A MỞ ĐẦU Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền công dân được hiến định trong Hiến pháp 2013, Điều 30 khẳng định Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm qu.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền công dân được hiến định trong Hiến pháp 2013, Điều 30 khẳng định: Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giái quyết khiếu nại, tố cáo, người bị thiệt hại có quyền được bồi thường
về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để
vu khống, vu cáo và làm hại người khác Pháp luật quy định Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Vì vậy kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp cũng là một trong những công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định Em chọn đề tài: “Hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới” để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nội dung này
Trang 2B NỘI DUNG
Khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp bao gồm: khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành tạm giữ, tạm giam, và khiếu nại trong trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lí hành chính tại Tòa án nhân dân Giải quyết khiếu nại, tố cáo
và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp là một trong những hoạt động chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Trong đó, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp là việc Viện kiểm sát nhân dân (gọi tắt là VKSND) thực hiện các trình tự, thủ tục luật định để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, Tòa
án, cơ quan thi hành án và một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án và khiếu nại trong trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đúng quy định của pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ tư pháp
Đối với hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, VKSND thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền từ khi thụ lí đơn cho đến khi có quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận giải quyết tố cáo có hiệu lực pháp luật
II CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.
1 Thẩm quyền, nhiệm vụ thực hiện việc kiểm sát:
Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp
đã được quy định thành một điều luật riêng (Điều 30) và là một trong 9 công tác
Trang 3nghiệp vụ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân; công tác này cùng với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (Điều 29) hợp thành công tác “Kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” Do công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tự pháp được quy định thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, nên nó cũng chứa đựng những phương thức hoạt đông tương tự như các công tác kiểm sát khác thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Theo Điều 30 Luật tổ chức VKSND năm 2014, nhiêm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp được thực hiện qua những phương thức cơ bản sau:
“Điều 30 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp
1 Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2 Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo; kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của cấp mình và cấp dưới, thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Viện kiểm sát nhân dân.
3 Ban hành kết luận kiểm sát, thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.”
Mặc dù hiện nay các quan điểm có thể khác nhau về một số vấn đề trong nội hàm khái niệm “hoạt động tư pháp”, nhưng về cơ bản, các quan điểm vẫn còn có điểm chưng, đó là: hoạt động tư pháp được hiểu là hoạt động trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dấn ự, tố tụng hành chính, thi hành án và trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lí hành chính của Tòa án nhân dân Theo đó trong từng lĩnh vực ngoài nguyên tắc chung thì thẩm quyền
Trang 4và nhiệm vụ thực hiện việc kiểm sát cũng có những đặc điểm riêng biệt đặc trưng
2 Các biện pháp kiểm sát khi kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp:
Nhìn chung các văn bản pháp luật hiện nay chỉ quy định mang tính nguyên tắc về các biện pháp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, mà không quy định cụ thể về nội dung của các biện pháp kiểm sát Về bản chất, các biện pháp kiểm sát chính là phương thức đảm bảo để VKSND thực hiện được quyền hạn, nhiêm vụ của mình
Nội dung các biện pháp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp bao gồm các yếu tố như: căn cứ áp dụng, việc áp dụng và ban hành các văn bản tương ứng Do các đạo luật không quy định cụ thể về những yếu tố đó, nên các văn bản dưới luật sẽ hướng dẫn hoặc quy định chi tiết Nội dung các biện pháp kiểm sát trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT – VKSTC – TATC – BCA – BQP – BTP ngày 10/8/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là TTLT số 02); trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 được quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT – VKSNDTC – TANDTC ngày 1/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; trong Luật tố tụng hành chính được quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT – VKSNDTC – TANDTC ngày 1/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của luật tố tụng hành chính về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính; đối với Luật thi hành án hình sự năm 2010 và Luật thi hành án dân sự năm 2008 đến nay vẫn chưa có Thông tư liên tịch hướng dẫn Sau khi có Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì các Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về nội dung các biện pháp kiểm sát chưa được ban hành
Trang 5Tuy nhiên để đảm bảo hoạt động kiểm sát được thực hiện liên tục và thống nhất, ngành kiểm sát đã ban hành Quy chế số 51 thay Quyết định số
59/2006-QĐ – VKSND – V7 ngày 6/2/2006 ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát, trong đó đã hướng dẫn rất cụ thể về nội dung của các biện pháp kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, bao gồm: biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết; biện pháp yêu cầu kiểm tra việc giải quyết; biện pháp yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu; biện pháp trực tiếp kiểm sát
Quy chế số 51 đã tổng hợp lại từ Quy chế số 59 và các Thông tư liên tịch hướng dẫn để quy định ngắn gọn về các căn cứ áp dụng các biện pháp kiểm sát, gồm: có cơ sở xác định dấu hiệu vi phạm hoặc có căn cứ kết luận vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền Việc quy định như vậy vẫn đảm bảo được các nguyên tắc
cơ bản của căn cứ áp dụng biện pháp kiểm sát được quy định trong các văn bản
cũ, đó là: có cơ sở xác định dấu hiệu vi phạm hoặc có căn cứ kết luận vi phạm
và theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời nó lại phát huy được tính linh hoạt cho các VKSND khi áp dụng các biện pháp kiểm sát, đó là: chỉ cần có một trong hai căn cứ nêu trên là có thể áp dụng bất cứ biện pháp kiểm sát nào nếu thấy phù hợp và có hiệu quả nhất
Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp kiểm sát trực tiếp, không nhất thiết phải trải qua giai đoạn khảo sát để nắm dấu hiệu vi phạm hoặc kết luận vi phạm, mà VKSND các cấp có thể thường kì hoặc bất thường tiến hành kiểm sát trực tiếp đối với các cơ quan tư pháp Kết thúc kiểm sát, nếu không phát hiện vi phạm hoặc vi phạm không đáng kể thì chỉ cần ban hành kết luận Việc quy định theo hướng mở như trên nhằm tạo tính linh hoạt cho VKSND các cấp khi áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát Tuy nhiên, tùy từng trường hợp và điều kiện thực tế
mà VKSND các cấp vận dụng cho phù hợp; nếu cần khảo sát trước để chủ động
Trang 6nắm chắc vi phạm, nâng cao hiệu quả cuộc kiểm sát, VKSND các cấp có thể vẫn
áp dụng các biện pháp yêu cầu hoặc thông qua các nguồn khác để nắm thông tin
vi phạm, trước khi quyết định tiến hành trực tiếp kiểm sát
Về cơ bản các biện pháp kiểm sát về cơ bản đều có chung hai căn cứ áp dụng nêu trên, tuy nhiên, mỗi một biện pháp lại được áp dụng trong những trường hợp khác nhau, tùy thuộc và tính chất của vi phạm và mục đích cần đạt được của hoạt động kiểm sát trong từng vụ việc cụ thể
3 Trình tự thực hiện việc kiểm sát:
Trình tự thực hiện việc kiểm sát là các bước (các giai đoạn theo thứ tự) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để tiến hành các hoạt động kiểm sát đảm bảo đạt hiệu quả
3.1 Nghiên cứu đơn và hồ sơ tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Bao gồm việc: tiếp nhận đơn hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu VKSND thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoặc những nguồn thông tin khác (phương tiện thông tin đại chúng, quy hoạt động nghiệp vụ kiểm sát khác); đơn hoặc văn bản hoặc các nguồn thông tin khác có thể kèm theo các tài liệu, chứng
cứ để phản ánh về vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Thực chất bước này là tìm nguồn thông tin để phát hiện vi phạm
Qua nghiên cứu thông tin nếu thấy nội dung chưa rõ hoặc còn thiếu những tài liệu cần thiết khác, VKSND có thể làm việc với tất cả các cá nhân, tổ chức,
cơ quan có liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo để xác minh, thu thập thêm Thực chất đây chính là quá trình xác minh ban đầu để làm rõ được nội dung khiếu nại, tố cáo và xác định sơ bộ về quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của
cơ quan có thẩm quyền Có nhiều trường hợp, vụ việc nêu trong đơn có nhiều vấn đề chưa rõ, ví dụ: người gửi đơn có phải người chịu tác động trực tiếp của quyết định, hành vi bị khiếu nại không; quyết định, hành vi cụ thể nào bị khiếu
Trang 7nại, tố cáo; chủ thể nào là người ký quyết định với tư cách nào;… Chính vì vậy quá trình xác mịnh ban đầu rất quan trọng
3.2 Làm rõ việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Đây là giai đoạn xác định, đánh gián vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan có thẩm quyền, đó là xác định của vi phạm hay không, nếu có thì ở mức độ nào Muốn đánh giá vi phạm thì phải căn cứ vào các quy định tương ứng của pháp luật để xem xét việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan có thẩm quyền Xem xét việc tuân theo pháp luật phải tập trung vào các tiêu chí về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn, nội dung
3.3 Áp dụng các biện pháp kiểm sát phù hợp và ban hành kết luận, kiến nghị, kháng nghị:
Trình tự áp dụng các biện pháp là bước quan trọng, thể hiện rõ nhất quyền năng của VKSND và chi phối lớn đến hiệu quả của hoạt động kiểm sát Việc áp dụng các biện pháp phải thực hiện đứng các quy định tại Điều 18 Quy chế 51 Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp kiểm sát không phải lúc nào cũng tuân theo một nguyên tắc máy móc, mà nó cần phải có sự linh hoạt áp dụng tùy từng điều kiện cụ thể
Khi nghiên cứu một hoặc một số vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cụ thể hoặc xem xét cả một tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trong moojt giai đoạn nhất định, thấy đã có một trong nhứng căn cứ sau: có cơ sở xác dịnh dâu hiệu vi phạm hoặc đã có đủ căn cứ để áp dụng các biện pháp kiểm sát Nhưng điều quan trọng là phải lựa chọn được một biện pháp kiểm sát phù hợp Theo Điều 18 Quy chế số 51 thì chỉ cần có một hai căn cứ nêu trên là có thể áp dụng bất cứ biện pháp kiểm sát nào Để lựa chọn áp dụng biện pháp kiểm sát phù hợp nhất, cần xác định tính chất của vụ việc, tình hình thực tế và các yếu tố chi phối, tác động đến vụ việc, mục tiêu cần đạt được ở mức độ nào khi tiến hành kiểm sát trong
Trang 8trường hợp đó Việc ban hành các văn bản kết thúc kiểm sát như kết luận, kiến nghị, kháng nghị phải tuân theo quy định tại khoản tại khoản 4 Điều 18 Quy chế
51 Trong đó cần lưu ý một số nguyên tắc như sau:
- Khi thực hiện biện pháp gián tiếp kiểm sát, chỉ ban hành kết luận trong trường hợp kết quả kiểm sát cho thấy cơ quan được kiểm sát không có vi phạm hoặc vi phạm không đáng kể, vi phạm ít nghiêm trọng chưa đến mức phải ban hành kiến nghị, chỉ cần rút kih nghiệm, nếu có căn cứ để kiến nghị thì ban hành kiến nghị mà không phải ban hành kết luận; khi thực hiện biện pháp trực tiếp kiểm sát mọi trường hợp đều phải ban hành kết luận về kết quả kiểm sát, nều thấy vi phạm đến mức phải kiến nghị, kháng nghị thì ban hành kiến nghị, kháng nghị
- Kháng nghị chỉ được ban hành khi trực tiếp kiểm sát trong tố tụng hình sự
và thi hành án hình sự
- Trường hợp qua nghiên cứu đơn, văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguồn tin khác, nếu có đủ chứng cứ ban hành kiến nghị, thì có thể ban hành kiến nghị ngay mà không cần áp dụng các biện pháp kiểm sát
- Việc ban hành kiến nghị và kháng nghị hiện nay chưa có tiêu chí phân biệt một cách tuyệt đối, cần linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên vẫn có tiêu chí mang tính tương đối để phân biệt giữa quyền kháng nghị và quyền kiến nghị, đó là căn cứ vào mức độ vi phạm của cơ quan được kiểm sát Theo đó đối với những vi phạm có tính chất ít nghiêm trọng thì ban hành kiến nghị, đối với những vi phạm có tính chất nghiêm trọng thì thực hiện quyền kháng nghị Hiện nay các văn bản luật chứ quy định hoặc hướng dẫn cụ thể vi phạm ở mức độ nào thì được coi là nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, do đó thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức của mỗi VKSND khi xác định tính chất của vi phạm, có thể dựa vào mức độ hậu quả của hành vi Trong thực tiễn công tác, vi phạm được coi là ít nghiêm trọng gồm: vi phạm về thủ tục giải
Trang 9quyết khiếu nại, tố cáo; vi pham về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo Vi
pham được coi là nghiêm trọng gồm: vi phạm về thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, tố cáo mà người khiếu nại, tố cáo không nhất trí, yêu cầu khác phục vi phạm; vi phạm về nội dung giải quyết do sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc giải quyết không đúng bản chất vụ việc
3.4 Lập hồ sơ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Việc lập hồ sơ kiểm sát được tiến hành ngay từ khi thu thập và nghiên cứu các nguồn thông tin xác định vi phạm trong hoạt động kiểm sát Các tài liệu phải
có trong hồ sơ bao gồm: nguồn thông tin phản ánh vi phạm, các văn bản pháp lý
và các văn bản nghiệp vụ được ban hành trong quá trình kiểm sát; các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã thu thập trong quá trình kiểm sát; các văn bản pháp lý ban hành khi kết thúc kiểm sát Hồ sơ kiểm sát phải có bảng kê các tài liệu theo thứ tự bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật và của Ngành
III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
Thứ nhất: Cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo Làm tốt công tác này là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác này cần tích cực chủ động nghiên cứu, nắm vững các quy định mới về công tác kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp ở tất cả các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án Đồng thời tập trung nghiên cứu kỹ các quy định của Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp ban hành kèm theo Quy chế 51 để vận dụng vào nhiệm vụ chuyên môn tránh tư tưởng thụ động, coi nhẹ công tác giải quyết đơn
Trang 10Thứ hai: Đảm bảo việc tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn kịp thời, chính
xác Đây là bước rất quan trọng trong khâu công tác này, bởi nếu đơn được tiếp nhận kịp thời, việc phân loại xử lý chính xác sẽ là tiền đề và có tính chất quyết định cho việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đúng hay không đúng theo quy định Việc tiếp nhận đơn phải được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Quy chế 51: Đơn gửi đến Viện kiểm sát từ tất cả các nguồn (kể cả đơn gửi đến lãnh đạo Viện) đều phải được tiếp nhận thống nhất qua một đầu mối là đơn vị kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp để xử lý và quản lý; không tiếp nhận đơn ngoài nơi quy định Sau khi tiếp nhận đơn căn cứ vào nội dung đơn và đối chiếu với các quy định của pháp luật để phân loại đơn gồm: Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết; Đơn thuộc thẩm quyền kiểm sát việc giải quyết; Đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết; Đơn chưa đủ hoặc không đủ điều kiện thụ lý, từ đó xác định chính xác về thẩm quyền, thời hạn giải quyết theo loại đơn
Muốn thực hiện có hiệu quả và đảm bảo các quy định của pháp luật đòi hỏi người làm công tác kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp phải có kiến thức hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức; hiểu rõ các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính phải phân biệt được chính xác là đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn tố giác, hay đơn đề nghị, kiến nghị phản ánh bởi nếu không xác định được chính xác sẽ dẫn đến việc phân loại, xử lý và giải quyết không đúng trình tự, thủ tục, không đúng thẩm quyền
Thứ ba: Nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong hoạt động tư pháp
Viện kiểm sát các cấp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền cùng cấp và cấp dưới theo quy định của pháp luật Cần phân biệt rõ đối tượng kiểm sát không phải là" cơ quan
tư pháp" mà là "cơ quan có thẩm quyền" theo quy định tại điểm h khoản 2 điều