thuyết "time for self study"
Henk G Schmidt và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu lý thuyết "time for self study" dựa trên nền tảng của lý thuyết về sự kiên trì học tập của sinh viên của Tinto (1987)
Trong lý thuyết này, thời gian dành cho việc tự học đóng vai trò trung tâm Việc đầu tư nhiều thời gian cho việc tự học giúp sinh viên có nhiều cơ hội vượt qua các kỳ thi học kỳ và kỳ thi tốt nghiệp Lý thuyết cũng đưa ra kết luận rằng trong một quỹ thời gian nhất định, việc phân bổ thời gian cho các hoạt động khác (như thời gian lên lớp, hoạt động chính trị xã hội, hoạt động thể dục thể thao, hoạt động tạo thu nhập) càng nhiều thì thời gian dành cho tự học càng ít Mặt khác, lý thuyết cho thấy các bài giảng tích cực trên lớp đóng một vai trò nhất định: (1) định hướng những vấn đề trọng tâm cho sinh viên, giúp họ phân bổ thời gian tự nghiên cứu một cách thích hợp, (2) những giảng viên giỏi tạo ra những chủ đề thú vị đóng vai trò như động lực học tập cho sinh viên, (3) Giảng viên hỗ trợ sinh viên trong việc tìm hiểu những vấn đề khó khăn và đó là ba điều kiện quan trọng cho việc học diễn ra
2.2 Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học
Trên cơ sở lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu trước, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài, ban đầu, các nhân tố ảnh hưởng tới thời gian tự học được tác giả chia các nhóm như sau:
✓ Các yếu tố về đặc điểm cá nhân và năng lực của sinh viên như giới tính, nơi cư
trú, điểm trung bình tích lũy, thời gian làm thêm,
✓ Các yếu tố về hoạt động giảng dạy: tỷ lệ học phần có giao bài tập nhóm
✓ Các yếu tố về cở sở vật chất: Máy tính cá nhân, Internet
Đề tài sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu để hiệu chỉnh
các biến độc lập trên với sự tham gia của 01 giảng viên khoa Tài chính kế toán (Cô Huỳnh Thị Hiền) và 10 sinh viên được lựa chọn ngẫu nhiên, thời gian phỏng vấn mỗi đối tượng là 10 phút
Dàn bài thảo luận được trình bày ở Phụ lục 1 Kết quả thảo luận (phụ lục 2) giúp
tác giả có cơ sở quyết định 02 vấn đề:
Trang 19Trang 13
(1) Lược bỏ:
Biến giới tính được lược bỏ ra khỏi mô hình Các đối tượng được phỏng vấn đều
đồng ý với quan điểm sinh viên nữ thường dành thời gian tự học nhiều hơn sinh viên nam Tuy nhiên, đặc thù của sinh viên khoa Tài chính kế toán đa phần là nữ nên tác giả quyết định loại bỏ biến này khỏi mô hình
(2) Bổ sung:
Bổ sung thêm ba biến là “tham gia hoạt động ngoại khóa”, “tỷ lệ học phần có
yêu cầu thuyết trình” và “tỷ lệ học phần được cung cấp đầy đủ tài liệu” Lý do:
- Thứ nhất, theo lý thuyết "time for self study", việc sinh viên phân bổ thời gian cho các hoạt động khác sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới thời gian tự học Do đó, SV dành thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa thì thời gian để tự học cũng ít hơn các SV khác, đa phần các đối tượng được phỏng vấn đều đồng ý điều này
- Thứ hai, các đối tượng phỏng vấn khi được hỏi về hoạt động giảng dạy nào của giảng viên ảnh hưởng tới thời gian tự học thì đa phần đều cho rằng ngoài giao bài tập nhóm, một số môn học có yêu cầu sinh viên thuyết trình, việc này đòi hỏi cần có
sự chuẩn bị bài trước như họp nhóm, tìm kiếm tài liệu, làm slide trình chiếu…đòi hỏi sinh viên phải dành một lượng thời gian tự học nhất định để chuẩn bị
- Ngoài ra, khi một số giảng viên cung cấp các tài liệu phong phú, các nguồn tài liệu có liên quan đến môn học, đó là điều kiện để sinh viên có thể dễ dàng tiếp thu đầy đủ các kiến thức của môn học, bên cạnh việc lắng nghe trên lớp, sinh viên có thể
tự học tại nhà dễ hơn
Như vậy, sau khi thực hiện phỏng vấn sâu, các biến độc lập mà tác giả lựa chọn
để đưa vào mô hình như sau:
✓ Các yếu tố về đặc điểm cá nhân và năng lực của sinh viên: nơi cư trú, điểm trung
bình tích lũy, thời gian làm thêm, tham gia hoạt động ngoại khóa
✓ Các yếu tố về hoạt động giảng dạy: tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm, tỷ lệ học
phần có yêu cầu thuyết trình, tỷ lệ học phần được giảng viên cung cấp đầy đủ tài liệu
✓ Các yếu tố về cở sở vật chất: Máy tính cá nhân, Internet
Trang 20Trang 14
Bảng 2.1 Các biến độc lập được lựa chọn đưa vào mô hình
cộng sự (2014) Điểm trung bình tích lũy Kế thừa từ mô hình Nguyễn Hữu Đặng và
cộng sự (2014) Thời gian làm thêm Kế thừa từ mô hình Nguyễn Hữu Đặng và
cộng sự (2014)
(dựa trên cơ sở lý thuyết và phỏng vấn sâu)
Tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm Kế thừa từ mô hình Nguyễn Hữu Đặng và
cộng sự (2014)
Tỷ lệ học phần có yêu cầu thuyết trình Phát triển
(dựa trên cơ sở lý thuyết và phỏng vấn sâu)
Tỷ lệ học phần được giảng viên cung
cấp đầy đủ tài liệu
Phát triển (dựa trên cơ sở lý thuyết và phỏng vấn sâu) Máy tính cá nhân Kế thừa từ mô hình Nguyễn Hữu Đặng và
cộng sự (2014)
cộng sự (2014)
2.2.1 Các yếu tố về đặc điểm cá nhân, năng lực sinh viên
➢ Nơi cư trú, điểm trung bình tích lũy
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học chỉ mới có một số ít các nghiên cứu quan tâm Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự (2014) trong nghiên cứu “Các yếu
tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên: trường hợp của sinh viên khoa kinh tế
và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ” đã tìm ra chủ yếu các đặc điểm thuộc
về cá nhân và năng lực sinh viên (như giới tính, nơi cư trú SV, điểm đậu đại học, điểm trung bình tích luỹ) có ảnh hưởng tới thời gian tự học Nghiên cứu của Barbara S Grave
Trang 21Trang 15
(2010) cũng cho kết luận rằng năng lực của sinh viên có ảnh hưởng tích cực tới thời gian cho tự học Và theo Gettinger (1985), kiến thức và kỹ năng của sinh viên có tác động tích cực đến năng lực tự học và khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên, từ đó, tác động tích cực tới thời gian tự học
Cuộc phỏng vấn sâu với 1 Giảng viên và 10 sinh viên (phụ lục 1,2), đa số cũng
cho kết luận rằng các bạn ở ký túc xá dành nhiều thời gian tự học hơn các bạn ở nơi khác và những sinh viên học lực khá, giỏi thì ý thức tự học cũng cao hơn, vì vậy dành nhiều thời gian cho tự học hơn Từ đây, tác giả đưa ra một số các giả thuyết như sau:
Giả thuyết H1: Sinh viên ở ký túc xá dành thời gian cho tự học nhiều hơn sinh viên
ở nơi khác
Giả thuyết H2: Điểm trung bình tích lũy tác động tích cực tới thời gian tự học
➢ Thời gian làm thêm
Lý thuyết "time for self study" phát biểu rằng nếu sinh viên dành thời gian cho các hoạt động khác như hoạt động tạo thu nhập sẽ ảnh hưởng tới thời gian tự học Theo Vossensteyn (2009), sinh viên có thời gian đi làm thêm càng nhiều thì thời gian dành cho học tập càng ít và kết quả học tập của sinh viên càng kém và thậm chí bỏ học Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự (2014) cũng cho thấy sinh viên làm thêm càng nhiều thì thời gian dành cho tự học càng ít
Giả thuyết H3: Thời gian đi làm thêm ảnh hưởng tiêu cực tới thời gian dành cho
tự học
➢ Tham gia hoạt động ngoại khóa
Theo lý thuyết "time for self study", việc sinh viên phân bổ thời gian cho các hoạt động khác sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới thời gian tự học, tương tự như vậy, sinh viên có tham gia hoạt động ngoại khóa trong học kỳ thì thời gian dành cho tự học ít hơn Đây
cũng là kết luận rút ra từ cuộc phỏng vấn
Giả thuyết H4: Sinh viên có tham gia hoạt động ngoại khóa dành ít thời gian cho
tự học hơn các sinh viên không tham gia hoạt động ngoại khóa
Trang 22Trang 16
2.2.2 Các yếu tố về hoạt động giảng dạy (tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm,
tỷ lệ học phần có yêu cầu thuyết trình, tỷ lệ học phần được giảng viên cung cấp đầy
Hiện nay, phương pháp “lấy người học là trung tâm” là phương pháp nhận được nhiều sự đồng tình trong việc tạo ra các bài giảng tích cực Phương pháp này bao gồm các phương pháp giảng dạy mà chuyển trọng tâm giảng dạy từ các giảng viên đến sinh viên thay vì giảng viên thuyết giảng như trước, phương pháp này đòi hỏi sự chủ động của sinh viên hơn như thảo luận, thuyết trình, làm bài tập nhóm, nghiên cứu tài liệu… nhằm phát triển tự chủ học và độc lập
Cuộc phỏng vấn và thảo luận chuyên sâu (phụ lục 1) mà tác giả tiến hành cũng
cho kết luận: sinh viên sẽ dành nhiều thời gian học nhóm ngoài giờ lên lớp, đọc tài liệu trước ở nhà, tìm tài liệu trên mạng và học ở thư viện nếu trong môn học đó giảng viên giao bài tập nhóm về nhà, yêu cầu thuyết trình Ngoài ra, việc GV cung cấp đầy đủ các tài liệu chính, tài liệu tham khảo hoặc các nguồn tài liệu khác có liên quan đến môn học cũng là tiền đề khuyến khích SV dành thời gian tự nghiên cứu Do đó, tác giả đưa ra những kỳ vọng sau:
Giả thiết H5: tỷ lệ học phần có bài tập nhóm tác động tích cực tới thời gian tự học
Giả thiết H6: tỷ lệ học phần có yêu cầu thuyết trình tác động tích cực tới thời gian tự học
Giả thiết H7: tỷ lệ học phần được giảng viên cung cấp đầy đủ tài liệu tác động tích cực tới thời gian tự học
Trang 232.2.3 Yếu tố về cơ sở vật chất (Máy tính cá nhân, Internet)
Trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức hiện nay trang bị thư viện với đầy đủ sách, báo, không gian, máy vi tính và wifi hỗ trợ cho việc tự học Do đó, nếu sinh viên
tự học ở thư viện trường, điều kiện về cở sở vật chất không mấy khác biệt, tuy nhiên
nếu sinh viên học ở nhà thì đa phần những sinh viên được phỏng vấn (phụ lục 1) cho
rằng ngoài các yếu tố trên, sinh viên sẽ dành nhiều thời gian tự học hơn nếu có máy tính
cá nhân và tại nơi cư trú có internet, do đó, việc có máy tính cá nhân và internet tại nơi
cư trú thì sẽ tác động tích cực hơn tới thời gian tự học Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự (2014) cũng cho rằng cơ sở vật chất như Máy tính cá nhân, Internet tác động tích cực tới thời gian tự học Giả thiết được đưa ra ở đây là:
Giả thiết H8: Sinh viên có máy tính cá nhân thì có thời gian cho tự học nhiều hơn những sinh viên khác
Giả thiết H9: Sinh viên có trang bị Internet ở nơi cư trú thì dành thời gian cho tự học nhiều hơn
2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nghiên cứu tiến hành đo lường tác động của chín yếu tố đến thời gian tự học Dựa trên các giả thiết được đưa ra, mô hình hồi quy tổng thể được đề nghị trong nghiên cứu này để kiểm định các giả thuyết nêu trên có dạng như sau:
Yi 0 j X ji i
Trong đó:
ε: sai số ngẫu nhiên
Y là biến phụ thuộc - thời gian tự học của sinh viên Theo Quy chế đào tạo đại học
và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành theo Quyết định số
43/2007/QĐ- BGDĐT, ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo “đối với
những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” Trong đó, số tín chỉ trong một học kỳ
thể hiện khối lượng học tập của sinh viên trong học kỳ đó, được quy ra số tiết học Căn
cứ theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BGDĐT, thời gian tự học của sinh viên được đo lường bằng hệ số tiết tự học trên một tiết lên lớp (45 phút) Hệ số này được tính bằng
Trang 24Trang 18
H3- H4-
Xji (j = 1, 2,…, 9) là biến độc lập – các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên bao gồm các yếu tố về đặc điểm cá nhân và năng lực của sinh viên (như nơi
cư trú, điểm trung bình tích lũy, thời gian làm thêm, tham gia ngoại khóa); các yếu tố
về hoạt động giảng dạy (tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm, tỷ lệ học phần có yêu cầu thuyết trình, tỷ lệ học phần cung cấp đầy đủ tài liệu); và các yếu tố về cơ sở vật chất hỗ trợ tự học (máy tính cá nhân, internet)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Thời gian làm thêm
Điểm trung bình tích lũy
tự học
Máy tính cá nhân
Internet
Trang 25Trang 19
Kết luận chương 2
Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết về thời gian tự học và các yếu tố ảnh hưởng tới thời gian tự học Các lý thuyết được đưa ra bao gồm lý thuyết "time for self-study", phương pháp lấy người học làm trung tâm
Dựa trên các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu có liên quan và kết quả phỏng vấn sâu
1 Giảng viên và 10 sinh viên, nghiên cứu đưa ra chín yếu tố tác động đến thời gian tự học bao gồm: nơi cư trú, điểm trung bình tích lũy, thời gian làm thêm, tham gia ngoại
khóa, tỷ lệ học phần có làm bài tập nhóm, tỷ lệ học phần có yêu cầu thuyết trình, tỷ lệ học phần giảng viên cung cấp đầy đủ tài liệu, máy tính cá nhân, Internet
Trang 26Trang 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Điều chỉnh biến, thang đo
Nghiên cứu sơ bô ̣
- Nghiên cứ u đi ̣nh lượng (n=140)
- Khảo sát 140 sinh viên khóa 14 và 15
- Mã hoá, làm sa ̣ch dữ liê ̣u
- Phân tích dữ liê ̣u
- Phân tích kết quả
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu chi ́nh thức
VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Trang 27Trang 21
3.2 Nghiên cứu định tính
Đề tài sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới thời gian tự học (đã trình bày ở chương 2), hiệu chỉnh thang đo và đảm bảo rằng các đối tượng phỏng vấn hiểu đúng ý nghĩa câu hỏi trong phiếu khảo sát Đối tượng được phỏng vấn là 1 Giảng viên khoa Tài chính kế toán và 10 sinh viên của khóa 14, 15 khoa Tài chính kế toán được lựa chọn ngẫu nhiên
Dàn bài thảo luận được trình bày ở Phụ lục 1 Tất cả thang đo tác giả dự kiến mà
theo các đối tượng phỏng vấn đều phù hợp Tuy nhiên, qua phỏng vấn tác giả có điều chỉnh một số các câu hỏi khảo sát như sau:
Câu hỏi Lý do điều chỉnh Câu hỏi sau điều chỉnh
Tổng thời gian lên
lớp trong 1 tuần
Trong một học kỳ, thời lượng các môn không đồng đều, có môn kết thúc sớm, kết thúc trễ Do đó, tổng thời gian lên lớp trong 1 tuần ở các tuần đầu và tuần cuối khác nhau
Để thống nhất câu trả lời của các đối tượng khảo sát, tổng thời gian lên lớp trong một tuần được giới hạn trong khoảng 10 tuần đầu của học kỳ I (2016-2017)
Tổng thời gian lên lớp trong 1 tuần ( trong 10 tuần đầu của học kỳ I (2016-2017)
Tổng thời gian bình quân bạn dành cho tự học trong
1 tuần (trong 10 tuần đầu của học kỳ I (2016-2017)
Bảng hỏi khảo sát sau điều chỉnh được trình bày ở phụ lục 2
Thang đo các biến trong mô hình được trình bày ở bảng sau:
Trang 28Trang 22
Bảng 3.1: Mô tả tóm tắt các biến độc lập và phụ thuộc trong mô hình hồi quy
đa biến
X1 Nơi cư trú Biến giả: SV ở ký túc xá = 1; các trường
hợp khác = 0
X2 Điểm trung bình tích lũy Điểm trung bình tích lũy đến học kỳ II
(2015-2016), đo lường thang điểm 10
X3 Làm thêm Số giờ làm thêm của sinh viên trong một
tuần (giờ)
X4 Tham gia hoạt động ngoại khóa
Biến giả: SV có tham gia hoạt động ngoại khóa trong học kỳ hiện tại =1; không tham gia = 0
X5 Tỷ lệ HP có bài tập nhóm Tỷ lệ số học phần có yêu cầu làm bài tập
X8 Máy tính cá nhân Biến giả: nếu SV có máy tính cá nhân =
Trang 29Trang 23
3.3 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
3.3.1 Mẫu nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là sinh viên khóa 14, 15 khoa Tài chính Kế toán trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức Tính đến học kỳ I năm học 2016-2017, tổng số lượng sinh viên khóa 14 và 15 của khoa Tài chính kế toán là khoảng 460 sinh viên Mẫu điều tra thu thập được chọn theo phương pháp xác suất (chọn ngẫu nhiên) trong tổng số
460 sinh viên Tác giả sử dụng công thức chọn mẫu sau:
Với e = 7%, N = 460, kích thước mẫu (n) tính được là 140 sinh viên Số lượng
này chiếm khoảng 30,4% của tổng thể
3.3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 140 quan sát được điều tra vào tháng 12/2016 bằng phiếu khảo sát (phụ lục 3) sinh viên chính quy khóa 14, 15 của Khoa Tài chính kế toán
Số phiếu khảo sát phát ra là 200 phiếu bao gồm: 100 phiếu cho sinh viên khóa 15
và 100 phiếu cho sinh viên khóa 14 Số phiếu khảo sát thu về là 183 phiếu, từ đó, tác giả chọn ra 140 phiếu điền đầy đủ thông tin và hợp lệ
Các thông tin trong bảng câu hỏi bao gồm các thông tin về cá nhân sinh viên, đặc điểm các môn học, điều kiện cơ sở vật chất và phân bổ thời gian trung bình cho các hoạt động tự học trong tuần ở học kỳ I năm học 2016-2017
3.4 Nghiên cứu định lượng
Quá trình nghiên cứu định lượng được tiến hành sau khi hiệu chỉnh thang đo thông qua bảng câu hỏi khảo sát chính thức Sau đó, tác giả tiến hành làm sạch dữ liệu, mã hóa
dữ liệu với công cụ phân tích là phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện các phương pháp phân tích sau:
Trang 30Trang 24
3.4.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả hoặc suy luận về một tập dữ liệu, hay nói cách khác nó là công cụ để tóm tắt và trình bày dữ liệu Trong nghiên cứu này, thống kê
mô tả được sử dụng để tính toán số quan sát, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
và độ lệch chuẩn của biến phụ thuộc và độc lập
3.3.2 Phân tích tương quan
Phân tích tương quan đo lường ảnh hưởng hay liên hệ giữa các biến định lượng trong phương trình hồi quy Hai biến được coi là có mối tương quan chặt chẽ khi hệ số tương quan từ 0.3 trở lên (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Trong nghiên cứu này, kiểm định Pearson được thực hiện để phát hiện mối tương quan giữa
các biến định lượng trong mô hình là điểm trung bình tích lũy, thời gian làm thêm, tỷ lệ
HP có BT nhóm, tỷ lệ HP có thuyết trình và thời gian tự học
Nghiên cứu này sử dụng hệ số tương quan Pearson không chỉ để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, mà còn để phát hiện các vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến Đa cộng tuyến tồn tại khi hai hay nhiều biến độc lập có mối tương quan rất cao với nhau Nếu đa cộng tuyến tồn tại trong một phương trình, nó có thể gây khó khăn trong việc phân biệt những tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, chỉ số thường dùng là hệ số phóng đại phương sai VIF (variance inflation factor) Thông thường, nếu VIF của biến độc lập nào đó lớn hơn 5 thì hiện tượng đa cộng tuyến có thể xảy ra (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
3.3.3 Kiểm định t-test
Kiểm định t-test được sử dụng để mô tả về giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến định tính cũng như đánh giá mức độ giải thích biến phụ thuộc của các biến định
tính Kiểm định t-test giúp phát hiện sự khác biệt về thời gian tự học của hai nhóm trong
một biến Dựa vào kiểm định này, ta có thể biết được hai nhóm của một biến có giá trị
trung bình khác biệt về thời gian tự học hay không Nếu khác biệt đó càng lớn thì mức
độ ảnh hưởng của biến đó lên thời gian tự học càng lớn và ngược lại Nghiên cứu sử
Trang 31Trang 25
dụng t-test để kiểm tra các biến: nơi cư trú, tham gia hoạt động ngoại khóa, máy tính cá
nhân, internet
3.3.4 Phân tích hồi quy đa biến
Phân tích hồi quy là một công cụ thống kê thường được sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ tuyến tính giữa một biến phụ thuộc duy nhất và một tập hợp các biến dự báo Khi sử dụng mô hình hồi quy bội chúng ta cần chú ý sự phù hợp và kiểm tra các giả thuyết của nó Trong nghiên cứu này, phân tích hồi quy dùng để kiểm tra các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7, H8, H9 đã nêu ở chương hai
Trang 33
Trang 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng thời gian tự học của sinh viên khoa Tài chính kế toán trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
4.1.1 Thông tin về mẫu điều tra sinh viên
Theo dữ liệu từ mẫu điều tra thực tế 140 sinh viên khoa Tài chính kế toán Trong đó,
có 74 sinh viên khóa 14 gồm có 3 nam (4.1%), 71 nữ (95.9%) và 66 sinh viên khóa 15
Nguồn: Kết quả khảo sát 140 sinh viên khoa TCKT, 2016
Từ kết quả điều tra thực tế, sinh viên khoa Kế toán hiện nay hầu hết là sinh viên nữ, điều này phù hợp đối với đặc điểm của khoa Kế toán trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
4.1.2 Thực trạng thời gian tự học của sinh viên
Thời gian tự học của sinh viên là quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp được sinh viên sử dụng cho các hoạt động ngoài lớp học như làm bài tập nhóm, chuẩn bị bài thuyết trình, đọc tài liệu trước và sau khi lên lớp, đọc tài liệu từ internet, thư viện Kết quả khảo sát thời gian tự học của sinh viên khoa Tài chính kế toán được trình bày ở Bảng 4.2