Sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một lớn mạnh đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau Sự hợp tác này làm phá.
Trang 1NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I MỞ ĐẦU:
Sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá ngày một lớn mạnh đòi hỏi sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực
và ở các cấp độ khác nhau Sự hợp tác này làm phát sinh ngày một nhiều các vấn
đề hình sự, dân sự, hành chính, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, có yếu tố nước ngoài Qua đó đòi hỏi sự đảm bảo thừa nhận về các quyền cơ bản của cá nhân và pháp nhân của quốc gia này trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia khác
Để tiến hành hoạt động này, các quốc gia thực hiện việc ký kết các điều ước quốc tế trong đó thừa nhận và điều chỉnh sự hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai bên về các vấn đề: xác định thẩm quyền của các Toà án, áp dụng pháp luật, đảm bảo các quyền tố tụng của cá nhân và pháp nhân nước ngoài, thực hiện các uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự
Trong tất cả các vấn đề được nêu ở trên, việc thực hiện các uỷ thác tư pháp, chuyển giao tài liệu, dẫn độ tội phạm và các vấn đề khác thuộc lĩnh vực hình sự, công nhận và thi hành các quyết định của Toà án hoặc Trọng tài nước ngoài về các vấn đề dân sự được gọi chung là hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế Do
đó, hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế được hiểu là hoạt động mang tính trợ giúp về mặt pháp lý giữa các quốc gia, nếu không có sự trợ giúp này các cơ quan
tư pháp của các quốc gia rất khó có thể thực hiện việc điều chỉnh cũng như thi hành pháp luật đối với cá nhân và pháp nhân của quốc gia mình
Do vậy có thể khẳng định hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế là việc các quốc gia (chủ yếu thông qua các cơ quan tư pháp như Toà án, Kiểm sát, Công an) giúp đỡ nhau về các vấn đề tư pháp (bao gồm cả dân sự và hình sự) trên cơ
sở điều ước quốc tế liên quan hoặc trên nguyên tắc có đi có lại, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, công dân và pháp nhân mỗi nước trên
Trang 2lãnh thổ của nhau Để các hoạt động tương trợ tư pháp đạt hiệu quả và giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, hoạt động tương trợ tư pháp phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
Việc tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp của Việt Nam và cơ quan
tư pháp của các nước được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cũng có lợi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, phù hợp với pháp luật Việt Nam
Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực của hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế, đó là tương trợ tư pháp quốc tế trong lĩnh vực hình sự
II KHÁI NIỆM TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ:
Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm đã trở thành một nhu cầu tất yếu nội tại của mỗi quốc gia Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia là tối cao, bất khả xâm phạm, không quốc gia nào có quyền can thiệp vào công việc vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác được luật quốc tế hiện đại ghi nhận Điều này dẫn đến một hệ quả là quyền lực quốc gia chấm dứt tại biên giới quốc gia đó Trong các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cơ quan tư pháp của quốc gia không thể tự mình tiến hành các hoạt động tố tụng thông thường mà phải thông qua sự giúp đỡ, tương trợ của quốc gia khác Hoạt động tố tụng này được gọi là tương trợ tư pháp về hình sự- Mutual legal assistance in criminal matter
Tương trợ tư pháp về hình sự là một khái niệm hiện đại trong luật quốc tế Khái niệm này xuất hiện trong công ước Liên hợp quốc về chống buôn lậu ma tuý và chất hướng thần năm 1988, Hiệp định mẫu của Liên hợp quốc về tương trợ pháp lý về hình sự năm 1990 Ngày nay tương trợ tư pháp về hình sự cũng được ghi nhận trong các điều ước quốc tế đa phương, song phương và pháp luật của hầu hết các quốc gia
Tương trợ tư pháp về hình sự chỉ đặt ra trong các vụ án về hình sự có yếu
tố nước ngoài Thực chất của vấn đề tương trợ tư pháp về hình sự là hợp tác
Trang 3quốc tế trong giải quyết các xung đột về quyền tài phán hình sự quốc gia nhằm phòng chống tội phạm một cách hiệu quả nhất
Trong khoa học pháp lý chưa đưa ra định nghĩa về tương trợ tư pháp về hình
sự Tuy vậy, căn cứ vào bản chất của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, có thể hiểu: “Tương trợ tư pháp về hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia liên quan, căn cứ vào các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thực hiện một hoặc một số hoạt động về trao đổi thông tin; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; triệu tập nhân chứng; thu thập hoặc cung cấp chứng cứ; truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự nhằm
hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài.”
III NGUYÊN TẮC TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ:
Theo quy định tại Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Điều 341 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên nguyên tắc:
1 Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
2 Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế
Trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng nguyên tắc có đi có lại là Bộ Ngoại giao (Khoản 1 Điều 66 Luật tương trợ tư pháp 2007) Theo đó khi có yêu cầu tương trợ tư pháp với những nước Việt Nam chưa ký Hiệp định hoặc Việt Nam và nước đó không là thành viên của một điều ước quốc tế đa phương thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự do
cơ quan có thẩm quyền, kèm theo cam kết thực hiện nguyên tắc có đi có lại đến
Bộ Ngoại giao để Bộ Ngoại giao xem xét quyết định áp dụng nguyên tắc có đi
có lại
Trang 4IV QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP:
1 Pháp luật Quốc tế:
Pháp luật quốc tế quy định về tương trợ tư pháp về hình sự trong các Công ước về những loại tội phạm củ thế, ví dụ như: khoản 1 Điều 46 Công ước về chống tham nhũng của Liên hợp quốc thông qua ngày 31/10/2003; Điều 18 Công ước TOC về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000; Điều 7 Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần của Liên hợp quốc thông qua ngày 20/12/1988; Công ước năm 1957 của Châu Âu về dẫn độ tội phạm và Nghị định thư bổ sung năm 1957;…
2 Pháp luật Việt Nam:
Các hoạt động tương trợ tư pháp của Việt Nam với các nước đã có khá sớm Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, từ năm 1980 đến nay, bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam với các nước còn được thực hiện trên cơ sở hiệp định tương trợ tư pháp được ký kể giữa Nhà nước ta với nước ngoài liên quan Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với các nước còn được tiến hành trên cơ
sở các thỏa thuận liên chính phủ, liên ngành, kể cả hợp tác giữa các cơ quan cảnh sát quốc tế theo Quy chế Interpol
DANH MỤC CÁC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ
GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA KHÁC:
Ngày có hiệu lực
An-giê-ri Hiệp định tương trợ tư pháp về
Anh Hiệp định về tương trợ tư pháp về
Trang 5Ba Lan Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự, gia đình và
Bê-la-rút Hiệp định tương trợ tư pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự 14/9/2000 18/10/2001 Bun-ga-ri Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự, gia đình và
Đang có hiệu lực
Cu Ba Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự, gia đình, lao
Đang có hiệu lực
Hàn Quốc Hiệp định về tương trợ tư pháp về
Hung-ga-ri Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự, gia đình và
Đang có hiệu lực
Lào Hiệp định tương trợ tư pháp về
Liên Xô (Nga
kế thừa)
Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
Mông Cổ Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự, gia đình và
Nga Hiệp định tương trợ tư pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự và
Nga Nghị định thư bổ sung Hiệp định
tương trợ tư pháp về và pháp lý
về các vấn đề dân sự và hình sự 23/4/2003 27/7/2012 Tiệp Khắc Hiệp định tương trợ tư pháp và 12/10/1982 16/4/1984
Trang 6(Séc và
Xlô-va-ki-a kế
thừa)
pháp lý về dân sự và hình sự
Triều Tiên Hiệp định về tương trợ tư pháp
trong các vấn đề dân sự và hình
Trung Quốc Hiệp định tương trợ tư pháp về
các vấn đề dân sự và hình sự 19/10/1998 25/12/1999
U-crai-na Hiệp định tương trợ tư pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự và
pháp trong lĩnh vực hình sự
29/11/2004
20/9/2005 (chỉ có hiệu lực giữa các nước đã phê chuẩn) In-đô-nê-xi-a
Hiệp định tương trợ tư pháp về
Hung-ga-ri
Hiệp định tương trợ tư pháp về
Chưa có hiệu lực
Ngoài ra, pháp luật trong nước cũng có nhiều quy định về vấn đề này:
- Luật tương trợ tư pháp 2007 được Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lựa từ ngày 01/7/2008
- Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Phần thứ tám)
- Các luật cụ thể như: Luật phòng, chống rửa tiền; Luật phòng, chống tham nhũng; Luật phòng, chống khủng bố;
- Các văn bản hướng dẫn: Nghị định 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tương
Trang 7trợ tư pháp về chế độ báo cáo, thông báo hoạt động tương trợ tư pháp; Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG ngày 16/8/2013 về hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án
để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự; Hướng dẫn số 943/ VKSNDTC-HTQT ngày 05/4/2012 về thông báo và tiếp xúc lãnh sự; Hướng dẫn số 19/ HD-VKSNDTC-HTQT ngày 24/7/2012 về thực hiện Điều 4 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào
V PHẠM VI TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ:
Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự trong pháp luật quốc tế bao gồm các hoạt động cơ bản sau:
- Thu thập chứng cứ, lấy lời khai của người liên quan
- Trợ giúp công tác điều tra
- Giúp đỡ trong việc bắt giam, giữ người hoặc tạo điều kiện cho việc cung cấp chứng cứ
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tư pháp
- Khám xét và thu giữ, kiểm tra vật chứng và các địa điểm
- Thu nhập thông tin, vật chứng liên quan đến vụ án
- Cung cấp bản gốc hoặc bản sao có xác nhận nhưng tài liệu, hồ sơ liên quan
- Xác định, thu hồi tại sản do phạm tội mà có
- Xác định, truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội
- Xác minh địa chỉ, nhận dạng người làm chứng, người bị tình nghi, tung tích nạn nhân
- Các hoạt động tương trợ tư pháp khác không trái với nguyên tắc và luật pháp của nước được yêu cầu
Những nội dung này được ghi nhận cụ thể trong các điều ước quốc tế song phương hay đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia Còn trong pháp luật Việt Nam, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự được quy định như sau:
1 Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự theo quy định của Luật tương trợ tư pháp 2007:
Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự quy định tại Điều 17 Luật tương trợ tư pháp 2007: “Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm:
Trang 81 Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự;
2 Triệu tập người làm chứng, người giám định;
3 Thu thập, cung cấp chứng cứ;
4 Truy cứu trách nhiệm hình sự;
5 Trao đổi thông tin;
6 Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự.”
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình
sự (Điều 24 Luật tương trợ tư pháp): cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền
có thể tống đạt giấy triệu tập người làm chứng, giám định, thông báo các quyết định tố tụng,… cho đối tượng được nêu trong yêu cầu tương trợ
- Triệu tập người làm chứng, người giám định ( Điều 8 Luật tương trợ tư
pháp): giấy triệu tập phải ghi rõ các điều kiện làm chứng,giám định cam kết đảm bảo an toàn cho họ Người được triệu tập để cung cấp chứng cứ hoặc hỗ trợ điều tra chỉ hỗ trợ trong phạm vi yêu cầu Người đồng ý cung cấp hay hỗ trợ chứng
cứ dẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ vào lời khai của họ, trừ việc
họ khai báo gian dối
- Thu nhập, cung cấp chứng cứ như lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, xác minh lý lịch, cung cấp tài liệu…
- Truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 28, 29 Luật tương trợ tư pháp):
Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BNG ngày 16/8/2013 được ban hành hướng dẫn thực hiện quy định về tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án và trình tự thủ tục chuyển giao Ngoài
ra, theo quy định điều 29 cũng quy định về cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có thể yêu cầu Việt Nam tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại VIệt Nam
- Trao đổi thông tin (Điều 26 Luật tương trợ tư pháp): Cơ quan có thẩm
Trang 9quyền Việt Nam hoặc nước ngoài có thể cung cấp thông tin liên quan hoặc bản sao bản án quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với công dân của nước yêu cầu
- Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự: ví dụ như dẫn giải người
đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ (điều 25 luật tương trợ tư pháp)
2 Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia:
Ngoài Luật tương trợ tư pháp, dựa theo những điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương mà Việt Nam đã ký kết, phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với từng quốc gia cũng có sự khác biệt nhất định phù hợp với cả luật pháp từng quốc gia
Ví dụ:
- “Trường hợp một quan chức của Bên yêu cầu muốn đến lãnh thổ của Bên được yêu cầu vì mục đích liên quan đến yêu cầu tương trợ thì nêu rõ mục đích, dự định thời gian và lịch trình chuyến đi (điểm i khoản 2 Điều 4 Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc, điểm k khoản 2 Điều 5 Hiệp đinh giữa Việt Nam
và Ấn Độ )
- “ Truy tìm, kê biên, phong tỏa, thu giữ, tịch thu tài sản do phạm tội mà
có và công cụ, phương tiện phạm tội (điểm i khoản 4 Điều 1 Hiệp định giữa Việt Nam và Ấn Độ )
VI TỪ CHỐI TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ
Các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự đều kêu gọi các bên
sẽ tạo điều kiện và cơ hội cho nhau khả năng giúp đỡ tối đa về công tác điều tra hoặc xét xử những tội phạm mà các bên yêu cầu theo thẩm quyền pháp lý của mỗi nước Tuy nhiên, không phải trường hợp nào quốc gia được yêu cầu cũng đáp ứng các yêu cầu tương trợ của quốc gia yêu cầu vì những lý do có liên quan tới lợi ích của quốc gia đó Về vấn đề này, pháp luật quốc tế ghi nhận những trường hợp một quốc gia có quyền từ chối tương trợ tư pháp về hình sự Điều 4 Hiệp định tương trợ pháp lý hình sự (mẫu) của Liên hợp quốc quy định một số
Trang 10trường hợp từ chối tương trợ tư pháp về hình sự như sau:
1 Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp có thể gây phương hại đến vấn đề chủ quyền, an ninh, trật tự xã hội, lợi ích công cộng cơ bản Như
chúng ta đã biết, không phải yêu cầu tương trợ tư pháp nào được thực hiện cũng đem lại hiệu quả cao mà không ảnh hưởng tới lợi ích của quốc gia được yêu cầu cũng như lợi ích của cộng đồng quốc tế nói chung Trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp nhằm mục đích phòng chống tội phạm nguy hiểm có yếu tố nước ngoài (tội buôn lậu ma túy và chất hướng thần, tội làm tiền giả, tội phạm bắt cóc con tin…) mà quốc gia nhận thấy việc thực hiện này có thể làm tổn hại đến lợi ích quốc gia mình nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung như xâm phạm tới chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gây rối trật tự công cộng, gây náo loạn, hoang mang trong dư luận, lợi ích chung của cộng đồng quốc tế…thì quốc gia
đó có quyền từ chối yêu cầu tương trợ tư pháp từ quốc gia khác, để trước hết bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích quốc tế lên hang đầu
2 Yêu cầu tương trợ trái với nguyên tắc và cam kết quốc tế của quốc gia được yêu cầu Không phải yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nào cũng đảm
bảo được tính hợp lý trong thực tiễn áp dụng Thực tiễn cho thấy, để đạt được mục đích là phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả cao nhất, đã có trường hợp các quốc gia khi tiến hành yêu cầu tương trợ tư pháp đã để xảy ra thiếu sót trong việc xem xét kỹ các nguyên tắc và cam kết quốc tế mà quôc gia được yêu cầu tham gia Nhiều yêu cầu tương trợ đã vi phạm vào các cam kết quốc tế của quốc gia được yêu cầu như tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do nghiên cứu khoa học biển…(vốn là những quyền lợi của các quốc gia khi tham gia cam kết đối với mục tiêu, nguyên tắc của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm
1982, Công ước về hàng không dân dụng quốc tế…) Như vậy, để đảm bảo cho các nguyên tắc quốc tế hay những thỏa thuận, cam kết quốc tế mà những quốc gia được yêu cầu là thành viên thì những quốc gia này được phép từ chối yêu cầu tương trợ tư pháp
3 Có cơ sở để tin rằng mục đích của yêu cầu tương trợ là để truy tố một người về vấn đề chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, quan điểm chính trị.
Như đã tìm hiểu ở trên, mục đích của tương trợ tư pháp là hỗ trợ, giúp đỡ lẫn