MÔN LUẬT DÂN SỰ Hãy xây dựng một tình huống hoặc sưu tầm một vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do giao dịch được xác lập vào thời điểm một hoặc các bên tham gia giao dịch không nhận thứ.
Trang 1MÔN LUẬT DÂN SỰ
Hãy xây dựng một tình huống hoặc sưu tầm một vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do giao dịch được xác lập vào thời điểm một hoặc các bên tham gia giao dịch không nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên cơ sở của pháp luật Việt Nam hiện hành.
I Mở đầu:
Căn cứ Điều 133 Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành quy định Giao
dịch dân sự bị vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Điều 121 Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành “Giao dịch dân sự là hợp
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Điều 123 quy định “Mục đích của giao dịch dân sự
là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch.” Căn cứ vào giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1) – Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội-2014 :
Theo Từ điển tiếng Việt, “vô hiệu” tức là không có hiệu lực, do vậy, có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực.Về nguyên tắc, giao dịch không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch dân sự nói riêng cũng như thiết lập trật tự kỷ cương của xã hội nói chung
Trang 2Các loại giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân
sự vô hiệu:
Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối
Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi rơi vào các trường hợp vi phạm Điều 128, Điều 129 và Điều 134 Bộ luật dân sự 2005
Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
Một giao dịch dân sự bị coi la vô hiệu tương đối khi rơi vào các trường hợp vi phạm Điều 130, Điều 131, Điều 132 và Điều 133 Bộ luật dân sự 2005 Hậu quả pháp lý: Cả hai trường hợp Tòa án đều ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự là vô hiệu Nhưng bản chất của hai quyết định này thì hoàn toàn khác nhau Giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối bị coi là
vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa án Hay có thể nói cách khác, nó vô hiệu ngay cả khi không có quyết định của Tòa án.Như vậy, có thể hiểu quyết định của Tòa án trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối chỉ là một trong những hình thức công nhận sự vô hiệu của giao dịch dựa trên các quy định của pháp luật Đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì quyết định của Tòa án là căn cứ duy nhất để có thể làm cho giao dịch dân sự trở nên vô hiệu Quyết định của Tòa án mang tính phán xử
II Nội dung
1 Tình huống
Đây là tình huống về giao dịch dân sự bị vô hiệu do giao dịch được xác lập vào thời điểm một bên tham gia giao dịch không nhận thức và làm chủ hành vi của mình:
Khoảng đầu năm 2013, ông Hoàng Văn Đức Mạnh (1980) ( Số nhà 113, phố Nghiêng Ngã,thành phố Bà Rịa, tỉnhBà Rịa-Vũng Tàu) quen biết với ông Trần Đình Giang Hà (1984) (Số nhà 114, Đường Nguyễn Thái Học, Quận Ba Đình, TP Hà Nội), hai bên thường xuyên qua lại với nhau khi anh Mạnh đi
Trang 3công tác tại Hà Nội Sáng 7/3/2014, ông Mạnh nhờ Hà lấy xe máy chở đến thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương để bàn công việc làm ăn Trong chuyến đi, ông Hà có tâm sự rằng muốn bán chiếc xe máy đang dùng
để mua xe mới Cả hai trở về tối cùng ngày khoảng 19h Sau khi về đến Hà Nội, ông Mạnh mời ông Hà vào quán rượu của ông Nguyễn Thế Vinh Hoa (1972) (số nhà 85, đường Hai Bà Trưng, phường Dương Nội, quận Hà Đông,
TP Hà Nội) để uống rượu cảm ơn Sau khi uống vài chén rượu, ông Mạnh tâm
sự rằng muốn mua một chiếc xe máy cũ để làm phương tiện đi lại và ngỏ ý muốn mua lại chiếc xe của ông Hà Ông Hà đồng ý và cả hai viết hợp đồng mua bán ngay sau đó với sự làm chứng của chủ quán là ông Vinh Hoa Trong hợp đồng ghi rõ, ông Hà đồng ý bán chiếc xe máy Dream sản xuất năm 2010, biển kiểm soát 29A3-6969, số máy 113114, số khung 19008198, đang sử dụng cho ông Mạnh với giá 10.000.000 VND (10 triệu VND) (bằng 1/3 giá thị trường của chiếc xe lúc mua là 32.000.000 VND) Cả hai thoả thuận và ghi
rõ trong hợp đồng rằng: sáng ngày mai, tức 8/3/2014, ông Mạnh sẽ giao tiền
và ông Hà sẽ giao xe (cùng giấy tờ xe)
Sáng ngày 8/3/2014, ông Mạnh đem theo 10.000.000 VND đến nhà ông
Hà và đòi lấy xe Ông Hà không đồng ý Ông Mạnh đưa hợp đồng ra và cho rằng ông Hà đã ký vào hợp đồng nên phải thực hiện theo đúng thoả thuận đã ghi trong hợp đồng Ông Hà cho rằng lúc mình không nhớ là đã hứa bán xe với giá là 10.000.000 VND và ký hớp đồng với mạnh từ bao giờ nên cả hai bên xảy ra mâu thuẫn
2 Phương thức giải quyết:
Đối với hợp đồng giao dịch dân sự này có nhiều hướng giải quyết, các cá nhân có thể tự thỏa thuận, nhờ sự trợ giúp của bên thứ ba (ở đây có thể là các
tổ chức hòa giải), cuối cùng là nhờ đến sự can thiệp của Tòa án nhân dân nếu việc hòa giải bất thành
a Tự thỏa thuận:
Trang 4Muốn giải quyết mâu thuẫn đối với giao dịch dân sự này mà không cần thông qua Tòa án thì cách xử sự hợp lí nhất là các cá nhân tự thỏa thuận, việc thỏa thuận phải theo tinh thần các nguyên tắc được quy định trong Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 BLDS 2005, nhưng sự thỏa thuận giữa hai chủ thể
có thành công hay không thành công lại là một vấn đề khác
Khi có tranh chấp dân sự xảy ra, ưu tiên hàng đầu vẫn là các chủ thể tự thỏa thuận với nhau, khi các chủ thể gặp khó khăn trong việc thỏa thuận dẫn đến không đạt được kết quả mong muốn thì nên nhờ đến sự giúp đỡ của bên thứ ba là các tổ chức hòa giải Điểm cộng trong phương pháp này là đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém Khi hòa giải thành công, tức là ý chí của các bên được đáp ứng sẽ tránh được các mâu thuẫn về sau, do đó nguyên tắc hòa giải phản ánh truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Vấn đề đầu tiên: nếu giao dịch thỏa thuận thành công gọi tắt là thỏa thuận thành công, được hiểu giao dịch thỏa thuận được hiểu là giao dịch do các bên (giữa người mua và người bán) tự thỏa thuận với nhau về giá cả hoặc khối lượng Như vậy thì trong trường hợp này thì ông Hà giao xe và ông Mạnh giao tiền, tức là đã có sự thỏa thuận về phương thức thanh toán (tiền), giá cả như thế nào là do các bên tự thỏa thuận (có thể cao hơn hoặc thấp hơn
so với hợp đồng trước đó)
Đối với trường hợp ông Hà không muốn bán và ông Mạnh không muốn mua nữa, có thể do tác động của các yếu tố chủ quan như tình cảm, thái độ, tâm lí… thì hợp đồng giữa họ chấm dứt Theo cá nhân tôi đó cũng là một sự thỏa thuận thành công vì hai bên vẫn chưa có thiệt hại gì đáng kể
Vần đề thứ hai: Sự thỏa thuận giữa họ bất thành tức là không đạt được ý chí chung về giá cả hoặc khối lượng giữa người mua và người bán (ở đây là giá tiền của chiếc xe máy) mà giữa họ vẫn kiên quyết đến cùng để thỏa mãn ý chí của họ thì nên nhờ đến các tổ chức hòa giải (thông tin về các tồ chức hòa giải cơ sở được ghi rõ trong pháp lệnh ủy ban thường vụ quốc hội số 09/1998/
Trang 5PL-UBTCQH ngày 25/12/1998) Với những chứng cứ đều có lợi cho anh Hà, bất lợi cho ông Mạnh (giám định pháp y xác định ông Hà bị chứng “say rượu bệnh lí”, có nhiều nhân chứng,…thỏa mãn Điều 133 Bộ Luật Dân Sự 2005) nên nếu Tòa án thụ lí hồ sơ thì ông Mạnh sẽ thua kiện Nếu tổ chức hòa giải nói cho ông Mạnh hiểu được như thế thì có khả năng ông Mạnh sẽ từ bỏ Nhìn chung, với hợp đồng giao dịch không lớn như thế này, việc mang
ra Tòa án để giải quyết tranh chấp là điều rất ít người thực hiện Vì cơ bản, họ
đã đạt được tiếng nói chung trong các đợt hòa giải ở cấp cơ sở Đối với các trường hợp tài sản lớn như nhà đất, ô tô…thì không những áp dụng điều 133 BLDS mà còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố nữa vì giao dịch ngoài hợp đồng giao dịch của hai bên còn kèm theo một vài điều kiện bắt buộc khác (giấy tờ công chứng và một số giấy tờ liên quan khác), tức là bản hợp đồng giao dịch
là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ Nhưng nếu giao dịch là kim cương hay bất kì một loại tài sản nào lớn mà không có đăng kí thì quả là một vấn đề rất nhức nhối và đòi hỏi phải chứng minh rất vất vả
Sau khi sử dụng phương pháp hòa giải mà hai bên không thống nhất hướng giải quyết, vẫn xảy ra tranh chấp Trong trường hợp này, ông Trần Đình Giang Hà nên đưa đơn lên Tòa án nhân dân để yêu cầu Tòa giải quyết tranh chấp.Trong thực tế pháp lý, rất hiếm thấy tranh chấp về giao dịch được thiết lập bởi một người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
b Ông Hà trình đơn nhờ tòa án giải quyết:
Tóm tắt lại sự việc: ông Trần Đình Giang Hà là chủ sở hữu chiếc xe
máy Exciter, BKS: 29A3 – 6969 Trong một lần vào nhậu trong quán của ông Nguyễn Thế Vinh Hoa với ông Hoàng Văn Đức Mạnh, sau khi uống vài chén rượu, Mạnh tâm sự rằng muốn mua một chiếc xe máy cũ để làm phương tiện
đi lại và ngỏ ý muốn mua lại chiếc xe của ông Hà Ông Hà đồng ý và cả hai viết hợp đồng mua bán ngay sau đó với sự làm chứng của chủ quán là ông Hoa Trong hợp đồng ghi rõ ông Hà đồng ý bán chiếc xe máy đang sử dụng
Trang 6cho ông Mạnh với giá 10.000.000 VND (bằng 1/3 giá thị trường của chiếc xe) Cả hai thoả thuận và ghi rõ trong hợp đồng rằng sáng ngày mai, tức 8/3/2014, sẽ giao tiền và xe (cùng giấy tờ xe) Sau khi nhậu xong hai ông ra
về trong tình trạng say xỉn nên đã gọi taxi về nhà
Sáng ngày 8/3/2014, ông Mạnh đem theo 10.000.000 VND đến nhà ông
Hà và đòi lấy xe Ông Hà không đồng ý Ông Mạnh đưa hợp đồng ra và cho rằng ông Hà đã ký vào hợp đồng nên phải thực hiện theo đúng thoả thuận đã ghi trong hợp đồng Nhưng ông Hà không đồng ý và cho rằng mình đã không nhớ những việc gì đã xảy ra vào tối hôm thực hiện giao dịch dân sự sau khi uống rượu say
Vấn đề 1:Thời hiệu khởi kiện:
Vì tuyên bố hợp đồng vô hiệu phải do Tòa án giải quyết nên vấn đề thời hiệu khởi kiện được đặt ra.
Theo Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Dân Sự 2005: “Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế” Như vậy, trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128), giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129), thời hiệu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị hạn chế, vàđây là trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều
136 BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập” Điều đó có nghĩa
là đối với giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130), giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131), giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132), giao dịch dân sự vô hiệu
do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều
Trang 7133) và giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134), đây là những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu tương đối, việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là có giới hạn Từ đó, chúng ta thấy, đối với hợp đồng do một ngườikhông nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình xác lập, thời hiệu là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
Quay lại vụ tranh chấp trên, liên quan đến thời hiệu khởi kiện, Tòa án cần xác định thời hiệu khởi kiện, bắt đầu từ ngày xác lập hợp đồng, tức ngày 07/03/2014 và thời hiệu khởi kiện là hai năm, tức đến ngày 7/3/2016
Vấn đề 2: Xác định chính xác liệu ông Hà có bị say rượu bệnh lí hay
không :
Theo như lời khai của ông Hà, ông Mạnh và chủ quán thì đúng là hai ông này đã uống rượu trong khi thực hiện giao dịch Ở đây đặt ra hai trường hợp: trường hợp thứ nhất, ông Hà nói dối vì sau khi suy nghĩ lại, ông Hà không muốn bán chiếc xe máy của mình với giá 10 triệu đồng, tức là trong khi thực hiện giao dịch dân sự ông Hà có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Khi ấy, hợp đồng giao dịch giữa ông Trần Đình Giang Hà và ông Hoàng Văn Đức Mạnh vẫn có hiệu lực pháp lí Do đó, ông
Hà phải giao xe và giấy tờ có liên quan cho ông Mạnh Trường hợp thứ hai, ông Hà bị bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi Vì vậy, cần trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với ông Trần Đình Giang Hà Trên cơ sở kết luận giám định đó, nếu ông Hà bị mắc bệnh “ say rượu bệnh lý” ( đây là thuật ngữ y học dùng để chỉ chứng loạn tâm thần cấp tính lâm
thời “ Say rượu bệnh lý khác say rượu thông thường ở chỗ rối loạn ý thức
phát triển đột ngột không phụ thuộc vào lượng rượu đã uống Thường thấy sau khi người bệnh dùng một lượng rượu tương đối nhỏ và trước đó không có bệnh cảnh say rượu thông thường nặng Trong say rượu bệnh lý, người bệnh
bị mù mờ ý thức, tri giác về xung quanh và định hướng bị rối loạn và lệch lạc nghiêm trọng Say rượu bệnh lý thường kéo dài hơn say rượu thông thường.
Trang 8Có khi say rượu cả ngày và sau khi tỉnh lại người bệnh không nhớ những gì
đã xảy ra.”) thì hợp đồng giao dịch giữa ông Hà và ông Mạnh sẽ bị Tòa án
tuyên bố vô hiệu theo Điều 133- Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định : “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Trong trường hợp Biên bản giám định pháp y tâm thần của Tổ chức giám định pháp y quận kết luận ông Hà bị mắc bệnh “say rượu bệnh lý”,
thời điểm mắc bệnh là trước ngày 07/03/2014 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình thì trên cơ sở kết luận giám định này, Tòa án sẽ có căn cứ cho rằng “ông Hà được coi là người mất năng lực trách nhiệm, năng lực hành
vi dân sự trong thời điểm xác lập giao dịch dân sự với ông Mạnh vào ngày 07/03/2014”
Thiết nghĩ, cách đánh giá của Tòa án như trên là hợp lý Bởi lẽ, theo Khoản 1 Điều 22 Bộ Luật Dân Sự 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.”
III Kết luận:
Phần trình bày trên cho thấy, khi giao kết hợp đồng ông Hà mất năng lực hành vi dân sự và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu vẫn còn thì Tòa
án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu Thực tế, như các phân tích đã nêu trên, cho thấy ông Mạnh
đã ký kết hợp đồng mua bán xe với ông Hà là người đủ năng lực hành vi dân
sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được
Trang 9hành vi của mình Vì vậy đã làm phát sinh một hợp đồng với các giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS Theo Điều
133 BLDS quy định: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Vì vậy, cần căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 137 BLDS để tuyên bố hợp đồng mua bán trên là vô hiệu
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Theo Điều 137 BLDS quy định: “1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” Như vậy, khi giao dịch dân sự vô hiệu quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch không được pháp luật công nhận và bảo
vệ Nếu hợp đồng mới xác lập chưa thực hiện thì các bên không thực hiện, còn trong trường hợp đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa Trong trường hợp trên cả hai chưa giao tiền và xe máy, thì tài sản của mỗi người sẽ vẫn được người đó giữ lại
Về yếu tố lỗi:
Bộ Luật Dân Sự 2005 không có quy định cụ thể nên việc đánh giá lỗi là công việc của Tòa án Trong thực tế, lỗi có thể là của một bên giao kết hợp đồng Chẳng hạn, “một bên bị coi là có lỗi nếu bên đó có hành vi làm cho bên kia nhầm tưởng là có đầy đủ điều kiện để mua nhà ở hoặc bán nhà ở là hợp pháp” Đôi khi lỗi có thể do cả hai bên Ví dụ, theo Tài liệu phục vụ thảo luận tại tổ trong Hội nghị tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 2006, “Có trường hợp các bên giao kết hợp đồng có vi phạm về nội dung (như bán nhà, đất là tài sản chung hoặc là di sản thừa kế chưa chia, nhà chưa được công nhận
Trang 10quyền sở hữu ) mà việc vi phạm này cả hai bên đều biết nhưng vẫn giao kết hợp đồng, từ đó làm cho hợp đồng vô hiệu” Trong vụ việc đang nghiên cứu, theo ý kiến chủ quan của nhóm, cả ông Hà và ông Mạnh đều không có lỗi