Rốt cuộc, tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO qua nhiều cuộc tranh luận đã đưa ra một định nghĩa mang tính quy ước về CNH: “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kin
Trang 1HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG – BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
VIỆN KINH TẾ VIỆT NAM
PGS.TS Lê Cao Đoàn (Chủ biên).
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA RÚT NGẮN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2008
Những người tham gia nghiên cứu đề tài KX02-01: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn – vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”.
Trang 2- PGS.TS Lê Cao Đoàn – Chủ nhiệm đề tài
- TS Trần Ngọc Ngoạn – Thư ký khoa học đề tài
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận về CNH
Trang 3Chương I: Thời đại phát triển cổ điển và CNH
- I Dẫn luận
- II Phát triển và CNH
- III Tất yếu của cách mạng công nghiệp
- IV Tiền đề của cách mạng công nghiệp và CNH
- V Bản chất và quy luật kinh tế của phát triển và của CNH
- VI Quá trình và nội dung của CNH
- VII CNH và thời đại phát triển cổ điển
Chương II: Thời đại phát triển hiện đại Hiện đại hóa, chuyển nền kinh tế từ kinh tế chậm phát triển thành kinh tế phát triển hiện đại
- I Tiến trình phát triển hiện đại
- II Quy luật phát triển mới đối với các nước đang phát triển trong thời đại phát triểnhiện đại
- III Vượt qua cái bẫy của sự phát triển – mô thức phát triển hiện đại của các nước đangphát triển
Chương III: Rút ngắn quá trình CNH, HĐH, rút ngắn sự phát triển
- I Vấn đề rút ngắn quá trình CNH, HĐH và rút ngắn quá trình phát triển hiện đại
- II Thực chất và tính quy luật của rút ngắn quá trình CNH, HĐH, rút ngắn quá trìnhphát triển hiện đại
- III Những cơ sở và điều kiện của sự rút ngắn
Phần thứ hai: CNH và sự phát triển của thế giới Những bài học lịch sử
Chương IV: Rút ngắn sự phát triển trong thời đại phát triển cổ điển
- I Những nét đặc thù của việc đẩy nhanh quá trình CNH trong thời đại phát triển cổđiển
- II Mô hình CNH Nhật Bản trong thời đại phát triển cổ điển
Chương V: Sự thần kỳ Đông Á Những bài học của quá trình HĐH chuyển nền kinh tế chậm phát triển thành kinh tế phát triển hiện đại
Trang 4- I Bối cảnh phát triển và những vấn đề đặt ra đối với nước đi sau trong điều kiện pháttriển hiện đại của nền kinh tế toàn cầu
- II Thực chất của sự thần kỳ
- III Những bài học
Chương VI: Sự phát triển của Trung Quốc Quy luật phát triển mới trong thời đại phát triển hiện đại đạt tới độ chín muồi
- I Tiến trình kinh tế xã hội của Trung Quốc trong lịch sử
- II Sự phát triển không thành công của Trung Quốc thời kỳ sau khi thành lập Nhà nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa tới trước cải cách – mở cửa
- III Cải cách – mở cửa Quy luật phát triển mới của Trung Quốc trong điều kiện pháttriển hiện đại
- IV Thành tựu và những nét đặc trưng của quy luật phát triển của Trung Quốc
- V Những vấn đề đặt ra trong quá trình đi tới nền kinh tế phát triển hiện đại Con đườngtiếp tục phát triển của Trung Quốc
Phần thứ ba:
Chương VII: Vấn đề phát triển và CNH thế hệ thứ nhất ở Việt Nam
- I Vấn đề phát triển ở Việt Nam
- II Giải quyết vấn đề phát triển ở Việt Nam – CNH thế hệ thứ nhất
Chương VIII: Phát triển kinh tế và CNH thế hệ thứ hai – CNH trong quá trình đổi mới kinh tế
- I: Phát triển và đổi mới kinh tế
- II: Định dạng CNH trong thời kỳ đổi mới vừa qua
- III: Tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam: vấn đề cơ bản và tư duy phát triển hiệnđại
Kết luận
Tài liệu tham khảo
LỜI TỰA
Trang 5Trong tiến trình lịch sử của nhân loại đã diễn ra một sự chuyển biến quyết định: chuyểnkinh tế từ kinh tế tiểu nông, sinh tồn, tự nhiên sang kinh tế thị trường – công nghiệp, xác lập tiếntrình kinh tế phát triển Thực chất đây là một cuộc cách mạng triệt để trong phương thức sảnxuất, trong kết cấu kinh tế Đó là quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp, sinh tồn sangkinh tế thị trường và quá trình cách mạng công nghiệp, chuyển từ công nghiệp tiểu thủ công sangđại công nghiệp cơ khí, đồng thời trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí, cấu trúc lại toàn nền kinh tếtheo nguyên lý đại công nghiệp, thành hệ thống công nghiệp Có thể nói, đó là quá trình thịtrường hóa và công nghiệp hóa nền kinh tế Trong đó, thị trường hóa là xác lập hình thái và nềntảng kinh tế thị trường cho lực lượng sản xuất đại công nghiệp phát triển, còn CNH là cách mạngtrong nội dung vật chất của quá trình sản xuất, là xác lập lực lượng sản xuất đại công nghiệp, và
do vậy, xác lập tiến trình kinh tế thị trường – công nghiệp, phương thức sản xuất thị trường –công nghiệp, thời đại công nghiệp – thời đại kinh tế phát triển
Đương nhiên, tiến trình kinh tế thị trường – công nghiệp đã trở thành đối tượng cho kinh tếchính trị học phân tích Kinh tế học cổ điển và đặc biệt K.Marx đã phân tích sâu sắc bước chuyểnbiến từ kinh tế tiểu nông sinh tồn, tự nhiên sang kinh tế thị trường – công nghiệp và bản thânphương thức sản xuất dựa trên kinh tế thị trường – công nghiệp, vạch ra quy luật kinh tế của tiếntrình kinh tế thị trường – công nghiệp Có thể nói, kinh tế chính trị học, và nói chung kinh tế học,
là phản ánh lý luận tiến trình kinh tế thị trường – công nghiệp Nhưng có một điểm lưu ý, lý luận
về cách mạng công nghiệp, về CNH là một bộ phận của lý luận trong kinh tế chính trị học vềbước chuyển từ kinh tế tiểu nông sinh tồn, tự nhiên sang kinh tế thị trường – công nghiệp Tuynhiên, cách mạng công nghiệp, hay CNH, với tính cách là nội dung vật chất của sự phát triển kinh
tế cũng không trở thành một đối tượng tách riêng của kinh tế chính trị học Trong kinh tế chính trịhọc, duy có K.Marx, trong khi phân tích sự hình thành, phát triển của phương thức sản xuất tưbản, đã dành ba chương trong bộ Tư Bản để phân tích về cách mạng công nghiệp dưới góc độkinh tế, và nhờ vậy, làm sáng tỏ quy luật kinh tế của phương thức sản xuất tư bản Mà cách mạngcông nghiệp và CNH của thế hệ phát triển thứ nhất đã dần lùi vào lịch sử Ở một ý nghĩa nhấtđịnh, nếu như nhân loại cùng lúc tiến hành cách mạng công nghiệp, thực hiện CNH nền kinh tế,thì ngày nay, khái niệm CNH đã từ lâu được đặt vào viện bảo tàng, bên cạnh “chiếc rìu bằng đá
và chiếc xa quay sợi” Nhưng khi nhân loại chưa CNH xong, thì tiến trình kinh tế thị trường –công nghiệp
Trang 6trong khi thúc đẩy kinh tế phát triển, nó đã lại dẫn tới những chuyển biến cách mạng trong phương thứcsản xuất, trong kết cấu kinh tế và đưa kinh tế của nhân loại vượt qua thời đại công nghiệp và xác lập mộtthời đại mới, thời đại hậu công nghiệp, hay thời đại phát triển hiện đại Trong điều kiện này, một bộ phậnđáng kể của thế giới còn là các nền kinh tế kém phát triển, đang phát triển, tức các nền kinh tế đangchuyển sang kinh tế phát triển Có thể nói, phát triển kinh tế, chuyển kinh tế từ kém phát triển thành pháttriển là vấn đề cơ bản, làm thành cái trục quyết định trong tiến trình kinh tế của các nước đang phát triển.
Một câu hỏi được đặt ra là, tiến trình phát triển hiện đại có bản chất và những quy luật kinh tế nào?
Những quy luật của tiến trình phát triển hiện đại tác động đến quá trình chuyển kinh tế từ kém phát triển sang kinh tế phát triển của các nước đang phát triển ra sao, và sự tác động này đem lại những sự thay đổi về nền tảng, về điều kiện phát triển, cũng như cách thức, con đường mới trong việc thực hiện sự phát triển của các nước đang phát triển như thế nào? Trả lời những câu hỏi này có một ý nghĩa quyết định trong việc hiểu về CNH trong điều kiện phát triển hiện đại, đồng thời từ đây hiểu về HĐH cũng như toàn
bộ quá trình thay đổi cách mạng trong nội dung vật chất của quá trình phát triển kinh tế, quá trình chuyển một nền kinh tế từ kém phát triển thành phát triển hiện đại Toàn bộ những điều này làm thành nội dung của công trình nghiên cứu này.
Thời đại thay đổi thì quy luật phát triển thay đổi, do đó, cách thức giải quyết vấn đề phát triển, tứcnền tảng, mô thức, con đường phát triển thay đổi thích ứng Điều này cho thấy, để nắm được sự thay đổitrong quy luật phát triển, do đó nắm được quy luật phát triển mới, việc phân tích hai thời đại phát triển,thời đại công nghiệp, thời đại phát triển cổ điển, và thời đại hậu công nghiệp, thời đại phát triển hiện đại,trở nên cần thiết Việc phân tích này được tiến hành dưới hai góc độ, góc độ lô gíc – lý luận và góc độ lịch
sử – thực tiễn Vì thế, công trình nghiên cứu về CNH, HĐH này được mang tựa đề “CNH, HĐH rút ngắn– Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới” Một điều cần phải làm sáng tỏ ở đây là vấn đề “rútngắn” Rút ngắn là cách nói thông tục để diễn tả một thực tế lịch sử về thời gian diễn ra CNH của các thế
hệ CNH khác nhau được giảm đi đáng kể do bối cảnh và quy luật phát triển khác nhau đem lại Trongđiều kiện của thời đại phát triển hiện đại, sự phát triển của các nước đã được đặt trên một đường đuachung, bởi vậy, sự phát triển không chỉ là việc mỗi nước chuyển nền kinh tế của mình lên một trình độcao hơn một cách bất kỳ và tách biệt, mà được đặt vào một sự rượt đuổi một cách quyết liệt về trình độphát triển Nếu chậm chạp, sự phát triển của đất nước sẽ bị đặt ra ngoài cuộc chơi chung và đặt vào thế tụthậu, và bị lạc hậu hóa Trong điều kiện phát triển hiện đại, tốc độ và trình độ phát triển là vấn đề cốt tửcủa sự phát triển Đến lượt mình, điều này đã đặt vấn đề rút ngắn sự phát triển, mà thực chất là thu hẹpkhoảng cách về trình độ phát triển, bắt kịp trình độ phát triển hiện đại trong một khoảng thời gian ngắnnhất thành một sự sống còn Rút ngắn sự phát triển trở thành yêu cầu nội tại của sự phát triển của một
Trang 7nước đang phát triển trong điều kiện phát triển hiện đại Như vậy, công trình này là nhằm làm sáng tỏ
quy luật phát triển mới trong điều kiện của thời đại phát triển hiện đại, rốt cuộc là khắc họa nét đặc trưng, tiêu biểu của quy luật phát triển mới, quy luật phát triển hiện đại của một nước đang phát triển là phát triển rút ngắn
Việt Nam đang thực hiện một cuộc đổi mới kinh tế, chuyển kinh tế sang kinh tế thị trườngvới khuôn mẫu hiện đại và hội nhập nền kinh tế vào tiến trình phát triển hiện đại của nền kinh tếtoàn cầu, thực chất là nhằm bắt kịp vào tiến trình phát triển hiện đại và thực hiện một sự phát triển
nhảy vọt, rút ngắn Đổi mới kinh tế là một sự thay đổi hợp quy luật Công trình nghiên cứu nàycũng dành một phần phân tích sự đổi mới và thực hiện sự phát triển của Việt Nam trong thời kỳđổi mới vừa qua, xem sự phát triển đó diễn ra thích hợp như thế nào với quy luật phát triển hiệnđại và để thực hiện được sự phát triển hiện đại rút ngắn, thích ứng với tiến trình phát triển hiệnđại, đồng hành cùng thời đại thì cần phải tiếp tục đổi mới như thế nào?
Như vậy, công trình nghiên cứu này là thuộc lĩnh vực nghiên cứu lý luận cơ bản Nó đềcập tới vấn đề cơ bản của kinh tế Việt Nam mang tính phức tạp và với một nội dung có tầm baoquát lớn, vì vậy, có một độ dày lớn, mặc dù khi trình bày, tác giả đã cố gắng theo một lô gíc nhấtquán và chỉ nêu những nét chính mà thôi
Đây là công trình nghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nướcKX02: “CNH, HĐH theo định hướng XHCN” giai đoạn 2001 – 2005, do Hội đồng lý luận TrungƯơng và Bộ Khoa học - Công nghệ chủ quản, đã được nghiệm thu đầu năm 2007 Tập thể tác giả
và những người tham gia đề tài KX02-01 “CNH, HĐH rút ngắn – Những vấn đề lý luận và kinhnghiệm thế giới” rất cám ơn Hội đồng lý luận Trung Ương, Bộ Khoa học – Công nghệ, Ban chủnhiệm chương trình KX02 Chúng tôi đặc biệt cảm ơn GS.TS Đỗ Hoài Nam - chủ nhiệm chươngtrình; PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, GS TS Nguyễn Văn Thường – phó chủ nhiệm chương trình; vàPGS TS Trần Đình Thiên - tổng thư ký chương trình KX02
Hà Nội, tháng12 năm 2007
Trang 8PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
CHƯƠNG I: THỜI ĐẠI PHÁT TRIỂN CỔ ĐIỂN Và CÔNG NGHIỆP HÓA
I Dẫn luận
Theo truyền thống, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhà nghiên cứu cần phải làm rõnhững từ khóa trong chủ đề nghiên cứu Theo truyền thống này, trong việc nghiên cứu các vấn đềliên quan đến CNH, điều bận tâm trước hết là đi tìm định nghĩa về CNH Có được định nghĩađúng, ta đã có được khái niệm về CNH, do đó, có được một công cụ tư duy cần thiết để nghiêncứu các vấn đề về CNH Những cách thức tiến hành này gặp phải một vấn đề nan giải: ngườinghiên cứu sẽ đứng trước vô vàn định nghĩa khác nhau về CNH
Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, cho tới nay
đã được gần 300 năm Tuy nhiên khái niệm về CNH vẫn còn chưa có sự nhất trí cao và luôn được
bàn tới Thứ nhất, CNH là một quá trình cách mạng căn bản trong phương thức sản xuất và kết
cấu kinh tế, vì vậy, có một nội hàm sâu sắc và một ngoại diên phong phú Từ đây, xuất hiện nhiềuđịnh nghĩa khác nhau về công nghiệp hóa Tùy góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa
ra một quan niệm về CNH nhất định Cứ như vậy, vô số định nghĩa về CNH đã được hình thành.Tính chất nhiều vẻ khác nhau của quan niệm về CNH này đã đưa người ta vào một khu rừngkhông có lối đi Rốt cuộc, tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) qua nhiều cuộc
tranh luận đã đưa ra một định nghĩa mang tính quy ước về CNH: “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để
xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để sản xuất ra các phương tiện sảnxuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao trong nền kinh tế và đảmbảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội” Đây là một định nghĩa gồm khá đầy đủ những thành tố của mộttiến trình phát triển của một nền kinh tế công nghiệp, hay của bản thân tiến trình công nghiệp.Tuy nhiên, định nghĩa này lại không phản ánh được bản chất kinh tế của CNH, cũng như tính lịch
sử của CNH trong việc làm thay đổi cách mạng trong phương thức sản xuất, trong kết cấu của nền kinh tế – xã hội Bởi vì, tiến trình công nghiệp luôn là tiến trình phát triển kinh tế, trong đó
diễn ra sự tập trung các nguồn lực cho thay đổi trong cơ cấu nền sản xuất, trong công nghệ và
Trang 9nhằm tăng trưởng cao, các định nghĩa đều nhấn mạnh đến sự thăng tiến của công nghiệp, đến thayđổi cơ cấu kinh tế và thay đổi trong công nghệ, hơn nữa, nhấn mạnh vị trí then chốt, chủ đạo củacông nghiệp trong cấu trúc kinh tế và công nghệ trong phương thức sản xuất Ngay định nghĩa
của UNIDO đã đưa vào định nghĩa phạm trù phát triển, tuy nhiên, điều quyết định của CNH chính là cách mạng trong phương thức sản xuất và xác lập một thời đại kinh tế, thời đại kinh tế
phát triển, thì các định nghĩa đã ít chú ý tới Thứ hai, CNH đã diễn ra trong hai thời đại khác
nhau, thời đại phát triển cổ điển và thời đại phát triển hiện đại Giữa hai thời đại này là một sựkhác nhau về chất trong trình độ phát triển, bởi vậy, giữa CNH của thời đại phát triển cổ điển vàthời phát triển hiện đại không chỉ khác nhau về trình độ đạt được, về quá trình, về mô thức, màcòn là sự khác nhau về hệ thống Đó là hai chỉnh thể của hai cái đặc thù Xuất phát từ hai cáichỉnh thể của hai cái đặc thù đã có nhiều cách nhìn khác nhau Sự khác nhau đó là ở chỗ, tùy vàochỗ nhấn mạnh ở nội dung quyết định của công nghiệp hóa, ở yếu tố quyết định trong kết cấukinh tế, ở con đường, bước đi mà xây dựng định nghĩa Điều khó khăn nhất là, người ta không thểđưa ra một quan niệm ngắn gọn dưới dạng một định nghĩa về CNH, lại có thể thâu tóm được haithời đại CNH với hai chỉnh thể khác biệt quá lớn Những định nghĩa về CNH của thời cổ điểnkhông còn phù hợp với định nghĩa CNH của thời hiện đại Ngay những định nghĩa CNH theo mô
thức này lại không phù hợp với một mô thức CNH khác Thứ ba, CNH là một chỉnh thể của tiến
trình phát triển kinh tế, tiến trình trong đó CNH là nội dung vật chất của một sự thay đổi căn bảnmang tính cách mạng trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế, xác lập nên thời đại pháttriển kinh tế Các định nghĩa về CNH dựa chủ yếu trên nền nhận thức của sự tiến triển trong côngnghiệp, quy CNH về sự thay đổi trong kết cấu ngành sản xuất và trong kỹ thuật, trong công nghệsản xuất Cách nhìn này nặng về lực lượng sản xuất, và về bản thân sản xuất, tức các hoạt động cụthể trong khâu sản xuất ra của cải hiện vật của nền sản xuất Nó thiếu đi hình thái xã hội của sảnxuất, và các khâu khác của toàn bộ quá trình tái sản xuất của nền sản xuất xã hội Đây là địnhnghĩa về CNH có nguồn gốc của tư duy hiện vật, duy ý chí, phiến diện đối với quá trình CNH.Trong hệ kinh tế thị trường, bỏ qua hình thái xã hội của sản xuất tất yếu dẫn tới chỗ xem xét CNH
là một quá trình thăng tiến về mặt lực lượng sản xuất và từ đây nảy sinh những định nghĩa vềCNH thiếu đi nội dung và hình thái kinh tế Đương nhiên, thiếu hình thái và nội dung kinh tế,CNH thiếu đi chính đời sống kinh tế của mình Những chiến lược và chính sách CNH xuất phát từnhững quan niệm về CNH như vậy chỉ còn là một mớ những mong muốn chủ quan và là sự sắp
đặt mang tính mệnh lệnh, chỉ huy Thứ tư, CNH không những là một phạm trù lịch sử, với ý
Trang 10nghĩa nó là một khâu trong chuỗi tiến hóa của kinh tế, mà bản thân nó có một quá trình lịch sửdiễn ra rất dài với hai cấp độ, cấp độ cổ điển và cấp độ hiện đại Chính tính chất khác biệt diễn raCNH trong lịch sử, xét theo trục thời gian và trục không gian, đã đem lại sự tiến hóa trong quanniệm về CNH Vả lại, cách mạng công nghiệp biến nước Anh thành nước công nghiệp đầu tiêntrên thế giới thực chất là quá trình CNH, song khi đó, người ta không dùng khái niệm CNH để chỉquá trình cách mạng công nghiệp biến nền kinh tế nước Anh thành nền kinh tế công nghiệp, màdùng khái niệm cách mạng công nghiệp để chỉ quá trình đó Chỉ sau 100 năm, một loạt nướcthuộc thế hệ thứ hai dùng thành tựu của cách mạng công nghiệp mà thế giới tạo ra, cải biến nềnkinh tế của mình thành nền kinh tế công nghiệp, lúc đó mới phát sinh ra khái niệm CNH thay chokhái niệm cách mạng công nghiệp
Như vậy, một mặt, là một quá trình chuyển biến sâu sắc có tính chất cách mạng trong
phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế, làm thành bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát
triển kinh tế xã hội của nhân loại, CNH có nội hàm bao quát rộng lớn Mặt khác, đó là một phạm
trù lịch sử, có đời sống tiến hóa và biến đổi sâu sắc, thích ứng với những thời đại phát triển khácnhau Vì vậy, khó có một định nghĩa ngắn gọn nào thâu tóm được một quá trình với những tínhchất phức tạp như thế Điều quan trọng hơn, CNH với tính cách là đối tượng nghiên cứu ở đây,không phải là những khía cạnh khác nhau của CNH, mà là lý luận về CNH hóa, hay phản ánh vềmặt lý luận của CNH Điều này hàm nghĩa, CNH ở đây được xem xét ở tổng thế, ở hệ thống đểtìm ra bản chất kinh tế, lô gic nội tại và quy luật kinh tế của CNH, đồng thời thấy được ý nghĩalịch sử của CNH trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của nhân loại Đương nhiên, chỉ saukhi nắm được bản chất kinh tế, lô gic nội tại và quy luật kinh tế của CNH, cũng như ý nghĩa lịch
sử của CNH trong tiến trình kinh tế – xã hội của nhân loại, ta mới có được một ý niệm đầy đủ vềCNH Nói khác đi, ở đây, định nghĩa hay khái niệm CNH không phải là điểm xuất phát củanghiên cứu về CNH, mà trái lại, là kết quả của một nghiên cứu tổng thể về CNH
Sản xuất xã hội luôn là một quá trình hai mặt, mặt hình thái xã hội và mặt nội dung vật chất,hay xét về phương thức sản xuất thì đó là sự thống nhất của quan hệ sản xuất và lực lượng sảnxuất Sự thống nhất này được biểu hiện ở phạm trù kinh tế và kinh tế học lấy sự thống nhất giữaquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, giữa mặt hình thái xã hội và nội dung vật chất của quátrình sản xuất xã hội làm đối tượng nghiên cứu của mình Nó xét xem trong một trạng thái khanhiếm nhất định các nguồn lực, người ta làm thế nào để đạt được một lượng của cải lớn nhất, nhờ
Trang 11đó có được mức thỏa dụng lớn nhất, hay tìm ra quy luật kinh tế chi phối việc sản xuất, lưu thông
và phân phối của cải trong một trạng thái khan hiếm nhất định về các nguồn lực Điều này hàmnghĩa, kinh tế học không nghiên cứu tách rời giữa mặt hình thái xã hội và nội dung vật chất củasản xuất xã hội Nếu khảo sát từng mặt, thì mặt đó luôn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ vớimặt kia, để rốt cuộc, làm rõ những tất yếu kinh tế, những quy luật kinh tế trong sự thay đổi củanhững yếu tố, những mặt hợp thành phương thức sản xuất, hay toàn bộ quá trình sản xuất xã hội CNH là một cuộc cách mạng trong nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội, hay củaphương thức sản xuất Đây là luận đề xuất phát của việc nghiên cứu về CNH Luận đề này nhấnmạnh, việc nghiên cứu CNH là nghiên cứu về mặt kinh tế, hay trong sự thống nhất giữa sự thayđổi nội dung vật chất với hình thái xã hội, hình thái kinh tế của CNH, hay hình thái kinh tế của sựthay đổi trong nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội
Mô hình kinh tế XHCN Xô viết là mô hình kinh tế hiện vật và được vận động trong một thểchế được xác lập bởi những giáo điều xuất phát từ những quan điểm chủ quan, duy ý chí về mộtCNXH phi kinh tế Xét cho cùng, CNXH Xô viết không phải là một hệ kinh tế tự thân, mang tínhchất là một tiến trình lịch sử, tự nhiên, tự điều chỉnh, tự vạch đường đi theo những lô gic nội tại
và quy luật khách quan Những quan hệ kinh tế ta thấy trong mô hình CNXH Xô viết thực ra chỉ
là những thể chế, những quan hệ pháp lý áp đặt vào nền sản xuất xã hội, và như vậy những thểchế không có nội dung kinh tế không phải là cấu trúc kinh tế nội tại của lực lượng sản xuất, dovậy, nền sản xuất xã hội đã không có những quan hệ kinh tế tất yếu, khách quan cần thiết cho lựclượng sản xuất phát triển Ở đây, thực ra là một sự lắp ghép chủ quan, gượng ép giữa những thểchế, những quan hệ pháp lý và những lực lượng sản xuất Trong bối cảnh CNH với tính cách là sựthay đổi trong nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội, không có những quan hệ kinh tế làmthành hình thái kinh tế - xã hội tất yếu của mình, CNH đã trở thành đối tượng trong kinh tế chínhtrị học mô hình Xô viết khi CNH tách rời khỏi hình thái kinh tế xã hội thích ứng với nó, hay CNHkhông có đời sống kinh tế của mình
Do tách rời với hình thái kinh tế xã hội, CNH chỉ được xem xét như quá trình phát triển lựclượng sản xuất, quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, là quá trình xác lập cơ cấusản xuất theo những tỷ lệ dựa trên cơ sở ưu tiên cho một ngành công nghiệp nào đó, xét thấy làquan trọng, quyết định Đặt ra ngoài hình thái kinh tế, CNH được xem xét là một quá trình tự thâncủa sự thăng tiến của lực lượng sản xuất, một quá trình thiếu đời sống kinh tế Nó chỉ có đời sống
Trang 12thể chế, pháp lý và hướng tới những mục tiêu chính trị: hình thành nền tảng vật chất kỹ thuật củaCNXH.
Như vậy, trong kinh tế hiện vật và trong các quan hệ thể chế, pháp lý, CNH đã đi trệch khỏicái tất yếu và quy luật kinh tế Đến lượt mình, nghiên cứu về CNH thiếu đi nội dung kinh tế vàthay vào đó là những nghiên cứu mang tính tổ chức – kỹ thuật Có thể nói, mô hình CNXH Xôviết đã quy định tính chất tách rời siêu hình trong nghiên cứu hình thái xã hội và nghiên cứu nộidung vật chất của CNH, do đó, nghiên cứu CNH đã thiếu đi nội dung kinh tế của nó Nghiên cứunhư vậy đã không thể vạch ra trên những cơ sở quan hệ kinh tế và cơ chế kinh tế nào CNH đãđược diễn ra và nó được thúc đẩy bởi những quy luật kinh tế nào
Điều tệ hại hơn, việc nghiên cứu tách rời, phiến diện như vậy đã dẫn tới một hệ quả nghiêmtrọng trong tư duy: biến phương tiện thành mục tiêu CNH là sự thay đổi trong nội dung vật chấtcủa nền sản xuất xã hội trong quan hệ với việc đạt tới mục tiêu tăng sức sản xuất và tăng hiệu quảcủa nền kinh tế, và rốt cuộc, đưa nền kinh tế – xã hội đạt tới sự phát triển, giàu có và phồn vinh.Nhưng trong tư duy tách rời giữa hình thái kinh tế và nội dung vật chất của CNH, đã khiến choCNH trở thành mục đích mà xã hội hướng tới Vì giáo điều của CNXH Xô Viết coi CNH là nềnđại công nghiệp, vì thế để có CNXH, người ta phải bằng mọi cách, mọi giá để tạo ra nền đại côngnghiệp Nhưng trong thực tế, người ta có thể đạt tới một nền đại công nghiệp, song đó là nền đạicông nghiệp lạc hậu, không phù hợp với quy luật kinh tế, do đó kém hiệu quả, rốt cục sụp đổ Như vậy, nghiên cứu CNH ở góc độ lý luận, hay phân tích về mặt lý luận của CNH lànghiên cứu:
a, Bản chất và quy luật kinh tế của CNH.
Tức nghiên cứu khía cạnh kinh tế của CNH, nghiên cứu CNH trong mối quan hệ giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong thể thống nhất của chúng là phương thức sản xuất, nghiêncứu sự tương tác giữa hình thái kinh tế xã hội và nội dung vật chất của quá trình sản xuất xã hội,trong đó diễn ra quá trình CNH
b, Nghiên cứu CNH trong quá trình phát triển kinh tế, và CNH với tính cách là sự thay đổi
nội dung vật chất trong quá trình xác lập nền đại công nghiệp phát triển Ta biết rằng, trong tiếntrình kinh tế – xã hội của nhân loại đã diễn ra một bước ngoặt lịch sử: chuyển kinh tế từ kinh tếkém phát triển thành kinh tế phát triển Quá trình chuyển kinh tế từ kinh tế kém phát triển thành
Trang 13kinh tế phát triển là quá trình phát triển kinh tế Bước chuyển cách mạng từ kinh tế kém phát triểnsang kinh tế phát triển được đặc trưng bởi CNH CNH là sự thay đổi căn bản trong nội dung vậtchất của nền sản xuất xã hội, xác lập nội dung vật chất của kinh tế phát triển là hệ thống đại côngnghiệp, kết cấu đại công nghiệp Với nội dung vật chất công nghiệp, CNH đã làm cho phát triểnthành một tất yếu kinh tế, và do vậy, CNH đã vạch ra tiến trình phát triển, thời đại kinh tế pháttriển Điều này hàm nghĩa, để hiểu được CNH, thì cần tiếp cận CNH từ khía cạnh phát triển, xemCNH là quá trình thay đổi nội dung vật chất của quá trình phát triển kinh tế Trong quá trình này,CNH diễn ra theo các quy luật kinh tế, và ngược lại, CNH đem lại nét đặc thù của quy luật kinh tế
ở bước chuyển cách mạng từ kinh tế kém phát triển thành kinh tế phát triển
c, Ở ý nghĩa tổng quát, nghiên cứu về mặt lý luận của CNH là nghiên cứu CNH với tính
cách là một cuộc cách mạng triệt để trong phương thức sản xuất và trong kết cấu kinh tế, xác lậpmột phương thức sản xuất mới, một kết cấu kinh tế mới, phương thức sản xuất công nghiệp và kếtcấu công nghiệp, và với chỉnh thể công nghiệp, CNH đã vạch ra thời đại công nghiệp, thời đạikinh tế phát triển
Từ ba điều trên ta thấy, CNH là sự chuyển biến vạch thời đại, xác lập thời đại kinh tế pháttriển, thời đại công nghiệp, vì thế, tiếp cận kinh tế, tiếp cận phát triển và tiếp cận kinh tế chính trịtrở nên cần thiết đối với nghiên cứu về mặt lý luận của CNH
II Phát triển và CNH
1 Phát triển kinh tế
Phạm trù trung tâm và tổng quát diễn tả sự chuyển biến cách mạng trong tiến trình kinh tế –
xã hội của nhân loại là phạm trù phát triển kinh tế CNH với tính cách là sự thay đổi triệt để trongnội dung vật chất của nền kinh tế trong bước chuyển từ kinh tế kém phát triển thành kinh tế pháttriển Nói khác đi, phát triển kinh tế và CNH có quan hệ nội tại, biện chứng với nhau Bởi vậy, đểhiểu bản chất kinh tế và những quy luật kinh tế của CNH, việc làm rõ phát triển kinh tế với nhữngquá trình và quy luật thích ứng của nó trở nên cần thiết
Phát triển vốn là phạm trù của triết học, chỉ sự chuyển biến về chất trong sự vận động khôngngừng của thế giới Ở đây, phát triển kinh tế là một khái niệm đặc thù của lĩnh vực kinh tế, dùng
để chỉ bước chuyển cách mạng từ kinh tế tiểu nông, kém phát triển thành kinh tế công nghiệp phát triển
Trang 14Trong tiến trình lịch sử, ở thế kỷ XVIII, nước Anh, nước đầu tiên thực hiện cách mạng côngnghiệp thành công và xác lập nền đại công nghiệp, vạch ra thời đại kinh tế phát triển Sau nướcAnh, Mỹ cùng với một số nước Tây Âu và Nhật Bản ở Châu Á đã tiến hành CNH thành công.Tuy nhiên, khi đó và cả sau này, người ta không gọi những nước đã thực hiện CNH và trở thànhnước công nghiệp, và kinh tế công nghiệp trong đó là kinh tế phát triển, là những nước phát triển
và kinh tế phát triển mà gọi là nước công nghiệp và nền kinh tế công nghiệp Đối với những nướcchưa thực hiện CNH, không được gọi là nước kém phát triển, hay chậm phát triển, mà đơn giảngọi là nước nông nghiệp, lạc hậu
Chỉ tới giữa thế kỷ XX, tức vào thập kỷ 50 của thế kỷ XX trở đi, tức sau hơn 200 năm, thờiđại công nghiệp được xác lập, tiến trình công nghiệp đã trải qua nhiều bước chuyển, đạt đượcnhững thành tựu vượt bậc và các nền kinh tế công nghiệp phát triển đã trở thành một lực lượngkinh tế to lớn chi phối tiến trình kinh tế của nhân loại, đồng thời một bộ phận lớn của thế giới chotới lúc đó vẫn chưa thực hiện CNH, tức hãy còn là những nước nông nghiệp lạc hậu đã hình thànhbối cảnh để chia thế giới thành hai, một thế giới của những nước CNH với nền kinh tế côngnghiệp tiến tiến và một thế giới những nước chưa CNH, do đó, là những nước nông nghiệp lạchậu Đây chính là bối cảnh phát sinh cách nhìn phát triển trong việc phân chia thế giới thành haithế giới, thế giới của các nước phát triển và thế giới của các nước kém phát triển, chậm phát triển.Trong bối cảnh này, kinh tế học phát triển bắt đầu hình thành Kinh tế học phát triển gọikinh tế của thế giới các nước nông nghiệp lạc hậu là kinh tế kém phát triển, chậm phát triển haychưa phát triển và kinh tế của các nước công nghiệp tiên tiến là kinh tế phát triển, còn đối tượngcủa nó là các quy luật kinh tế và chính sách kinh tế trong việc chuyển một nền kinh tế kém pháttriển thành kinh tế phát triển
Chúng ta cần xem xét một chút về cách phân chia các thời đại trong tiến trình lịch sử củanhân loại, trong tiến trình kinh tế xã hội của nhân loại Đương nhiên có nhiều cách chia khácnhau, nhưng đại thể có ba cách phân chia khác nhau
hội là sự thay thế nhau của phương thức sản xuất, của các hình thái kinh tế – xã hội,K.Marx chia xã hội thành năm phương thức sản xuất, năm hình thái kinh tế – xã hộihay năm thời đại: Nguyên thủy; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến; Tư bản chủ nghĩa vàCộng sản chủ nghĩa Ông viết: “Về đại thể có thể coi các phương thức sản xuất Châu
Trang 15Á cổ đại, phong kiến và Tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hìnhthái kinh tế – xã hội”.
hội của nhân loại thành ba làn sóng: Làn sóng nông nghiệp, làn sóng công nghiệp vàlàn sóng hậu công nghiệp
chia thế giới loài người thành hai thế giới, thế giới của các nước phát triển và thế giớicủa các nước kém phát triển (chưa hay chậm phát triển)
Ba cách chia trên đều có một điểm chung là vạch ra các thời đại kinh tế xã hội và định dạngtrình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi thời đại
Cách chia của K.Marx nhấn mạnh sự khác biệt của các thời đại ở phương thức sản xuất, vànhất là sự khác biệt về hình thái kinh tế – xã hội Cách phân chia này cho ta thấy được cái trục vàcái chỉnh thể trong lô gic nội tại của sự tiến hóa của nhân loại Nắm được lô gic tiến hóa này, ta
có thể thấy được những nấc thang một xã hội phải trải qua, thấy được trình độ một xã hội đã đạtđược cũng như bản chất kinh tế – xã hội của mỗi nấc thang và xu thế mà xã hội sẽ tiến triển tới Cách phân chia tiến trình lịch sử của nhân loại của kinh tế học phát triển lại có một ý nghĩakhác Nếu đo lường về mặt kinh tế, kinh tế học thấy rằng, các nước nông nghiệp lạc hậu là nhữngnước thu nhập thấp Vào thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ XX, các nước kém phát triển là những nước
có thu nhập quốc nội trên đầu người (GDP/người) là dưới 1000 USD, còn những nước có thunhập trên đầu người trên 1000 USD là những nước đã trải qua CNH, là nước phát triển Có thểxem, thu nhập 1000 USD/người là mốc kinh tế phân chia nước kém phát triển và nước phát triển.Đương nhiên, 1000 USD/người không phải là một cái mốc tuyệt đối Nó có thể di động trong mộtkhoảng nhất định và nó được xác định bởi mức thu nhập bình quân/người của toàn thế giới, vìthế, khi sự phát triển chung của thế giới tăng lên do sự phát triển của các nước công nghiệp pháttriển thúc đẩy và sự phát triển của các nước kém phát triển, đang phát triển tiến hành và thực hiện
sự phát triển tạo nên
Việc kinh tế học phát triển chia tiến trình kinh tế của nhân loại thành hai thời đại không cónghĩa kinh tế học phát triển bác bỏ cách phân chia của K.Marx, vì trọng tâm của kinh tế học là
bước chuyển từ kinh tế kém phát triển thành kinh tế phát triển Trước thời đại công nghiệp phát
Trang 16triển, có thể nhân loại đã trải qua các phương thức và hình thái kinh tế – xã hội nguyên thủy,chiếm hữu nô lệ và phong kiến, song về mặt kinh tế thì đó đều là xã hội dựa trên kinh tế nôngnghiệp, nghèo, thu nhập thấp Sự phân chia thế giới thành kém phát triển và phát triển có một ýnghĩa cách mạng cả về mặt nhận thức lý luận và về hành động thực tiễn là trong điều kiện mộtphần đáng kể nhân loại đã chuyển thành các nền kinh tế công nghiệp phát triển, phần còn lại lànhững nước chưa phát triển có thể và cần phải phát triển? Và bằng con đường và cách thức nàothực hiện được sự phát triển? Câu hỏi được đặt ra như vậy, thực sự đã trở nên bức xúc và trởthành đối tượng của một ngành kinh tế học.
Ở một ý nghĩa nhất định, kinh tế học phát triển là một hình thái của kinh tế chính trị học, vì
nó phản ánh về mặt lý luận của bước chuyển căn bản từ phương thức sản xuất dựa trên phươngthức sản xuất tiểu nông sang phương thức sản xuất dựa trên phương thức sản xuất đại côngnghiệp Nhưng, đó còn là kinh tế học nghiên cứu những quy luật kinh tế trong quá trình chuyểnkinh tế kém phát triển sang phát triển và những chiến lược, chính sách thúc đẩy quá trình chuyểnbiến cách mạng đó Nói khác đi, đó là kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc về sự pháttriển Nói khác đi, kinh tế học phát triển là sự vận dụng các nguyên lý của kinh tế chính trị học vàkinh tế học vào việc giải quyết vấn đề chuyển nền kinh tế từ kinh tế nông nghiệp kém phát triểnthành kinh tế công nghiệp phát triển
Cách phân chia tiến trình kinh tế – xã hội của loài người của A.Toffler khác với cách phânchia của kinh tế học phát triển ở việc chia thời đại phát triển thành hai thời đại: thời đại côngnghiệp và thời đại hậu công nghiệp, còn thời đại kém phát triển thì được gọi là thời đại nôngnghiệp Sở dĩ A.Toffler chia như vậy, vì ông không nhấn mạnh, hay đúng ra là không lấy bướcchuyển từ thời đại kinh tế chậm phát triển sang thời đại kinh tế phát triển, trong khi ông lại nhằmtách bạch ba thời đại, hay ba làn sóng văn minh mà nhân loại đã và đang trải qua Trong khi nhânloại vẫn còn đang nhìn thời đại của mình là thời đại công nghiệp, thì bằng việc đưa ra những nétđặc trưng mới, vượt ra ngoài khung khổ của tiến trình công nghiệp và cho rằng, nhân loại bằngcách mạng khoa học – công nghệ và những chuyển biến trong kết cấu kinh tế, trong phương thứcsản xuất do cách mạng khoa học – công nghệ tạo ra, đã đẩy xã hội sang một thời đại mới, thời đạihậu công nghiệp, là một đóng góp độc đáo của A.Toffler
Thực sự thì việc chỉ ra cái mốc mới, cái mốc vạch ra một thời đại mới với chỉnh thể khôngcòn là công nghiệp, hậu công nghiệp hay khác với công nghiệp, có một ý nghĩa phương pháp luận
Trang 17trong tư duy Từ nay, nhân loại được đặt trong một quá trình hình thành và phát triển một chỉnhthể kinh tế mới, với những quy luật phát triển mới và do đó, quy định một phương thức phát triểnmới Việc phát triển của nhân loại vượt ra ngoài khung khổ của chỉnh thể công nghiệp và chuyểnsang một tiến trình mới, đòi hỏi phải nhìn nhận lại thời đại công nghiệp và quyết định hơn, cầnphải xem xét, nghiên cứu về quy luật phát triển mới, do đó, đòi hỏi phải thay đổi căn bản trongphương thức phát triển cho thích hợp với thời đại phát triển mới
Do mục đích tìm hiểu và phản ánh tiến trình phát triển kinh tế – xã hội khác nhau nên đã cónhững cách phân chia tiến trình kinh tế – xã hội của nhân loại khác nhau, song ba cách phân chia
đó lại bổ sung cho nhau, giúp ta hiểu rõ tính đa dạng và sâu sắc trong sự vận động, tiến hóa vàphát triển kinh tế của nhân loại Bất kỳ sự phát triển nào cũng là sự thay đổi trong kết cấu và trongphương thức sản xuất, đồng thời đổi mới phương thức sản xuất, lại xác lập nên một hình thái kinh
tế – xã hội thích ứng, bởi vậy, để hiểu sự phát triển của nhân loại, không thể không nắm lấy cáchphân chia của K.Marx, và phân tích sự phát triển từ góc độ kết cấu kinh tế và phương thức sảnxuất Nhưng dù tiến trình phát triển có khác nhau theo hình thái kinh tế – xã hội, thì nếu theo tiêuchí văn minh, thì rốt cuộc nhân loại đã và đang trải qua ba nấc thang văn mình lớn: văn minhnông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp Cũng chính trình độ văn minh
là cái chi phối đến kết cấu và phương thức sản xuất, cũng như cách thức tổ chức của một xã hội.Hai hình thái kinh tế đầu tiên, chiếm hữu nô lệ và phong kiến có sự khác nhau trong kết cấu kinh
tế, trong phương thức sản xuất và hình thái kinh tế – xã hội, nhưng chúng đều có chung một trình
độ văn minh: văn minh nông nghiệp Theo Toffler, thời đại Nguyên thủy là thời đại xác lập xã hộiloài người Chỉ khi con người phát minh và xác lập được ngành sản xuất nông nghiệp, xã hội loàingười mới thực sự bước vào tiến trình văn minh của mình Thời đại công nghiệp và thời đại hậucông nghiệp, đều là thời đại phát triển nhưng là hai cấp độ phát triển khác nhau về chất với haichỉnh thể hoàn toàn khác nhau Sự phân chia này có ý nghĩa phương pháp cho tư duy về phát triểnnói chung, nhưng đối với việc chuyển một nền kinh tế kém phát triển sang phát triển trong thờiđại phát triển hậu công nghiệp còn có một ý nghĩa đặc biệt: Liệu người ta có thể và cần phảichuyển xã hội tới thời đại phát triển hậu công nghiệp hay chỉ dừng ở chỗ chuyển xã hội sang xãhội công nghiệp? Tư duy của A.Toffler không chỉ dừng ở phương pháp luận tư duy, mà còn có ýnghĩa thực tiễn to lớn trong việc định ra mục tiêu và chiến lược cho sự phát triển phù hợp với thờiđại phát triển mới, do đó, tránh được việc lặp lại con đường và cách thức phát triển cũ đã bị sựphát triển của nhân loại vượt qua và làm cho nó trở nên lỗi thời
Trang 18Kinh tế học phát triển đưa ra phạm trù phát triển kinh tế cũng như những quy luật kinh tế vàchiến lược kinh tế cho việc chuyển một nước kém phát triển thành phát triển là có ý nghĩa đối vớicác nước đang phát triển Việc vạch ra hai thời đại kém phát triển và phát triển, đồng thời ở giữahai thời đại là một quá trình chuyển biến cách mạng với một nội dung và quy luật thích ứng chothấy, các nước kém phát triển có thể và cần phải vượt qua trạng thái kém phát triển bằng một loạtnhững chuyển biến có tính cách mạng trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế Việc nêulên những giá trị và những chuẩn mực của kinh tế kém phát triển và phát triển, cũng như nhữngtất yếu, những quy luật kinh tế trong đó, đặc biệt những quy luật kinh tế của việc chuyển kinh tếkém phát triển thành kinh tế phát triển, cho người ta thấy người ta đang ở đâu trong tiến trình kinh
tế – xã hội và cần phải làm gì và làm như thế nào để vượt qua trạng thái kém phát triển kinh tế vàcuối cùng đạt tới sự phát triển kinh tế
Như vậy, cách tiếp cận phương thức sản xuất, cách tiếp cận văn minh và cách tiếp cận pháttriển cho phép người ta hiểu thấu không chỉ toàn bộ sự phát triển nói chung, mà điều quyết định làhiểu được trong tiến trình kinh tế có một bước chuyển quyết định mà các nền kinh tế nông nghiệplạc hậu, kém phát triển phải thực hiện, đó là chuyển kinh tế – xã hội của mình từ kinh tế nôngnghiệp thành kinh tế phát triển
Tới đây ta thấy, phát triển kinh tế là một phạm trù lịch sử Phát triển kinh tế đó là khái niệmdùng để chỉ một khâu trong chuỗi tiến hóa kinh tế, tại đó kinh tế nông nghiệp chuyển thành kinh
tế công nghiệp phát triển Nói khác đi, phát triển kinh tế với tính cách là một phạm trù lịch sử , là quá trình chuyển nền kinh tế với chỉnh thể nông nghiệp thành kinh tế phát triển với chỉnh thể công nghiệp.
III Tất yếu của cách mạng công nghiệp
1 Kinh tế kém phát triển Làn sóng nông nghiệp
Kinh tế phát triển là kinh tế có mức thu nhập tính trên đầu người, mà ta đã thấy, được xácđịnh ở thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ XX là 1000 USD Đương nhiên, nếu chỉ với chỉ tiêu thu nhập
1000 USD/người, người ta chưa hiểu thực sự về kinh tế phát triển Ngoài thu nhập cao, 1000USD/người giả định một mức độ thỏa dụng những nhu cầu cơ bản của người ta như thế nào, cũngnhư một mức độ phồn vinh tương ứng Thực ra, đằng sau thu nhập 1000 USD/người là một trình
độ đạt được của sức sản xuất, do đó, của kết cấu kinh tế và của phương thức sản xuất Nói khác
đi, rốt cuộc thì thu nhập cao của sự phồn vinh có cơ sở của mình trong trình độ đạt được của
Trang 19phương thức sản xuất, của kết cấu kinh tế và sự phát triển kinh tế Chuyển kinh tế từ kinh tế nôngnghiệp kém phát triển sang kinh tế phát triển được thực hiện bởi một cuộc cách mạng làm thayđổi căn bản kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông và thay vào đó một phươngthức sản xuất, một kết cấu kinh tế trên đó sự phát triển kinh tế được thực hiện
Để hiểu bản chất và quy luật kinh tế của kinh tế phát triển và của CNH, điều quyết địnhtrước hết là hiểu được sự phát triển bắt đầu từ đâu và trên những tiền đề và cơ sở nào? Để hiểuđược điều này cần phải phân tích làn sóng nông nghiệp, làn sóng của kinh tế kém phát triển Lànsóng nông nghiệp xét ở góc độ kinh tế là làn sóng với kết cấu kinh tế nông nghiệp và phương thứcsản xuất, hay kinh tế tiểu nông Phân tích kinh tế kém phát triển là xoay quanh việc phân tích kinh
tế tiểu nông và kết cấu nông nghiệp của nền sản xuất xã hội
Trong tác phẩm “Ngày mười tám tháng sương mù của Louis Bonaparte”, K.Marx có viết:
“Tiểu nông là một khối sản quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên đều sống trong mộthoàn cảnh như nhau, nhưng lại không nằm trong những mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau.Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập vớinhau Tình trạng cô lập đó lại còn bị những phương tiện giao thông tồi tệ ở Pháp và cảnh nghèokhổ của nông dân làm cho trầm trọng thêm Trường hoạt động sản xuất của hộ, một miếng đấtnhỏ bé, không cho phép áp dụng một sự phân công lao động nào cả, một sự ứng dụng khoa họcnào cả, do đó, cũng không cho phép có một sự phát triển nhiều màu nhiều vẻ nào cả, một sự phânbiệt tài năng nào cả, cũng không cho phép có một sự phong phú nào về các quan hệ xã hội Mỗigia đình nông dân gần như tự cấp tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận những cái mình tiêudùng và do đó kiém tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn làgiao tiếp với xã hội Mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta; cạnh đó lại một mảnhđất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác Một nhúm những đơn vị ấy họp thànhmột làng và một nhúm làng họp thành một tỉnh Như vậy, cái khối to lớn dân tộc Pháp được hìnhthành bằng cách giản đơn cộng những đại lượng cùng tên lại, đại khái cũng giống như một cáibao tải đựng những củ khoai tây hình thành một bao tải khoai tây vậy”[62,515] Từ quan niệm củaK.Marx trên về kinh tế tiểu nông, ta có thể thấy phương thức sản xuất tiểu nông với những đặctrưng sau:
Một là, phương thức sản xuất tiểu nông được tiến hành với công cụ cầm tay và kinh nghiệm
cổ truyền Kỹ thuật thủ công, đó là kỹ thuật đặc trưng của phương thức sản xuất tiểu nông Hai là,
Trang 20thích ứng với kỹ thuật thủ công, lao động thủ công cá thể là đặc trưng về mặt tổ chức lao động
của kinh tế tiểu nông Ba là, nếu xét về hàm sản xuất thì kinh tế tiểu nông có định dạng về hàm
sản xuất như sau:
F(x) = Y (Ruộng đất, Lao động) ; Viết tắt: F(x) = Y (R x L)
Trong hàm sản xuất này, công cụ thủ công, do đó kỹ thuật thủ công là nhân tố nhỏ bé trongviệc quyết định đến sức sản xuất, vì vậy, sức sản xuất được quyết định bởi sức lực của bản thânngười lao động và lực lượng sản xuất của nền sản xuất xã hội về cơ bản và chủ yếu là bản thân
người lao động Bốn là, kinh tế tiểu nông được tổ chức trong hình thức phổ biến là hộ gia đình.
Từ đặc điểm này, kinh tế tiểu nông là kinh tế sản xuất nhỏ, kinh tế gia trưởng
Từ bốn đặc trưng trên của phương thức sản xuất tiểu nông, phương thức sản xuất đặc trưngcủa kinh tế kém phát triển có những đặc điểm sau:
a, Sức sản xuất nhỏ bé, năng suất lao động thấp Một mặt, với công cụ thủ công (cầm tay),
sức sản xuất của lao động phụ thuộc vào sức lực của cá nhân người lao động và giới hạn của các
khí quan của con người trong việc sử dụng công cụ, vì vậy, năng suất của lao động là rất thấp và
có giới hạn chật hẹp bởi sức lao động của từng cá nhân người lao động Mặt khác, lao động cá
thể trong khung khổ nhỏ hẹp của quy mô hộ gia đình, phân công trong quá trình lao động trựctiếp không có cơ sở để hình thành và phát triển Nói khác đi, trong kinh tế kém phát triển, phươngthức phân công và hiệp tác lao động chưa xác lập thành phương thức sản xuất cơ bản; phươngthức sản xuất cơ bản là phương thức sản xuất dựa trên lao động cá thể, riêng lẻ Điều này hàm
nghĩa, trong phương thức sản xuất tiểu nông, về cơ bản chưa có cơ sở để hình thành và phát triển sức sản xuất xã hội của lao động.
b, Sức sản xuất của kinh tế kém phát triển về cơ bản là nằm trong khung của vạch tất yếu,
hay sức sản xuất về cơ bản chưa tạo ra thặng dư Đến lượt mình, sức sản xuất nằm dưới vạch tấtyếu chưa sản xuất ra thặng dư, do vậy, tích lũy, chuyển thặng dư thành các nguồn lực sản xuấtphụ thêm, thành những lực lượng sản xuất mới, chưa thành phương thức cơ bản của hoạt động
kinh tế và tái sản xuất mở rộng chưa thành một tất yếu Kinh tế kém phát triển, do vậy, là kinh tế sinh tồn, kinh tế nghèo, kinh tế tái sản xuất giản đơn và tăng trưởng kinh tế chưa thành một quy luật Kinh tế kém phát triển, vì thế, mang tính chất trì trệ Có thể nói, sinh tồn là quy luật chi phối
trong kinh tế
Trang 21c, Do sức sản xuất nhỏ bé, năng suất thấp, vì thế, để sinh tồn, mọi nguồn lực (lao động và
ruộng đất) được tập trung cơ bản cho việc duy trì sự sinh tồn, tức cho sản xuất nông nghiệp, làhoạt động sản xuất, hay ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng thiết yếu cho sự sinh tồn, là lươngthực, thực phẩm Điều này hàm nghĩa:
i, Hoạt động sản xuất và nói chung hoạt động kinh tế của nền kinh tế kém phát triển về cơ
bản là quá trình diễn ra giữa người lao động và tự nhiên Ở đây, giữa người lao động và tự nhiênchưa có một bộ máy cơ khí, là bộ máy được cấu trúc bởi những lực lượng sản xuất do lao động
tạo ra và tích lũy lại Hàm sản xuất F(R x L) của kinh tế tiểu nông cho thấy, một mặt, nhân tố và
nguồn lực hợp thành quá trình sản xuất là mang tính chất tự nhiên, và mặt khác, tính chất lệ thuộccủa sản xuất, và nói chung của hoạt động kinh tế vào tự nhiên Thực chất của tính chất lệ thuộcvào tự nhiên là lệ thuộc vào ruộng đất Hàm sản xuất của kinh tế tiểu nông cho ta thấy ruộng đất
là nhân tố kinh tế nền tảng, bao trùm toàn bộ phương thức sản xuất họat động kinh tế, do vậy,quan hệ sản xuất trong kinh tế tiểu nông là xoay quanh quan hệ ruộng đất và quy định bản chấtkinh tế của kinh tế kém phát triển Đến lượt mình, tính chất quyết định của quan hệ ruộng đất,quyết định tính chất của phương thức sản xuất, mà trước hết là đối với lao động, nhân tố cơ bảnthứ hai tạo lập thành quá trình sản xuất của kinh tế tiểu nông Ở đây, quy luật sinh tồn và tính chấtquyết định của quan hệ ruộng đất đối với phương thức sản xuất đã quy định mối quan hệ giữaruộng đất và lao động, quan hệ lệ thuộc của lao động và ruộng đất Sự bện chặt của lao động vàoruộng đất hay sự lệ thuộc của lao động vào ruộng đất là nền tảng xác lập phương thức sản xuấttiểu nông, cách thức kết hợp tư liệu sản xuất và lao động của kinh tế tiểu nông và quy định tínhchất tự nhiên của kinh tế tiểu nông
ii, Phân công lao động xã hội kém phát triển Do mọi nguồn lực phải tập trung cho sản xuất
nông nghiệp, vì vậy, các hoạt động công nghiệp và nói chung các hoạt động phi nông nghiệpkhông thể phát triển Bởi vậy, công nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp luôn luôn là sảnxuất phụ thuộc vào nông nghiệp Đương nhiên, trong thời đại kinh tế kém phát triển, do sức sảnxuất nhỏ bé và năng suất lao động thấp, vì thế công nghiệp cũng như các hoạt động phi nôngnghiệp là những hoạt động diễn ra trong kinh tế tiểu nông và là ngành phụ thuộc của nông nghiệp.Nhưng điều này không có nghĩa là chưa diễn ra quá trình tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp ởnhững mức độ khác nhau Điều quan trọng là quá trình tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp đóchưa tạo ra một cuộc cách mạng trong phân công lao động Điều này hàm nghĩa, nông nghiệp là
Trang 22nền tảng của cấu trúc kinh tế và là chỉnh thể của cấu trúc kinh tế Trong cấu trúc kinh tế này, côngnghiệp mới dừng ở dạng tiểu thủ công nghiệp và thương mại mới ở dạng tiểu thương Chúng lànhững dạng kinh tế đặc thù của nông nghiệp phụ thuộc vào nông nghiệp và xoay quanh nôngnghiệp Đương nhiên, công nghiệp ở dạng tiểu thủ công nghiệp và là một dạng đặc thù của nôngnghiệp, phụ thuộc nông nghiệp, nền sản xuất xã hội chưa xác lập được một khu vực sản xuất tưliệu lao động độc lập Việc sản xuất tư liệu lao động, nhân tố quyết định của tiến bộ kỹ thuật lànằm trong tay tầng lớp tiểu nông, hoặc cao hơn do nghề thủ công thực hiện Nói khác đi, cơ sở vậtchất kỹ thuật chưa được xác lập trong cơ cấu của nền kinh tế tiểu nông Ở một ý nghĩa nhất định,kinh tế kém phát triển là kinh tế phi cơ cấu, nền kinh tế là phép cộng của kinh tế tiểu nông màthôi, “đại khái cũng giống như một cái bao tải đựng những củ khoai tây hình thành một bao tảikhoai tây vậy”.
iii, Kinh tế tiểu nông kém phát triển là kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, khép kín trong hộ gia
đình Có thể nói, hộ gia đình là đơn vị sản xuất – tiêu dùng khép kín Nói như K.Marx: “mỗi giađình nông dân gần như tự cấp tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận cái mình tiêu dùng và do
đó tự kiếm những tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giaotiếp với xã hội” Nói khác đi, hệ thống sản xuất chưa thành một hệ thống xã hội, và xã hội chưathành nền tảng của quá trình tái sản xuất trực tiếp của kinh tế tiểu nông Sản xuất và nói chunghoạt động kinh tế được giới hạn trong hộ gia đình, do vậy, xã hội hay nền kinh tế là phép cộngcủa các đơn vị giống nhau, ít có liên hệ, do đó rời rạc Kinh tế kém phát triển, do vậy, có tính chấtmanh mún, phân tán và rời rạc
Thích ứng với tính chất tự nhiên, phân công lao động xã hội kém phát triển, sản xuất hànghóa, do đó, kinh tế hàng hóa là kém phát triển Với sức sản xuất nhỏ bé, năng suất thấp, chưa vượtkhỏi vạch tất yếu và phân công lao động xã hội kém phát triển, sản xuất hàng hóa và kinh tế hànghóa chưa có cơ sở để phát triển, do đó, thành một chỉnh thể chi phối trong phương thức sản xuấtcủa kinh tế tiểu nông Kinh tế hàng hóa trong làn sóng nông nghiệp, hay trong kinh tế kém pháttriển là kinh tế hàng hóa nhỏ, giản đơn Nó yếu ớt, đang manh nha và không có cơ sở của riêngmình nên tiến triển chậm chạp trong sự đối lập, cản trở của kinh tế tự nhiên sinh tồn và chỉ lànhững hoạt động kinh tế phụ và phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp tiểu nông, tự nhiên, tự cung tựcấp
Trang 23d, Thích ứng với kinh tế tự nhiên, sinh tồn, kinh tế tiểu nông là kém phát triển, mang hình
thái là kinh tế hiện vật với các quan hệ lệ thuộc trực tiếp Hàm sản xuất của kinh tế tiểu nông, xét
về mặt lực lượng sản xuất, là quan hệ trong đó con người lệ thuộc vào tự nhiên và sự lệ thuộc nàybiểu hiện sự lệ thuộc trói chặt lao động vào ruộng đất Xét về kinh tế – xã hội, ruộng đất, tư liệusản xuất cơ bản và chủ yếu, do địa chủ và công xã nông thôn chiếm hữu, bởi vậy, con người bị lệthuộc vào tầng lớp chiếm hữu ruộng đất và lệ thuộc vào công xã dưới các hình thái khác nhau.Trong sự lệ thuộc này, con người chưa xác lập thành các cá nhân tự do, tự chủ và họat động kinh
tế của các hộ gia đình về cơ bản là kinh tế lệ thuộc, hay chưa thành các đơn vị kinh tế tự chủ.Trên đây ta đã thấy, kinh tế tiểu nông chưa có phân công lao động xã hội làm cơ sở, vì thế, chưa
có cơ sở vật chất cho sản phẩm lao động của họ trở thành hàng hóa, thì về mặt hình thái kinh tế,chính kinh tế lệ thuộc, trong đó các chủ thể kinh tế tự chủ chưa được xác lập, đã khiến cho sảnphẩm của lao động chưa có hình thái xã hội để chuyển thành hình thái hàng hóa K.Marx viết:
“Nhưng chúng ta hãy rời hòn đảo tươi mát của Robinson để đi vào thời kỳ Trung cổ ảm đạm củaChâu Âu Ở đây chúng ta không thấy con người độc lập ấy nữa mà thấy toàn những con người lệthuộc: Nông nô và lãnh chúa, chư hầu và vương bá, trần tục và tăng lữ Nhưng chính vì nhữngquan hệ lệ thuộc cá nhân cấu thành nên cơ sở xã hội đó, cho nên lao động và sản phẩm khôngphải mang hình thái hư ảo (hàng hóa, tiền tệ) khác với sự tồn tại hiện thực của chúng”[61,104] Ởđây, quan hệ lệ thuộc có hai dạng Dạng lệ thuộc nông nô và dạng lệ thuộc công xã
Trong quan hệ lệ thuộc nông nô, người nông dân lệ thuộc vào chủ đất Ở đây, người nông
dân không chỉ lệ thuộc về kinh tế mà còn bị lệ thuộc về con người, về xã hội Trong quan hệ lệthuộc này, tầng lớp chủ đất chiếm hữu toàn bộ thặng dư do nông dân sản xuất ra, thậm chí còn cảmột phần tất yếu, hơn nữa, người nông dân còn chịu sự áp bức và phần phục dịch dưới các hìnhthức lao dịch cho tầng lớp chủ đất Điều đặc biệt là, giữa tầng lớp chiếm hữu ruộng đất và tầnglớp nông dân tách rời nhau về mặt sản xuất Một mặt, hoạt động sản xuất là do người nông dânthực hiện bằng lao động của gia đình mình, đồng thời, là người chịu trách nhiệm về kết quả sảnxuất Trong khi đó, tầng lớp chủ đất về cơ bản không phải là chủ đầu tư, và vì vậy, cũng khôngtham gia vào việc sản xuất và không có trách nhiệm gì đến kết quả sản xuất Nhưng trong quan hệ
lệ thuộc, người nông dân lại không phải là chủ thể kinh tế tự chủ Bởi vậy, hầu như toàn bộ thặng
dư là thuộc về tầng lớp chủ đất Trong điều kiện kỹ thuật sản xuất thủ công thô sơ với rất nhiềurủi ro, và kinh tế nghèo, mong manh, người nông dân cũng không có khả năng đầu tư tăng thêmnhằm tăng hoa lợi cho mình Vả lại, trong quan hệ lệ thuộc và áp bức nặng nề, tầng lớp chủ đất
Trang 24thường đưa ra một mức tô nặng, khiến nông dân bằng mọi nỗ lực của mình, cố lắm thu được phầntất yếu cho mình Mặt khác, sự tách rời giữa tầng lớp chủ đất và tầng lớp sản xuất thể hiện ở chỗ,thặng dư cho nông dân sản xuất ra nộp cho chủ đất, thì thặng dư này lại biến thành tất yếu, tứcthành quỹ tiêu dùng của tầng lớp chủ đất và phần thừa ra ngoài quỹ tiêu dùng của tầng lớp nàybiến thành của cải tích trữ Nói khác đi, trong quan hệ lệ thuộc nông nô, không chứa đựng cơ chếchuyển thặng dư thành tích lũy Nói khác đi, tích lũy chưa trở thành một quy luật kinh tế và táisản xuất mở rộng chưa trở thành một tất yếu
Như vậy, sự tách rời giữa tầng lớp chiếm hữu và tầng lớp sản xuất đã khiến cho: a, Sản xuất
và kết quả sản xuất tách rời nhau, do vậy, hoạt động kinh tế chưa trở thành một chuỗi liên tục Kếtquả sản xuất không được chuyển thành tích lũy, do vậy, sản xuất luôn diễn ra với những điều kiện
cũ, và tái sản xuất theo điều kiện cũ, phương thức sản xuất cũ b, Tách rời giữa hoạt động sản xuất
và lợi ích do sản xuất tạo ra Từ hai điều này, trong quan hệ lệ thuộc nông nô, kinh tế tiểu nôngkhông có động lực kinh tế nội tại Đây là nguồn gốc kinh tế cơ bản và quyết định của trạng tháitái sản xuất giản đơn và sự trì trệ của kinh tế tiểu nông
Điểm cần nhấn mạnh là, trong điều kiện kinh tế hiện vật, các quan hệ lệ thuộc trực tiếp manghình thái là quan hệ cống – nạp, giao nộp, cướp bóc và tước đoạt, có tính chất áp đặt, áp bức Cóthể nói, đây là những quan hệ phi kinh tế Trong hình thái phi kinh tế, kinh tế tiểu nông chưa xáclập thành một hệ kinh tế với tính cách là hệ biến hóa khiến cho sự thăng tiến của của cải thànhmột tất yếu kinh tế, hay thành một quy luật kinh tế nội tại
Dạng lệ thuộc thứ hai là lệ thuộc công xã Khi xã hội nguyên thủy tan rã và chuyển vào làn
sóng văn minh nông nghiệp thì đồng thời những quan hệ công xã cũng dần tan rã Tuy nhiên, dokinh tế sinh tồn quy định, các quan hệ công xã vẫn chưa thể bị các quan hệ nông nô thay thế hoàntoàn Ở những mức độ khác nhau, nó còn cần thiết cho việc bảo đảm xã hội trong quan hệ duy trì
sự sinh tồn Về mặt kinh tế, các quan hệ công xã về ruộng đất trong quan hệ duy trì khẩu phầnruộng đất, thực chất là duy trì khẩu phần lương thực cho người dân trong công xã sinh tồn Kinh
tế sinh tồn càng nặng, tức sức sản xuất của kinh tế tiểu nông càng nhỏ bé, năng suất càng thấp vàrủi ro càng lớn, thì sự sinh tồn càng nặng nề Đến lượt mình, sự sinh tồn lại đặt việc duy trì quan
hệ công xã trở nên cần thiết Ở đây, cơ chế duy trì khẩu phần ruộng đất bình quân chia theo định
kỳ trong mỗi công xã là quan hệ và cơ chế của kinh tế sinh tồn, kinh tế công xã Cơ chế này có
hai tính chất Một mặt, đó là sự trói chặt người nông dân trong một công xã Ở đây, công xã là
Trang 25thiết chế và do đó là chế độ, nhờ đó người nông dân luôn có thể duy trì khẩu phần ruộng đất công
để duy trì sự sinh tồn Công xã giống như tổ ong và mỗi thành viên công xã bám vào để sống
Mặt khác, trong khi duy trì sự sinh tồn bằng cơ chế duy trì khẩu phần đất bình quân cho các
thành viên trong công xã, quan hệ lệ thuộc công xã đã duy trì quan hệ bình quân Quan hệ bìnhquân không phải quan hệ tuyệt đối của kinh tế kém phát triển, nhưng đó vẫn là quan hệ đặc trưng,tùy mức độ tiến hóa của kinh tế tiểu nông mà quan hệ bình quân trở nên nặng nhẹ và chi phốikhác nhau đối với tiến trình kinh tế
e, Thích ứng với một sức sản xuất nhỏ bé, năng suất thấp, đặt kinh tế trong khung tất yếu,
thặng dư ít và tích lũy chưa trở thành một quy luật kinh tế là một kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế
và xã hội thấp kém Kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội thấp kém, một mặt, thể hiện tính chất
tự nhiên, tính chất chia cắt, biệt lập, manh mún của kinh tế tiểu nông, và mặt khác, nó khiến chotính chất khép kín của kinh tế tiểu nông nặng nề thêm, các nguồn lực kinh tế xã hội trong đókhông được lưu thông, cũng như không được khai thác, sử dụng hợp lý, và nhất là cản trở quátrình phát triển lực lượng sản xuất, và các nguồn lực kinh tế xã hội
Như vậy, văn minh nông nghiệp hay làn sóng nông nghiệp là làn sóng của kinh tế kém pháttriển Kinh tế kém phát triển là kinh tế sinh tồn, mang tính chất tự nhiên, hiện vật và vận độngtrong vòng luẩn quẩn nghèo đẻ ra nghèo Nếu xét về kết cấu và phương thức sản xuất, thì kinh tếkém phát triển là kinh tế với kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông Các quan hệkinh tế và cơ chế kinh tế của kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông khiến chothặng dư kinh tế và tích lũy chưa trở thành những tất yếu và quy luật kinh tế Đến lượt mình,những điều này khiến cho tăng trưởng kinh tế, tái sản xuất mở rộng chưa trở thành cái chỉnh thểkinh tế của làn sóng nông nghiệp, do vậy, làn sóng nông nghiệp là làn sóng vận động trong trì trệ,ngưng đọng, kém phát triển
2 Cách mạng công nghiệp là quy luật của sự phát triển
Sự phân tích về thực chất kinh tế kém phát triển của làn sóng nông nghiệp cho ta thấy, kinh
tế kém phát triển của làn sóng nông nghiệp vận động trong một vòng luẩn quẩn không lối thoát.Trên thực tế lịch sử thì làn sóng nông nghiệp đã tiến triển trong sự ngưng đọng và kéo dài hàngngàn năm và cuối cùng cách mạng công nghiệp đã phá vỡ vòng luẩn quẩn đó và lật đổ kết cấunông nghiệp, xác lập kết cấu công nghiệp, vạch ra thời đại công nghiệp, thời đại kinh tế pháttriển Để hiểu rõ về vai trò lịch sử của cách mạng công nghiệp trong việc xác lập thời đại kinh tế
Trang 26công nghiệp, thời đại kinh tế phát triển, cần phải làm rõ vì sao lại là cách mạng công nghiệp, vàcách mạng công nghiệp có phải là một quá trình tự nó, hay nó dựa trên những tiền đề nào? Haynhững quá trình nào làm cho cách mạng công nghiệp trở thành một tất yếu.
Trước hết, xuất phát từ kết cấu kinh tế, ta thấy rằng, nông nghiệp là nền tảng kinh tế của làn
sóng nông nghiệp Sở dĩ nông nghiệp giữ vị trí là nền tảng kinh tế vì nó là cơ sở của việc giảiquyết vấn đề sinh tồn Như trên ta đã thấy, trong làn sóng nông nghiệp, sinh tồn là quy luật tuyệtđối “Dĩ thực vi tiên” là triết lý phản ánh vai trò quyết định của sản xuất nông nghiệp, ngành sảnxuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu sinh hoạt quyết định tới việc cung cấp nguồn năng lượngthích ứng, chủ yếu, đặc trưng của sự sống Từ vai trò quyết định này, nông nghiệp đã mặc nhiênđược xác lập là nền tảng kinh tế “Nông vi bản”, đó là triết lý khẳng định về mặt ý thức vị trí nềntảng của nông nghiệp trong làn sóng nông nghiệp Nhưng trong làn sóng nông nghiệp, khi nôngnghiệp giữ vị trí nền tảng, đáp ứng yêu cầu của quy luật sinh tồn, nó có hai hệ quả nghiêm trọng:
i, Do sức sản xuất nhỏ bé, năng suất lao động thấp, vì vậy, để duy trì được sự sinh tồn,
nguồn lực chủ yếu của xã hội là dồn cho sản xuất nông nghiệp Đến lượt mình, thiếu các nguồnlực, công nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp không có cơ sở cần thiết để phát triển Có thểnói, trong làn sóng nông nghiệp, nông nghiệp chiếm vị trí độc tôn và luôn được tôn vinh, được đềcao Nhưng khi nông nghiệp chiếm địa vị độc tôn, luôn được tôn vinh và đề cao thì công nghiệp
và các hoạt động phi nông nghiệp do đó không có cơ sở phát triển, vì thế, chỉ là những hoạt động, những ngành kinh tế phụ Đồng thời, cũng với sự tôn vinh và đề cao nông nghiệp, công nghiệp và
thương mại lại bị xã hội xem thường, coi nhẹ, và Nhà nước thường có chính sách ức công, ứcthương
ii, Nông nghiệp với phương thức sản xuất tiểu nông, như ta đã thấy ở trên, đã đặt kinh tế vào
một vòng luẩn quẩn, nghèo đẻ ra nghèo Trong vòng luẩn quẩn này, quy luật sinh tồn, trong quan
hệ với dân số tăng lên và mức sinh lợi giảm dần trên đất đai, do sự đình đốn của kỹ thuật và côngnghệ tạo nên, đã ngày càng nặng nề Đến lượt mình, sự sinh tồn càng trở nên nặng nề thì vị trí vàvai trò của nông nghiệp cũng được đẩy lên, nông nghiệp càng được đề cao và tôn vinh Nói khác
đi, trong làn sóng nông nghiệp, vị trí nền tảng của nông nghiệp được đặt vào một vòng xoáy tănglên Nhưng nông nghiệp với phương thức tiểu nông, là phương thức trì trệ, bảo thủ, lại đặt kinh tếvào một vòng luẩn quẩn theo một vòng xoáy nặng nề hơn Điều này có nghĩa là, trong làn sóngnông nghiệp, kinh tế đã diễn ra trong một mâu thuẫn không thể giải quyết được Mâu thuẫn này
Trang 27hàm nghĩa: a, Kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông đã đi hết con đường của mình; b, Để chuyển sang kinh tế phát triển, hay thực hiện sự phát triển kinh tế, tất phải thay đổi
có tính chất cách mạng trong kết cấu kinh tế và trong phương thức sản xuất Thay kết cấu nôngnghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông bằng kết cấu kinh tế công nghiệp và phương thức sảnxuất đại công nghiệp
Thứ hai, xét về mặt quá trình sản xuất, hay phương thức sản xuất, thì phương thức sản xuất
tiểu nông được xác lập bởi kỹ thuật thủ công, kinh nghiệm cổ truyền và lao động riêng lẻ, cá thể.Như ta đã phân tích ở trên, phương thức sản xuất tiểu nông không chứa đựng những cơ sở cho laođộng tăng sức sản xuất của mình lên Nói khác đi, phương thức sản xuất tiểu nông không phải làphương thức tăng sức sản xuất Điều này giả định, thích ứng với kinh tế tiểu nông, kinh tế chỉ cóthể tăng quy mô theo chiều rộng, tức mở rộng quy mô trên cơ sở tăng thêm các nguồn lực laođộng và ruộng đất trong khi giữ nguyên phương thức sản xuất cũ Mặt khác, ta thấy rằng, trongcấu trúc kinh tế tiểu nông, sản xuất tư liệu lao động chưa thành một lĩnh vực độc lập, tách khỏinông nghiệp Về cơ bản, việc sản xuất tư liệu lao động là hoạt động phụ gia đình và của xã hội
Nó nằm trong tay chính những người nông dân tiểu nông, hoặc thợ thủ công Điều này giả địnhkết cấu kinh tế nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông không có cơ sở để thay đổi cănbản trong cơ sở kỹ thuật của mình, do đó, không có cơ sở thay đổi trong phương thức sản xuất
Từ hai điều trên, ta có thể thấy, kết cấu kinh tế nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nôngkhông thể tự cách mạng được mình để chuyển sang một kết cấu kinh tế mới, một phương thức sảnxuất mới
Vậy, thay đổi trong phương thức sản xuất và kết cấu kinh tế, chuyển kết cấu kinh tế nôngnghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông sang kết cấu kinh tế mới và phương thức sản xuất mớitrong việc xác lập thời đại kinh tế phát triển, đâu là khâu cơ bản, quyết định? Trả lời câu hỏi này
ta cần phân tích các yếu tố cấu thành phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là chỉnh thể, hay sự thống nhất của lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là toàn bộ năng lực thực tiễn của con người,biểu hiện ra là nội dung vật chất của quá trình sản xuất Đó là toàn bộ sức lao động và tư liệu sảnxuất hợp thành quá trình sản xuất Trong hai yếu tố hợp thành quá trình sản xuất, do đó lực lượngsản xuất, thì tư liệu sản xuất là cơ sở vật chất của toàn bộ quá trình sản xuất Không kể đến cácvật thể tự nhiên, cũng như không gian do tự nhiên cung cấp dưới hình thái đối tượng sản xuất, thì
Trang 28tư liệu sản xuất là do lao động con người tạo ra Trong ý nghĩa này, lao động với tính cách là hoạtđộng có ý thức của con người trong việc vận dụng sức lao động sử dụng công cụ lao động, tácđộng vào đối tượng sản xuất, làm thay đổi đối tượng sản xuất, tạo ra những giá trị sử dụng thíchứng với nhu cầu của mình, giữ vai trò quyết định Con người trong quá trình lao động, ngoài việcsản xuất ra những tư liệu tiêu dùng trực tiếp đến sự sinh tồn của mình, còn sản xuất ra tư liệu sảnxuất lao động Trong hoạt động lao động sản xuất thì việc sản xuất ra tư liệu lao động có một ýnghĩa quyết định.
Thứ nhất, tư liêu lao động, đặc biệt là công cụ lao động, quyết định đến kỹ thuật sản xuất,
đến công nghệ sản xuất Đến lượt mình, kỹ thuật và công nghệ sản xuất là nhân tố quyết định đếncái chỉnh thể của một phương thức sản xuất K.Marx viết: “Đối với việc đánh giá những thời đạikinh tế đã biến mất, những di vật của tư liệu lao động cũng có một tầm quan trọng giống như là
sự cấu tạo của những xương hóa thạch đối với việc tìm hiểu tổ chức của các loài động vật đã tiêuvong Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗchúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào Các tư liệu lao động không những
là thước đo sự phát triển của sức lao động của con người, mà còn là chỉ tiêu của những quan hệ xãhội trong đó lao động được tiến hành Trong bản thân của các tư liệu lao động thì những tư liệulao động cơ khí – mà toàn bộ có thể gọi là hệ thống xương cốt, bắp thịt của sản xuất – lại cấuthành những dấu hiệu đặc trưng, tiêu biểu cho một thời đại sản xuất xã hội nhất định”[61,233]
Thứ hai, tư liệu lao động là phương thức nối dài những khí quan của con người, do đó là
phương thức tất yếu tăng sức sản xuất của lao động
Thứ ba, tư liệu lao động quy định tính chất xã hội của lao động, với công cụ thủ công cầm
tay, lao động về cơ bản là lao động cá thể, riêng lẻ, nhưng với máy móc, tư liệu lao động mangtính chất xã hội, thích ứng là lao động mang tính chất xã hội
Thứ tư, một bộ phận của tư liệu lao động hợp thành kết cấu hạ tầng có chức năng là những
điều kiện sản xuất xã hội chung Kết cấu hạ tầng là cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình lưu thông
xã hội và kết nối xã hội của nền sản xuất, nói khác đi, thúc đẩy quá trình xã hội hóa nền sản xuất
Từ những chức năng trên của tư liệu lao động, ta thấy, tư liệu lao động là cái chỉnh thể quyếtđịnh phương thức sản xuất, quyết định đến sức sản xuất, bởi vậy, để thay đổi phương thức sảnxuất, thay đổi sức sản xuất, việc thay đổi căn bản trong tư liệu sản xuất trở thành tất yếu
Trang 29Ta đã biết, tư liệu lao động là do lao động tạo ra Nói khác đi, tư liệu lao động là sản phẩmcủa hoạt động lao động sản xuất của con người Điều này hàm nghĩa, thay đổi trong tư liệu sảnxuất, cũng như tăng tư liệu sản xuất được quyết định ở hoạt động sản xuất ra tư liệu sản xuất.Hoạt động sản xuất ra tư liệu lao động hay ngành sản xuất tư liệu lao động là thuộc hoạt động,hay ngành công nghiệp Con người bước vào thời đại văn minh của mình bằng hoạt động sảnxuất Ngay từ khi bước vào thời đại văn minh, tức bước vào sản xuất, con người đã có hai hoạtđộng sản xuất cơ bản Sản xuất nông nghiệp là hoạt động có đối tượng là cây trồng và vật nuôi,còn việc sản xuất là dựa vào và thông qua quá trình sinh học của động thực vật để sản xuất ralương thực, thực phẩm Công nghiệp, đó là hoạt động chế tác và chế biến, dùng công cụ và côngnghệ làm thay đổi nguyên vật liệu và các quá trình tự nhiên để chế tác ra tư liệu lao động và sảnxuất các vật dụng cần thiết cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Nếu xét theo chứcnăng của các loại sản phẩm do công nghiệp sản xuất ra thì có hai loại, hay hai khu vực côngnghiệp cơ bản, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, còn gọi là công nghiệp nặng và công nghiệpsản xuất tư liệu tiêu dùng, còn gọi là công nghiệp nhẹ Mọi sự phân chia đều có tính tương đối.Chẳng hạn, công nghiệp sản xuất ô tô, nếu sản xuất ra ô tô vận tải, thì đó là công nghiệp sản xuất
tư liệu sản xuất, thuộc công nghiệp nặng; nhưng sản xuất ô tô du lịch, thì đó lại là công nghiệpnhẹ… Nếu xét theo quá trình sản xuất, thì có thể phân chia công nghiệp thành công nghiệp khaithác và công nghiệp chế biến Công nghiệp khai thác là công nghiệp tách khoáng sản và sản phẩm
tự nhiên (gỗ trong rừng, cá ở dưới nước) ra khỏi tự nhiên và biến chúng trở thành nguyên liệu chocông nghiệp chế biến Công nghiệp khai thác còn gọi là công nghiệp thượng nguồn Công nghiệpchế biến là công nghiệp chế tác công cụ và chế biến nguyên liệu thành những giá trị sử dụng cầnthiết cho đời sống con người Công nghiệp chế biến còn gọi là công nghiệp hạ lưu
Đưa ra khái niệm công nghiệp trên đây để thấy chức năng, vị trí và vai trò quyết định củacông nghiệp đối với sự thay đổi trong phương thức sản xuất và thay đổi trong mức thỏa dụngnhững nhu cầu đa dạng của con người và xã hội, và rốt cuộc, làm thay đổi đến toàn bộ phươngthức sinh hoạt của một xã hội
Từ chức năng của công nghiệp trong cấu trúc của nền kinh tế và trong phương thức sản xuấtnhư vậy, ta thấy, công nghiệp là trung tâm của cuộc cách mạng trong cấu trúc kinh tế và trongphương thức sản xuất trong quan hệ với quá trình thay đổi kết cấu nông nghiệp, phương thức sảnxuất tiểu nông và xác lập kết cấu kinh tế và phương thức sản xuất của kinh tế phát triển, đặt kinh
Trang 30tế vào tiến trình phát triển Nói khác đi, để thay đổi kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuấttiểu nông, thiết lập kết cấu kinh tế và phương thức sản xuất cho kinh tế phát triển, và do đó,
chuyển kinh tế nông nghiệp tiểu nông kém phát triển sang kinh tế phát triển, cách mạng công nghiệp trở thành tất yếu
Giai đoạn đầu tiên của tiến trình công nghiệp là công nghiệp nguyên thủy, hay công nghiệp
ở dạng tiểu thủ công nghiệp Nhiều người còn nghĩ rằng nông nghiệp là ngành sản xuất đầu tiêncủa nhân loại Ta biết rằng, nhân loại bước vào lịch sử của mình bằng hoạt động săn bắn và háilượm Đó là những hoạt động tìm kiếm các nguồn dinh dưỡng cho sự sinh tồn của con người.Nhưng chính trong hoạt động săn bắn và hái lượm, tức khi chưa có nông nghiệp, các hoạt độngchế tác ra tư liệu lao động, vật dụng cho đời sống và chế biến thực phẩm đã hình thành Có thểnói, con người bước vào lịch sử của mình bằng hoạt động chế tác tư liệu lao động và chế biếnthực phẩm, và bằng việc chế tạo, sản xuất ra công cụ lao động, con người đã lần đầu tiên táchmình khỏi giới động vật, và bằng việc sản xuất ra tư liệu lao động, con người và xã hội loài người
đã đẩy sản xuất và xã hội tiến về phía trước Như vậy, công nghiệp là phát minh đầu tiên của conngười trong tiến trình lịch sử
Nhưng, do quy luật sinh tồn quyết định, nông nghiệp lại là lĩnh vực, là ngành sản xuất giữ vịtrí nền tảng kinh tế và lập thành cái chỉnh thể, cái trục chi phối toàn bộ tiến trình của làn sóngnông nghiệp và xác lập nên văn minh và thời đại nông nghiệp Đồng thời, với phương thức sảnxuất tiểu nông, làn sóng nông nghiệp mang bản chất kinh tế kém phát triển Trong khung khổ củakết cấu nông nghiệp kém phát triển, công nghiệp là lĩnh vực hoạt động phụ, phụ thuộc vào nôngnghiệp và mang bản chất kém phát triển: Đó là công nghiệp sản xuất nhỏ, dựa trên công cụ, kỹthuật thủ công, lao động riêng lẻ, cá thể và sản xuất hàng hóa nhỏ, giản đơn Từ bản chất kémphát triển này, công nghiệp mang hình thái tiểu thủ công nghiệp Trong tiến trình công nghiệp,đây là giai đoạn công nghiệp nguyên thủy, giai đoạn công nghiệp tiểu thủ công, có hệ số đàn hồithu nhập nhỏ hơn 1, tức tốc độ tăng trưởng của công nghiệp nhỏ hơn tốc độ tăng thu nhập Điềunày hàm nghĩa, tăng trưởng kinh tế trong làn sóng nông nghiệp được quyết định bởi khu vự nôngnghiệp, còn công nghiệp ở dạng tiểu thủ công nghiệp, nhỏ bé, yếu ớt, trì trệ, chưa có ảnh hưởngđáng kể trong nền kinh tế Điều quyết định hơn, ở dạng tiểu thủ công nghiệp, bị phụ thuộc vàonông nghiệp, do nông nghiệp chi phối và mang bản chất của kinh tế tiểu nông, công nghiệp tiểuthủ công chỉ có thể sản xuất và tái sản xuất ra kỹ thuật thủ công Nói khác đi, tiểu thủ công nghiệp
Trang 31cũng vận động trong sự luẩn quẩn của kinh tế tiểu nông, bởi vậy, không thể là nhân tố tự làm thayđổi cách mạng trong kết cấu kinh tế và trong phương thức sản xuất Điều này hàm nghĩa, cáchmạng công nghiệp, chính là thay đổi có tính cách mạng bản chất tiểu thủ công của công nghiệp,nhờ đó làm thay đổi toàn bộ kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông, đặt nền kinh
tế vào tiến trình kinh tế phát triển, và bởi vậy, cách mạng công nghiệp trở thành một tất yếu, mộtquy luật của sự phát triển
IV Tiền đề của cách mạng công nghiệp và CNH
Trong vòng luẩn quẩn của làn sóng nông nghiệp, công nghiệp với tính cách là một hoạt độngkinh tế phụ, là nghề phụ của gia đình và ngành kinh tế phụ của nền kinh tế, hơn nữa, mang bảnchất tiểu nông, công nghiệp tiểu thủ công cũng vận động trong trạng thái luẩn quẩn: tiểu thủ côngnghiệp lại tái sản xuất ra tiểu thủ công nghiệp Nói khác đi, cái gì dẫn tới cách mạng công nghiệp?Trên đây ta đã thấy, khi làn sóng nông nghiệp đã đi hết con đường của mình, thì với tínhcách là ngành sản xuất tư liệu lao động, quyết định đến kỹ thuật, công nghệ, và nói chung toàn bộkết cấu và phương thức sản xuất, công nghiệp trở thành khâu trung tâm của cách mạng trongphương thức sản xuất và kết cấu kinh tế, do đó, chuyển kinh tế của nhân loại vào tiến trình pháttriển Nhưng nói như vậy không có nghĩa công nghiệp trong hình thái tiểu thủ công nghiệp tự dẫntới cuộc cách mạng của mình Bởi vì, tại sao tới giữa thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp mớithực sự diễn ra tại Anh, hay nói khác đi, tại sao cách mạng công nghiệp đã không xảy ra trước đó
và ở khắp Châu Âu? Hơn nữa, vì sao phần rộng lớn còn lại của thế giới, sau 200 năm, tới gần nửacuối thế kỷ XX, mới tiến hành CNH? Thực tế lịch sử này cho thấy, sự cần thiết của CNH bắtnguồn từ bản chất của công nghiệp là sản xuất tư liệu sản xuất, ngành quyết định sự thay đổi cáchmạng trong kết cấu kinh tế và trong phương thức sản xuất, mới chỉ là điều kiện cần mà thôi, haythuộc về quy luật nội tại trong thay đổ lực lượng sản xuất, trong nội dung vật chất của quá trìnhsản xuất Vấn đề quyết định của cách mạng công nghiệp, xét cho cùng là nằm trong tất yếu kinh
tế, trong quy luật kinh tế
Về mặt lý luận, một câu hỏi đặt ra: vậy khi nào, hay trong điều kiện nào và trên nền tảngkinh tế nào cách mạng công nghiệp, hay công nghiệp hoá được bắt đầu diễn ra?
Trang 32Trong lý luận công nghiệp hoá Xô viết, công nghiệp hoá là quá trình xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho phương thức sản xuất XHCN, do đó là vấn đề tạo ra một năng suất nhờ đó CNXH
“đánh bại chủ nghĩa tư bản” do đó công nghiệp hoá được xem là một quy luật bắt buộc Ở đâyTiền đề của công nghiệp hoá chính là chế độ XHCN với nhà nước chuyên chính vô sản Theođây, một khi nhà nước chuyên chính vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa được xác lập, thì theo quyluật, phát triển công nghiệp, công nghiệp hoá là đương nhiên Nhưng rõ ràng tiền đề của côngnghiệp hoá ở đây mới chỉ là tiền đề chính trị, vấn đề là ở chỗ, tiền đề kinh tế của quá trình côngnghiệp hoá
Ta biết rằng công nghiệp hoá là một cuộc cách mạng trong cấu trúc kinh tế và trong phươngthức sản xuất của nền kinh tế xã hội, do đó là một cuộc cách mạng trong nội sinh kinh tế, trong
nội dung vật chất của nền sản xuất xã hội Một mặt, ở một ý nghĩa nhất định, thực chất của công
nghiệp hoá là một cuộc cách mạng trong sức sản xuất của lao động hình thành nên một sức sảnxuất nhờ đó xã hội chuyển từ kinh tế nông nghiệp mang tính tất yếu sinh tồn thành kinh tế côngnghiệp, kinh tế thặng dư, kinh tế tích luỹ Điều này giả định để tiến hành cách mạng công nghiệp,thì trong tiến trình kinh tế đã hình thành một sức sản xuất, nhờ đó công nghiệp có thể tách ra khỏinông nghiệp và phát triển thành một ngành độc lập K.Marx viết: “Quan hệ tư bản chủ nghĩa xuấthiện trên một miếng đất kinh tế vốn là sản phẩm của một tiến trình lâu dài Năng suất hiện có củalao động, làm cơ sở xuất phát cho quan hệ đó, không phải là tặng vật của tự nhiên mà là tặng vậtcủa một lịch sử bao trùm hàng nghìn thế kỷ”[62,12] Ông nhấn mạnh “nếu không có một năng suấtnào đó của lao động thì sẽ không có một thời gian rỗi cho người lao động; nếu không có một thờigian dôi ra như thế thì cũng không có lao động thặng dư, và do đó cũng không có nhà tư bản, vàlại càng không có chủ nô, nam tước phong kiến, nói tóm lại, không có giai cấp đại sở hữu”[62,11].Bước chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng công nghiệp, hay quá trình công nghiệp hoáđược đặc trưng bởi sức sản xuất của xã hội vượt khỏi vạch tất yếu, và tại đó hình thành và pháttriển lao động thặng dư Có thể nói, thặng dư, hay sức sản xuất vượt khỏi vạch tất yếu là sức sảnxuất làm xuất phát điểm cho công nghiệp hoá, hay tiền đề của công nghiệp hoá Theo K.Marxthì sức sản xuất này được biểu hiện ra là năng suất của những người làm nông nghiệp với tínhcách là lao động cần thiết, hay lao động tất yếu, có một năng suất khiến cho chỉ một bộ phận nhấtđịnh của lao động xã hội là đã sản xuất ra lương thực, thực phẩm không những cho dân cư nôngnghiệp, mà cho toàn bộ xã hội, nhờ vậy, giải phóng được một bộ phận lao động ra khỏi nôngnghiệp và chuyển họ vào sản xuất công nghiệp Theo cách hiểu hiện đại, thì sức sản xuất nông
Trang 33nghiệp đã “vượt được cửa ải lương thực”, vì thế theo K.Marx: “Như vậy lao động nông nghiệp là
cơ sở tự nhiên không phải chỉ riêng cho lao động thặng dư trong lĩnh vực của bản thân nôngnghiệp, mà nó còn là cơ sở tự nhiên, tất yếu để biến tất cả các ngành lao động khác thành nhữngngành độc lập"[62,11] Nếu xét về thực tiễn phát triển kinh tế, thì cho thấy, trong điều kiện kinh tếthị trường, các cuộc cách mạng công nghiệp, hay các quá trình công nghiệp hoá diễn ra trong lịch
sử, xuất phát điểm kinh tế của cách mạng công nghiệp, hay công nghiệp hoá được đặc trưng ởmức thu nhập quốc dân tính trên đầu người/năm là trong khoảng 150 – 200 USD/năm, xin lưu ý,đây là giá trị USD vào giữa thập kỷ 50 của thế kỷ XX trở về trước Nó hàm nghĩa sức sản xuấtcủa nền sản xuất xã hội đã vượt quá vạch tất yếu và bắt đầu có tích luỹ
Nhưng những tiền đề nảy sinh từ quan hệ sản xuất, từ hình thái xã hội và một trình độ nhấtđịnh đạt được của xã hội lại giữ vai trò quyết định đối với cách mạng công nghiệp
Thứ nhất, một trình độ nhất định của sản xuất hàng hóa đạt được, do đó là quan hệ hàng
hóa – tiền tệ, quan hệ thị trường
Ta đã biết bản chất của phương thức sản xuất tiểu nông và kết cấu kinh tế nông nghiệp làkinh tế sinh tồn, tự nhiên Nó không chứa những quan hệ, cơ chế và động lực kinh tế cho sản xuấthàng hóa, cho quan hệ hàng hóa – tiền tệ hình thành, phát triển Tuy nhiên, điều này không cónghĩa trong làn sóng nông nghiệp, sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa – tiền tệ lại không phátsinh và tiến triển
K.Marx đã chỉ ra, sản xuất hàng hóa được xác lập, do đó, sản phẩm của lao động mang hìnhthái hàng hóa là dựa trên phân công lao động xã hội và sở hữu, hay chiếm hữu tư nhân nhữngđiều kiện và sản phẩm của lao động Hai nhân tố này đã có mầm móng từ khi con người bước vàothời đại văn minh nông nghiệp, do đó, đã chứa đựng sự phát sinh quá trình chuyển sản phẩm lao
động thành hàng hóa, phát sinh quá trình trao đổi Một là, có sự khác biệt mang tính tự nhiên về
điều kiện tự nhiên của sản xuất, do đó phân công lao động tự nhiên K.Marx viết: “Không phải độphì tuyệt đối của đất đai mà chính tính chất có phân biệt của nó, tính chất nhiều vẻ của sản phẩm
tự nhiên của đất đai, là cơ sở tự nhiên của phân công lao động trong xã hội, và thúc đẩy con người– thông qua những điều kiện tự nhiên trong đó con người sinh sống – tăng thêm những nhu cầu,năng lực, tư liệu lao động và phương thức lao động của bản thân con người”[62,14] Có người chorằng, phân công giữa chăn nuôi và trồng trọt là cuộc đại phân công lao động xã hội thứ nhất.Nhưng thực ra, trong tiến trình lịch sử không có cuộc phân công lao động giữa trồng trọt và chăn
Trang 34nuôi với tính cách là một cuộc cách mạng Bởi vì , do điều kiện tự nhiên quy định, đã hình thànhnên một số khu vực lấy chăn nuôi làm ngành sản xuất chủ yếu, và do đó, kết cấu nông nghiệp,thực chất là kết cấu kinh tế chăn nuôi Nhưng đây không phải là cuộc đại phân công lao động vì:
i, Nó không xuất phát từ trình độ phát triển của sức sản xuất của lao động, do đó nằm trong nội
sinh của quá trình tiến hóa của sức sản xuất ii, Không phải là quá trình tách chăn nuôi khỏi trồng
trọt trong một cơ cấu sản xuất nhất định, và do vậy, giữa chăn nuôi và trồng trọt không có mốiquan hệ hữu cơ trong một hệ thống sản xuất duy nhất Ở đây, chăn nuôi tồn tại độc lập, tách biệtvới trồng trọt, và trở thành một nguồn dinh dưỡng tạo ra năng lượng cho một cộng đồng, cũnggiống như trồng trọt cung cấp nguồn dinh dưỡng, nguồn năng lượng đặc thù cho các dân cư trồngtrọt vậy
Nhưng có sự khác biệt về nguồn dinh dưỡng, nguồn năng lượng, xét về giá trị sử dụng, nó
đã chứa đựng cơ sở cho một sự trao đổi
Hai là, ở thời kỳ đầu của làn sóng nông nghiệp, các cộng đồng bộ lạc, bộ tộc chưa có chiếm
hữu, sở hữu tư nhân, nhưng đã có chiếm hữu cộng đồng bộ lạc, bộ tộc Ở đây, trong từng bộ lạc,
bộ tộc do không có chủ sở hữu tư nhân, nên sản phẩm không mang hình thái hàng hóa, vì vậy,không xuất hiện những cơ sở cho trao đổi trong nội bộ bộ lạc, bộ tộc Tuy nhiên, giữa các bộ tộcvới nhau, chúng đối diện với nhau như những chủ thể chiếm hữu độc lập, lại xác lập cơ sở choviệc trao đổi
Như vậy, ngay ở thời kỳ bộ tộc của làn sóng nông nghiệp đã có những cơ sở cho trao đổiphát sinh K.Marx viết: “Sự trao đổi hàng hóa bắt đầu ở nơi mà công xã kết thúc, ở những điểm
nó tiếp xúc với các công xã khác hay với những thành viên của các công xã khác đó Nhưng mộtkhi các vật đã trở thành hàng hóa trong quan hệ đối ngoại thì do tác động ngược trở lại, chúngcũng sẽ trở thành hàng hóa cả ở trong nội bộ công xã nữa”[61,119] Chỉ có điều, trong làn sóng nôngnghiệp, một mặt, sản xuất hàng hóa mang tính chất là sản xuất hàng hóa nhỏ, giản đơn Mặt khác,chưa có đại phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp làm cơ sở, đồng thời trong sựkìm hãm của phương thức sản xuất tiểu nông và các thiết chế, chính sách đi ngược với tiến trìnhphát triển, vì vậy, sản xuất hàng hóa, kinh tế hàng hóa tiến triển yếu ớt và chậm chạp Tuy nhiên,qua hàng nhiều ngàn năm tiến triển, kinh tế hàng hóa đã được tích hợp lại và dần dần trở thành
một lực lượng mạnh mẽ, chi phối đến tiến trình kinh tế xã hội Một mặt, nó thúc đẩy thương mại
và công nghiệp phát triển Đến lượt mình, công nghiệp, thương mại phát triển chính là thúc đẩy
Trang 35phân công lao động xã hội, và thúc đẩy quá trình tích lũy của cải, thúc đẩy quá trình phát triển củakinh tế tư nhân, do đó, thúc đẩy mạnh mẽ chính ngay những tiền đề và cơ sở cho kinh tế hàng hóa
phát triển Mặt khác, kinh tế hàng hóa là kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, với các quan hệ lệ
thuộc, vì vậy, kinh tế hàng hóa thăng tiến và trở nên mạnh mẽ sẽ thúc đẩy quá trình mủn nát, tan
rã các quan hệ lệ thuộc Trung cổ, lệ thuộc công xã và lệ thuộc nông nô, và tự do hóa kinh tế Ởmột ý nghĩa nhất định, quan hệ hàng hóa – tiền tệ là những quan hệ lập thành hình thái kinh tế –
xã hội cần thiết của phân công lao động, do vậy, nó hình thành nên những điều kiện sẵn sàng chomột cuộc cách mạng trong phân công lao động xã hội
Thứ hai, một trình độ nhất định của tiểu thủ công nghiệp Trình độ nhất định này của tiểu
thủ công biểu hiện ra ở mức độ tách nghề tiểu thủ công khỏi nghề phụ gia đình, do đó, xác lập cáchình thái tiểu thủ công nghiệp phường hội tập trung trong các thành thị, hay trung tâm thươngmại Tiểu thủ công nghiệp phường hội mặc dù chưa thoát khỏi các quan hệ lệ thuộc phong kiến,song đã có tính độc lập và quy mô tập trung nhất định, qua đó tiểu thủ công nghiệp có cơ sở đểtăng mức chuyên nghiệp, tăng sức sản xuất trong quan hệ đáp ứng nhu cầu tăng lên về sản phẩmcông nghiệp của tầng lớp quý tộc, quan lại và dân cư đô thị, cũng như xuất khẩu, đồng thời hìnhthành nên một đội ngũ thợ thủ công có kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn ngày một cao Nhữngxưởng thợ của các phường hội tập trung trong các đô thị là cơ sở vật chất chuẩn bị cho cách mạngcông nghiệp
Thứ ba, một trình độ nhất định của hoạt động giáo dục Ta đã biết, kinh tế kém phát triển
với kết cấu nông nghiệp và phương thức sản xuất tiểu nông là dựa trên kỹ thuật thủ công và kinhnghiệm cổ truyền Thích ứng với nền kinh tế kém phát triển là một nền giáo dục ít tính chuyênnghiệp và thực nghiệp Cách mạng công nghiệp là một cuộc thay đổi căn bản trong kỹ thuật vàcông nghệ sản xuất đòi hỏi một tri thức khoa học về quy luật tự nhiên, xã hội cũng như nhữnghiểu biết chuyên môn về kỹ thuật, công nghệ Đặc biệt, kỹ thuật cơ khí và công nghệ chỉ có thểphát triển trên cơ sở của toán học cao cấp, cơ học, vật lý, hóa học, sinh học… Đến lượt mình, điềunày đã đặt việc thiết lập và phát triển một nền giáo dục và đào tạo nghề nghiệp mang tính chuyênnghiệp và thực nghiệp thành một tất yếu Đó là những công xưởng cung cấp tri thức và nhân lựcchuyên nghiệp cho nền đại công nghiệp Đương nhiên, nền giáo dục này là sản phẩm của cáchmạng công nghiệp và tiến trình công nghiệp phát triển Tuy nhiên, một trình độ chuyên nghiệp ítnhiều và mang sang thực nghiệp ít nhiều, hình thành và tích hợp trong tiến trình của làn sóng
Trang 36nông nghiệp lại là những điều kiện thuận lợi ít nhiều đối với cách mạng công nghiệp Có thể nói,cuộc cách mạng văn hóa trong thế kỷ ánh sáng ở Châu Âu là cuộc cách mạng tri thức, cách mạng
tư duy và tinh thần, chuẩn bị năng lực con người và năng lực xã hội cho cách mạng công nghiệp
Thứ tư, cách mạng dân chủ tư sản loại bỏ chế độ phong kiến, xác lập thể chế kinh tế tự do,
xã hội dân chủ cho cách mạng công nghiệp Đây là cuộc đại cách mạng xã hội, giải phóng xã hộikhỏi các quan hệ lệ thuộc, xác lập nên hình thái xã hội cần thiết cho giải phóng sức sản xuất vàphát triển kinh tế Cách mạng công nghiệp là một cuộc đại phân công lao động xã hội Thực chất
của cuộc đại phân công lao động xã hội này là sự nở rộ của các ngành nghề và phát triển mạnh
mẽ quá trình chuyên môn hóa, quá trình xã hội hóa Đến lượt mình, quá trình này đặt việc xác lập
và phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường với tính cách là hình thái kinh tế cho tiến trìnhđại phân công lao động, tiến trình công nghiệp thành một tất yếu Nhưng ta đã biết, tiến trình xãhội hóa, tiến trình kinh tế thị trường đối lập với kinh tế gia trưởng và các quan hệ lệ thuộc, chuyênchế của chế độ và thể chế chuyên chế quân chủ phong kiến Nói khác đi, xóa bỏ chế độ phongkiến quân chủ, chuyên chế và các quan hệ lệ thuộc Trung cổ, tự do hóa kinh tế, dân chủ hóa xã
hội trở thành một tiền đề tiên quyết của cách mạng công nghiệp Cũng cần nhấn mạnh rằng: i,
Thích ứng với kinh tế tự do và xã hội dân chủ là xã hội pháp quyền Thật vậy, tự do kinh tế vàdân chủ xã hội chỉ được vận hành bình thường trong một hệ thống luật pháp thích ứng Trong đóquyền tài sản, quyền công dân và quyền kinh doanh, nói chung là quyền mưu sinh, được luật hóathực chất là xác lập cơ sở pháp lý cho sự xác lập, phát triển của các chủ thể kinh tế tự chủ và hoạtđộng kinh tế tự do của các doanh nghiệp của nền kinh tế thị trường Các chủ thể kinh tế tự chủ vàdoanh nghiệp này chính là chủ thể và hình thức kinh tế thực hiện sự phát triển kinh tế nói chung
và cách mạng công nghiệp nói riêng ii, Thích ứng với xã hội dân chủ là Nhà nước pháp quyền Ở
đây, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phát sinh từ nền kinh tế thị trường, kinh tế tự do và xã hộidân chủ Nó có chức năng cung cấp thể chế và luật pháp cho hoạt động kinh tế và hoạt động xãhội của con người Như vậy, xã hội được giải phóng khỏi chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế
và việc xác lập tự do kinh tế, dân chủ xã hội và Nhà nước pháp quyền là tiền đề chính trị – xã hộitiên quyết của phát triển kinh tế nói chung và cách mạng công nghiệp nói riêng
Trên đây là những tiền đề kinh tế, xã hội cho phát triển kinh tế nói chung, cách mạng côngnghiệp nói riêng Những tiền đề này, ở một ý nghĩa nhất định, là thành tựu đạt được của một xãhội Trong khi làn sóng nông nghiệp đi hết con đường của mình, nó đặt ra những vấn đề cần giải
Trang 37quyết, đồng thời trong lòng làn sóng nông nghiệp cũng đã hình thành những tiền đề giải quyếtnhững vấn đề mà nó đặt ra và đặt xã hội vào một tiến trình mới Ở một ý nghĩa nhất định, nhữngtiền đề này thể hiện năng lực của một xã hội đạt được khi bước vào cách mạng công nghiệp, dovậy, chúng thể hiện mức độ nhất định tính sẵn sàng thực hiện cách mạng công nghiệp, cũng nhưthể hiện tính thuận lợi ít hay nhiều, cũng như những khó khăn, những cản trở lớn hay nhỏ đối vớiquá trình phát triển nói chung và đối với cách mạng công nghiệp nói riêng Có thể nói, tổng thểnhững tiền đề nêu trên nói lên sự chín muồi của cách mạng công nghiệp
Điều chú ý ở đây là tính không nhất trí của các tiền đề hợp thành mức độ chín muồi và mức
độ sẵn sàng của cách mạng công nghiệp Trong số những tiền đề của CNH, người ta thường chú ý
và nhấn mạnh đến sức sản xuất, do đó đến thặng dư và khả năng tích lũy của nền sản xuất xã hội.Điều này là hoàn toàn đúng Nó nói lên điều cốt yếu, xã hội đã vượt khỏi khung kinh tế kém pháttriển và với sức sản xuất vượt khỏi vạch tất yếu, tạo ra thặng dư, do đó, tích lũy, nền kinh tế đangchuyển sang một tiến trình kinh tế mới, kinh tế thặng dư, kinh tế tích lũy – tái sản xuất mở rộng.Nhưng xét cho cùng, chính tiến trình kinh tế hàng hóa – tiền tệ, do đó, kinh tế thị trường mới làcái tạo ra tiền đề bao trùm của CNH, vì nó là cái trên đó sức sản xuất phát triển, thặng dư và tíchlũy phát sinh, do đó, tiến trình phát triển kinh tế mới hình thành Đồng thời nó là cái làm mủn nát,tan rã kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cấp tự túc và những thiết chế xã hội lệ thuộc thích ứng vốn đã
từ lâu trở nên lỗi thời, do đó, phá vỡ những cản trở đối với tiến trình phát triển K.Marx từng chỉra: “Ngoài những tai họa của thời đại hiện nay ra, chúng ta còn phải chịu đựng cả một loạt nhữngtai họa kế thừa do chỗ các quan hệ cổ xưa, lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệchính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra Chúng ta đau khổ không những vì những người sốngdai dẳng, mà còn vì những người đã chết” Còn cách mạng dân chủ tư sản là tiền đề trực tiếp, và ởmột ý nghĩa nhất định, với tính cách là sự giải phóng xã hội khỏi các quan hệ lệ thuộc và xóa bỏthể chế và chế độ quân chủ chuyên chế, cách mạng dân chủ tư sản xác lập nên nền tảng chính trị –
xã hội của cách mạng công nghiệp
Độ chín muồi khác nhau của cách mạng công nghiệp chính là nguyên nhân của trạng tháichậm phát triển, hay sự phát triển nói chung và cách mạng công nghiệp nói riêng chậm diễn ra,đồng thời sự chín muồi không đồng đều trong các tiền đề là cái giải thích vì sao cách mạng côngnghiệp diễn ra khó khăn, chậm chạp, thậm chí kém thành công
Trang 38V Bản chất và quy luật kinh tế của sự phát triển và của CNH
Lý luận kinh tế của mô hình Xô viết chỉ ra, CNH chuyển nền kinh tế thành một hệ thốngcông nghiệp là cần thiết của việc xác lập cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH, do đó, là yếu tốquyết định tăng sức sản xuất của xã hội lên, và rốt cuộc, bằng sức sản xuất hơn hẳn, CNXH đánhbại CNTB, giống như CNTB đánh bại CNPK Nhưng điều quyết định là trên hệ thống kinh tế nào
và dưới sự thúc đẩy của quy luật nào, cách mạng công nghiệp diễn ra và do đó tiến trình côngnghiệp vận động Lý luận kinh tế Xô viết tin tưởng hệ thống kinh tế Xô viết công hữu và cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, chỉ huy là hệ thống lý tưởng cho sức sản xuất và hệ thống công nghiệpthăng tiến Niềm tin đó dựa trên lập luận cho Nhà nước có năng lực tuyệt đối trong việc tập trungcủa cải cho việc thúc đẩy công nghiệp và phân bổ của cải theo những mục tiêu mà mình mongmuốn Nhưng sai lầm căn bản của lập luận này là những năng lực tuyệt đối của Nhà nước đókhông phải là những quan hệ, cơ chế kinh tế khách quan, nội tại của sự phát triển, vì vậy, trongmột hệ thống quan hệ và cơ chế kinh tế không thích hợp, năng lực tuyệt đối của Nhà nước đó trởthành tai họa cho sự phát triển Thực ra, kinh tế Xô viết không phải là một hệ thống kinh tế vớinhững quan hệ và quy luật kinh tế khách quan phát sinh từ yêu cầu nội tại của tiến trình côngnghiệp, trái lại, đó là sự áp đặt những quan hệ pháp lý và những thiết chế theo những giáo điều vềmột CNXH lý tưởng Ở đây, thực ra đời sống thể chế đã nuốt mất đời sống kinh tế, và rốt cuộc,tiến trình công nghiệp không có đời sống kinh tế của mình và vận động trong một hệ thống thểchế của kinh tế hiện vật, kinh tế công cộng, Nhà nước và cơ chế chỉ huy, tiến trình công nghiệptất rơi vào sự bế tắc và khủng hoảng Trên thực tế, nền đại công nghiệp Xô viết đã bị sụp đổ Đó
là sự sụp đổ của mô hình kinh tế công cộng kế hoạch hóa, tập trung, chỉ huy và phi thị trường.Việc các nước XHCN xây dựng nền đại công nghiệp theo mô hình Xô Viết hoặc bị sụp đổ,chuyển hẳn sang kinh tế thị trường, hoặc cải cách, đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường khẳngđịnh một quy luật vĩnh cửu: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta cónhững quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ – tức quan hệ sản xuất.Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vậtchất của họ”[63,637] Toàn bộ những quan hệ sản xuất này hợp thành cơ chế kinh tế của xã hội,thành hình thái xã hội của sự phát triển của lực lượng sản xuất Ở trình độ đại công nghiệp của lựclượng sản xuất, hình thái kinh tế thích ứng đó chính là hệ thống kinh tế thị trường Sự sụp đổ củađại công nghiệp Xô viết đồng thời cũng khẳng định hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phithị trường là hệ thống không thích hợp với đại công nghiệp Không có hình thái kinh tế thích ứng,
Trang 39do đó không có đời sống kinh tế, đại công nghiệp không thể vận động và thăng tiến như một tiếntrình lịch sử – tự nhiên, tự vạch đường đi, vì vậy, dù có được tạo lập, rốt cuộc cũng bị sụp đổ Thực ra, cách mạng công nghiệp của Anh đã thực hiện trên nền tảng của hệ kinh tế thịtrường và nói chung đại công nghiệp đã thông qua hệ kinh tế thị trường mà được thiết lập và pháttriển Cách mạng công nghiệp xác lập thời đại công nghiệp đã được K.Marx phản ánh về mặt lýluận trong bộ “Tư Bản” của ông và kinh tế học của gần 300 năm qua về cơ bản là kinh tế học củakinh tế thị trường, kinh tế của tiến trình công nghiệp Giờ đây, một mặt, chúng ta đang thực hiện
sự phát triển với nội dung vật chất là chuyển kinh tế từ kinh tế với kết cấu nông nghiệp sang kinh
tế công nghiệp phát triển Mặt khác, từ bỏ mô hình kinh tế công cộng, kế hoạch hóa tập trung Xô
Viết phi thị trường, chuyển sang hệ thống kinh tế thị trường Vì vậy, để hiểu thấu triệt bản chất kinh tế và quy luật kinh tế phát triển và của CNH, việc nghiên cứu kinh tế thị trường với tính cách
là hệ kinh tế, nền tảng kinh tế trên đó tiến trình phát triển, tiến trình đại công nghiệp được xác lập và phát triển trở nên cần thiết
Cũng cần nhận thấy rằng, cho tới nay, tiến trình công nghiệp, hay thời đại công nghiệp đãtrải qua gần 300 năm, và đã đi hết con đường của mình, đồng thời tiến trình phát triển của nhânloại đã chuyển vào thời đại mới, thời đại hậu công nghiệp Điều này hàm nghĩa, tiến trình côngnghiệp, hay thời đại công nghiệp đang mất dần hiệu lực và trở nên lỗi thời Trong bối cảnh này,việc các nước kém phát triển thực hiện quá trình phát triển, tức chuyển kinh tế từ kết cấu nôngnghiệp kém phát triển sang kinh tế phát triển sẽ không thể tiến hành theo các quá trình và các quyluật của thời đại công nghiệp Điều này giả định việc thực hiện sự phát triển theo các quá trình vàquy luật thời đại hậu công nghiệp, thì việc hiểu biết và nắm bắt được các quá trình và các quy luậtkinh tế của tiến trình phát triển hậu công nghiệp trở nên cần thiết Nhưng để quán triệt được cácquá trình và quy luật phát triển của thời đại hậu công nghiệp trong quan hệ với việc giải quyết vấn
đề phát triển của các nước đang phát triển, thì những tri thức về cách mạng công nghiệp, cũngnhư quy luật kinh tế của việc chuyển kinh tế với kết cấu nông nghiệp sang kinh tế phát triển, cómột ý nghĩa quan trọng đặc biệt
Một mặt, làn sóng phát triển công nghiệp và làn sóng phát triển hậu công nghiệp đều nằm
trong khung của thời đại phát triển, chúng chứa đựng những đặc trưng, tính chất và quy luậtchung của một tiến trình phát triển liên tục Cách mạng công nghiệp và tiến trình công nghiệpvạch ra thời đại phát triển với chỉnh thể công nghiệp Đến lượt mình, tiến trình công nghiệp, thời
Trang 40đại công nghiệp là sự chuẩn bị những tiền đề và cơ sở cho thời đại hậu công nghiệp Trong khi
đó, thời đại hậu công nghiệp là sự nối tiếp thời đại công nghiệp trên một chất lượng mới, với
những tính chất và quy luật phát triển mới Mặt khác, việc giải quyết vấn đề chuyển nền kinh tế
với kết cấu nông nghiệp sang kinh tế phát triển, mặc dù trong điều kiện phát triển mới, chịu sự chiphối của những quy luật phát triển của thời đại mới, vì vậy, là một quá trình vượt qua thời đạicông nghiệp, thời đại giờ đây đã lùi vào lịch sử và trở nên lỗi thời Tuy nhiên, việc phát triển ởđây vẫn là quá trình phải đối mặt với vấn đề kém phát triển, do đó là với những ngáng trở củatrạng thái kém phát triển, với những quy luật của nền kinh tế kém phát triển, do vậy là quá trìnhphải vượt qua trạng thái kém phát triển Từ những đặc điểm của quá trình giải quyết vấn đề pháttriển ở các nước đang phát triển trong điều kiện của thời đại hậu công nghiệp, ta thấy, sự pháttriển ở đây phải chịu sự tác động của hai loại quy luật, quy luật của tiến trình công nghiệp hay củathời đại phát triển công nghiệp và các quy luật của thời đại phát triển hậu công nghiệp Đến lượtmình, điều này quy định, việc hiểu thấu triệt những tất yếu, những quy luật kinh tế của cách mạngcông nghiệp, do đó của tiến trình công nghiệp trở nên cần thiết và có ý nghĩa về phương phápluận để hiểu thấu triệt quá trình vượt qua hai thời đại để đưa nền kinh tế với kết cấu nông nghiệp,kém phát triển bắt kịp với thời đại phát triển mới, thời đại hậu công nghiệp Đương nhiên, nếunhân loại cùng lúc tiến hành cách mạng công nghiệp, do đó cùng dắt tay nhau vào thời đại côngnghiệp, thì ngày nay, khi sống trong thời đại hậu công nghiệp, các tri thức về cách mạng côngnghiệp, về CNH đã trở thành đồ cổ và được xếp vào viện bảo tàng, cùng với “cái xa quay sợi vàchiếc rìu đá” Tuy nhiên, hiện giờ, phần còn lại to lớn của thế giới đang thực hiện sự phát triển,đang phải vượt qua thời đại nông nghiệp để đưa nền kinh tế vào tiến trình phát triển, vì vậy, việcnắm vững các tất yếu và quy luật phát triển công nghiệp vẫn còn cần thiết
Thời đại công nghiệp mở màn bằng cách mạng công nghiệp, cho tới nay đã trải qua gần 300năm Bản chất của tiến trình công nghiệp là có tính cách mạng, vì vậy, sau gần 300 năm, tiến trìnhcông nghiệp đã có những chuyển biến mạnh mẽ, vượt bậc Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX,trong công nghiệp đã diễn ra những thay đổi mang tính cách mạng về kỹ thuật, công nghệ, do đó,
về kinh tế Người ta gọi đây là cuộc cách mạng kỹ thuật, hay cách mạng công nghệ thứ hai với sự
ra đời của năng lượng mới, công nghệ mới Thực ra, mặc dù có những bước tiến mang tính cáchmạng trong kỹ thuật và công nghệ, song những thay đổi này vẫn nằm trong khung của tiến trìnhcông nghiệp, đúng ra trong khung của kinh tế với chỉnh thể công nghiệp, vì vậy, vẫn là thuộc tiếntrình công nghiệp, thời đại phát triển công nghiệp Đến lượt mình, sự phát triển do tiến trình công