1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận thương mại quốc tế Bình luận sự tương thích của pháp luật Việt Nam về chào hàng, chấp nhận chào hàng so với quy định của Công ước Viên năm 1980 về vấn đề này

17 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,81 KB
File đính kèm TMQT.zip (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Công ước viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 2 1 Giới thiệu về Công ước viên 1980 2 2 Hình thức của hợp đồng mua bàn hàng hóa quốc tế.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Công ước viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 2

1 Giới thiệu về Công ước viên 1980 2

2 Hình thức của hợp đồng mua bàn hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước 3

3 Ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước 3

II Quy định của Công ước viên về chào hàng, chấp nhận chào hàng 4 1 Chào hàng 4

2 Chấp nhận chào hàng 7

III Quy định của pháp luật Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 8

1 Đề nghị giao kết hợp đồng 8

2 Thông tin trong giao kết hợp đồng 8

3 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực 9

4 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng 9

5 Hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng 10

6 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 10

7 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng 10

IV Sự tương thích của pháp luật Việt Nam về chào hàng, chấp nhận chào hàng so với quy định của Công ước viên năm 1980 về vấn đề này

11

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Thực tiễn ký kết hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy rằng, hợp đồng được ký kết chủ yếu theo thói quen mà không theo kỹ năng pháp lý Cũng chính vì vậy mà những vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng – chào hàng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không mấy được quan tâm Thực tiễn này ít nhiều tác động đến việc thiết kế các quy định liên quan trong pháp luật hợp đồng Việt Nam Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia nhập Công ước quan trọng này Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017 Vì vậy để làm rõ hơn về những quy định của pháp luật Việt Nam về

đề nghị giao kết hợp đồng-chào hàng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cũng như có những so sánh đối với những quy định của CISG về vấn đề này

Em xin chọn đề tài: “Bình luận sự tương thích của pháp luật Việt Nam về

chào hàng, chấp nhận chào hàng so với quy định của Công ước Viên năm

1980 về vấn đề này” cho bài tập cá nhân của mình.

Trang 3

NỘI DUNG

I Công ước viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1 Giới thiệu về Công ước viên 1980

Công ước viên năm 1980 là công ước quốc tế nhiều bên được ký vào ngày 14/4/1980 tại Viên (Áo) và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 Nội dung của Công ước là quy định các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hiện nay Công ước này có hơn 50 nước thành viên

a Phạm vi áp dụng Công ước

Công ước áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các nước khác nhau (Điều 1)

Quy định này được áp dụng trong hai trường hợp cụ thể sau:

-Khi trụ sở của các bên đóng tại các nước khác nhau là thành viên của Công ước

-Khi nguyên tắc trong tư pháp quốc tế quy định luật được áp dụng là luật của các nước thành viên của Công ước

b Phạm vi không áp dụng Công nước

Công ước không áp dụng vào các trường hợp sau:

-Mua bán hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình, nội trợ;

-Bán đấu giá;

-Mua bán cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán, chứng từ lưu thông tiền tệ; -Mua bán tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu; -Mua bán điện năng (Điều 2)

-Các hợp đồng mua bán mà phần chủ yếu của hợp đồng là việc thực hiện các công việc hoặc dịch vụ khác (Điều 3(2));

-Giải quyết hậu quả thiệt hại về thân thể hoặc việc chết của một người do hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa gây ra (Điều 5)

Trang 4

2 Hình thức của hợp đồng mua bàn hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước.

Hình thức của hợp đồng là dạng vật chất nhất định chứa đựng những điều thỏa thuận của các bên chủ thể

Theo quy định của Công ước Viên thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế có thể được thể hiện dưới bất cứ hình thức nào cũng được coi là hợp pháp

Điều 11 Công ước quy định: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết

hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bẳng những lời khai của nhân chứng” Tuy nhiên, Điều 96 của Công ước quy định

nếu luật một quốc gia thành viên nào quy định hợp đồng phải được ký kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôn trọng (kể

cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản)

3 Ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước

Trên thực tế, có hai hình thức ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế, đó là ký kết hợp đồng giữa các bên có mặt và ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt Đối với mỗi hình thức ký kết có các trình tự ký kết khác nhau

Ký kết hợp đồng giữa các bên có mặt là hình thức ký kết mà các bên chủ thể của hợp đồng phải gặp mặt nhau tại một địa điểm trong một thời điểm để

ký vào hợp đồng, sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng

Ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt là hình thức ký kết mà các bên không nhất thiết phải gặp mặt nhau tại một địa điểm, trong một thời điểm Theo hình thức này, các bên có thể thông qua các phương tiện thông tin liên lạc để bày tỏ quan điểm của mình nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của họ đối với nhau Trình tự ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt được tiến hành thông qua chào hàng và chấp nhận chàp hàng

Trang 5

Về trình tự ký kết hợp đồng, Công ước Viên năm 1980 chỉ đề cập đến trình tự ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt, trong đó, các quy định về chào hàng và chấp nhận chào hàng được ghi nhận một cách cụ thể

II Quy định của Công ước viên về chào hàng, chấp nhận chào hàng

1 Chào hàng

-Khái niệm về chào hàng (Điều 14)

Chào hàng là đề nghị rõ ràng về việc ký hợp đồng của một người gửi cho một hay nhiều người xác định Trong đó người đề nghị bày tỏ ý chí sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận đề nghị đó

Tính rõ ràng về nội dung của hợp đồng được Công ước quy định tại khoản 1 Điều 14 theo đó, đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó đã xác định

rõ hàng hóa, số lượng hàng hóa và giá cả của hàng hóa hoặc các cơ sở để xác định những vấn đề trên

Như vậy một lời đề nghị chỉ có thể được coi là cơ sở hợp pháp làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi nội dung của nó thể hiện được: tên của hàng hóa,

số lượng của hàng hóa và giá cả của hàng hóa, đồng thời đề nghị này phải được gửi cho một hoặc nhiều người được xác định Bởi vì một đề nghị gửi cho một hoặc nhiều người không xác định sẽ được coi là một lời mời chào hàng (Khoản 2 Điều 14)

-Giá trị pháp lý của chào hàng (Điều 15)

Về mặt pháp lý, người chào hàng sẽ bị ràng buộc nghĩa vụ của mình bởi những điều cam kết của mình trong chào hàng đối với người được chào hàng Tuy nhiên, chào hàng sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc người chào hàng trong các trường hợp sau:

+Chào hàng không tới tay người được chào hàng Như vậy, vì lý nào đó như sai địa chỉ của người được chào hàng mà chào hàng không tới được tay người chào hàng thì chào hàng đó sẽ không có giá trị ràng buộc người chào hàng

+Người chào hàng nhận được thông báo việc từ chối chào hàng của người được chào hàng (Điều 17)

Trang 6

+Thông báo hủy chào hàng đến tay người được chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chào hàng (Khoản 2 Điều 15) Quy định này áp dụng cho loại chào hàng không thể bị hủy bỏ

Theo quy định của Công ước thì chỉ trong trường hợp thông báo hủy chào hàng tới tay người được chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chào hàng thì người chào hàng mới không bị ràng buộc bởi các điều mà mình đã cam kết trong chào hàng Do đó, nếu người chào hàng muốn thoát khỏi nghĩa

vụ của mình ghi trong chào hàng thì người chào hàng gửi thông báo hủy chào hàng cho người được chào hàng bằng các phương tiện thông tin mà họ đã sử dụng để gửi chào hàng trước đó, sao cho thông báo hủy chào hàng có thể đến tay người được chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chào hàng

+Thông báo việc hủy chào hàng tới tay người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng (khoản 1 Điều 16) Đây là quy định có thể áp dụng cho loại chào hàng có thể bị hủy bỏ

Điều này chỉ xảy ra trong trường hợp nếu thông báo hủy bỏ chào hàng của người chào hàng được gửi đến tay người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng cho người chào hàng

Về mặt pháp lý, trong trường hợp mặc dù bên được chào hàng đã nhận được chào hàng nhưng chưa bày tỏ ý kiến của mình thì hợp đồng coi như chưa được ký kết Như vậy, đối với chào hàng có thể bị hủy bỏ, nếu trước khi gửi được chấp nhận chào hàng để xác lập hợp đồng, bên được chào hàng nhận được thông báo hủy chào hàng của bên chào hàng thì chào hàng này sẽ không còn giá trị ràng buộc nghĩa vụ của bên chào hàng

-Các trường hợp chào hàng không thể bị hủy bỏ (khoản 2 Điều 16): +Nếu chào hàng quy định một thời gian nhất định cho việc chấp nhận chào hàng hoặc chào hàng có quy định chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người được chào hàng xem xét đề nghị của mình, thông thường người chào hàng quy định trong chào hàng rằng sẽ dành một khoảng thời gian nhất định để người được chào hàng chấp nhận chào hàng Như vậy, nếu trong thời gian này chào hàng được người được

Trang 7

chào hàng chấp nhận vô điều kiện thì hợp đồng coi như đã được ký kết Việc dành một khoảng thời gian cho bên được chào hàng xem xét đề nghị của mình, người chào hàng đã tuyên bố ràng buộc nghĩa vụ đã cam kết của mình đối với người được chào hàng trong thời gian đó Điều này có nghĩa là chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ trong thời gian đã được quy định trong chào hàng

+Nếu trong trường hợp người chào hàng quy định trong chào hàng rằng chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ thì người chào hàng không thể viện vào bất

cứ lý do gì để thoát khỏi trách nhiệm của mình đối với nội dung chào hàng +Nếu người chào hàng đã coi chào hàng là loại chào hàng không thể bị hủy bỏ là hợp lý và người được chào hàng đã hành động một cách hợp lý Trong trường hợp mặc dù người chào hàng không quy định một cách rõ ràng là chào hàng không thể bị hủy bỏ nhưng do nội dung của chào hàng hoặc

vì lý do khách quan nào đó mà người được chào hàng đã coi chào hàng là chào hàng không thể bị hủy bỏ và người được chào hàng đã hành động theo

xu hướng đó thì chào hàng này cũng được coi là chào hàng không thể bị hủy bỏ

-Hoàn giá chào (Điều 19)

Hoàn giá chào là việc người được chào hàng trả lời người chào hàng với mục đích chấp nhận chào hàng nhưng đưa ra điều kiện sửa đổi, bổ sung nội dung của chào hàng

Về mặt pháp lý thì hoàn giá chào được coi như chào hàng mới của người được chào hàng đối với người chào hàng ban đầu

Tuy nhiên theo quy định mới của Công ước viên thì không phải tất cả những trả lời chào hàng có xu hướng chấp nhận chào hàng nhưng có sửa đổi,

bổ sung nội dung chào hàng đều bị coi là là hoàn giá chào

Chào hàng chỉ bị coi là hoàn giá chào trong các trường hợp các đề nghị sửa đổi bổ sung đã làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng

(Ví dụ: những điều kiện sửa đổi về giá cả, điều kiện thanh toán, chất lượng, số

Trang 8

lượng hàng hóa, địa điểm giao hàng, thời gian giao hàng, trách nhiệm của các bên, phương thức giải quyết tranh chấp)

2 Chấp nhận chào hàng

-Khái niệm về chấp nhận chào hàng (Khoản 1 Điều 18)

Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng với những đề nghị của người chào hàng

Về mặt pháp lý, một sự chấp nhận chỉ có giá trị làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người được chào hàng

Theo quy định của Công ước Viên năm 1980 thì sự chấp nhận chào hàng của người được chào hàng chỉ có giá trị pháp lý khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc bằng hành vi biểu thị sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng

Như vậy, theo quy định của Công ước thì sự im lặng hoặc không hành động của người được chào hàng sẽ không mặc nhiên được hiểu là chấp nhận -Hiệu lực của chấp nhận (khoản 2 Điều 18)

Về mặt pháp lý, chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị pháp lý khi nó được gửi tới tay người chào hàng Tuy nhiên, một chấp nhận chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý khi tới tay người chào hàng nếu nó thỏa mãn những yêu cầu sau: +Chấp nhận phải vô điều kiện

Theo quy đinh của Công ước, trong một số trường hợp mặc dù người được chào hàng không chấp nhận toàn bộ chào hàng mà đưa ra một số điều kiện mới thì việc chấp nhận cũng có giá trị như chấp nhận vô điều kiện, nếu những điều kiện mới do người được chào hàng đưa ra không làm thay đổi nội dung chủ yếu của chào hàng (khoản 2 Điều 19)

+Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trong chào hàng hoặc trong thời gian hợp lý (khoản 2 Điều 18)

Tính hợp lý về mặt thời gian để cho chấp nhận có giá trị pháp lý được xác định là:

Trang 9

Nếu chào hàng bằng miệng thì phải được chấp nhận ngay (trừ các trường hợp đặc biệt);

Nếu chào hàng bằng các phương tiên thông tin khác thì thời gian chấp nhận được coi là hợp lý là thời gian có tính đến các tình tiết của giao dịch như tốc độ của các phương tiện thông tin mà người chào hàng đã sử dụng

-Hủy bỏ chấp nhận (Điều 22)

Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy bỏ nếu thông báo không chấp nhận chào hàng tới người chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chấp nhận

Quy định này được áp dụng trong trường hợp mà trước đó người được chào hàng đã chấp nhận chào hàng và bày tỏ quan điểm đó thông qua một thông báo chính thức đối với người chào hàng nhưng ngay sau đó họ đã thay đổi ý kiến của mình là không chấp nhận chào hàng và gửi thông báo hủy cho người chào hàng

III Quy định của pháp luật Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng dân sự

Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện

rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị) Đề nghị giao kết hợp đồng được xem là bước đầu tiên trước khi các bên giao dịch dân sự thông qua việc giao kết hợp đồng Nội

dung về vấn đề đề nghị giao kết hợp đồng được pháp luật quy định tại Bộ luật

dân sự 2015.

1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”

2 Thông tin trong giao kết hợp đồng

Thông tin trong giao kết hợp đồng rất quan trọng:

Trang 10

- Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết

- Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được

sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác

- Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 387 BLDS 2015 mà

gây thiệt hại thì phải bồi thường

3 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực

- Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: + Do bên đề nghị ấn định;

+ Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể

từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan

có quy định khác

- Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:

+ Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;

+ Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; + Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác

4 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng

- Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp sau đây:

+ Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;

+ Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên

đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh

- Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới

Ngày đăng: 11/10/2022, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w