TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Công nghiệp cơ khí là một ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế bởi vì đây là một ngành công nghiệp sản xuất ra máy
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công nghiệp cơ khí là một ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế bởi vì đây là một ngành công nghiệp sản xuất ra máy móc, thiết bị cung cấp cho toàn bộ cho các ngành kinh tế khác
Thực tế cho thấy, trên thế giới không có bất kỳ quốc gia nào thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà lại không có nền công nghiệp cơ khí mạnh, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của tất cả các ngành nghề khác nhau trong xã hội, nó còn có tác động tích cực đến ngành dịch vụ thông qua sự phát triển của mạng lưới phân phối, thu hút số lượng lao động xã hội, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế
Phát triển công nghiệp cơ khí sẽ cho phép các nước tiết kiệm được những khoản ngoại tệ lớn dành cho nhập khẩu máy móc thiết bị hàng năm (những năm gần đây Việt Nam đã nhập khẩu bình quân hàng năm là trên 10
tỷ USD đối với máy móc thiết bị) và phát huy được thế mạnh cạnh tranh của nguồn nhân lực của các nước đang phát triển
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phần đấu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nội dung là xây dựng nền kinh tế mà sản phẩm của nó chủ yếu được sản xuất bằng máy móc, thiết bị hiện đại do vậy ngành công nghiệp cơ khí càng có vai trò quan trọng, hơn nữa Việt Nam là đất nước xuất phát điểm thuần nông, có số dân lớn do vậy chúng ta không thể tiến hành
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng máy móc, thiết bị của nước ngoài tức là không thể bằng bàn tay của người khác, chính vì vậy phát triển công nghiệp cơ khí càng trở nên có ý nghĩa và cấp thiết hơn bao giờ hết
Ngành công nghiệp cơ khí nước ta được hình thành và phát triển từ rất sớm, nhận thức được tầm quan trọng của ngành Đảng và Nhà nước ta đã luôn
Trang 2đặt ở vị trí quan trọng và từng bước ưu tiên phát triển Ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam đã có thời kỳ thuộc loại mạnh của khu vực và đáp ứng đến hơn 50% nhu cầu của nền kinh tế Hiện nay, cùng với quá trình mở cửa nền kinh
tế và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một làn sóng đầu tư ồ ạt chảy vào Việt Nam, các công ty sản xuất các sản phẩm cơ khí (cơ khí thiết bị, thiết bị đóng tàu, lắp ráp ô tô…) của Việt Nam đã bắt đầu tìm được những đối tác chiến lược để hình thành nên các liên doanh sản xuất và lắp ráp thiết bị cơ khí Tuy nhiên, do xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực yếu nên sản phẩm cơ khí của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam nói chung đến nay vẫn còn nhỏ bé - giá trị kim ngạch thấp, manh mún, thiếu vốn, thiều nguồn cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phần lớn lạc hậu và rất nhiều bất cập khác Cho nên chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã đơn điệu, giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cao, hạn chế về thị trường xuất khẩu và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn so với ngành công nghiệp cơ khí thế giới
Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các quốc gia, trên các lĩnh vực kinh tế Việt Nam với tư cách là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) cũng sẽ phải tìm cách phát triển ngành Công nghiệp cơ khí để tạo động lực cạnh tranh trên thị trường Quốc tế cho chính ngành công nghiệp cơ khí nói riêng và các ngành công nghiệp khác nói chung, đồng thời tạo thêm nhiều công việc cho người lao động đang trong quá trình chuyển cần giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp Liệu Việt Nam có thể vượt qua những rào cản phức tạp trên hay nhiều nghiên cứu về ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam nhưng hầu hết các nghiên cứu đó chỉ tập trung vào việc khảo sát một doanh nghiệp, một vùng miền cụ thể tại Việt Nam mà chưa đặt địa vị Việt Nam trên trường Quốc tế đồng thời chưa có thống kê, tổng kết cụ thể theo từng nhóm ngành Điều này khiến cho Bức tranh về ngành công nghiệp
Trang 3cơ khí Việt Nam trong thời kỳ hội nhập vẫn chưa được hoàn thiện Nhân thức
được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam trong tiến trình hội nshập kinh
tế quốc tế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Vì vậy, theo những thông tin có được thì đề tài “Phát triển ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế” là đề tài duy
nhất đề cập một cách toàn diện, sâu sắc hiện trạng cũng như xu hướng phát triển Công nghiệp cơ khí trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế
Trang 4 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng phát triển cho ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu lí luận và thực tiễn phát triển ngành công nghiệp
cơ khí Việt Nam
b Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Nghiên cứu thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp
cơ khí Việt Nam trong những năm gần đây cụ thể từ năm 1998- 2008
Không gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam và một số bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản trên cơ sở phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lênin, các phương pháp toán thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp biểu đồ, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát và một số phương pháp kinh tế khác
6 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt,Danh mục bảng, Danh mục hình Kết cấu của khóa luận chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến sự phát triển ngành công nghiệp cơ khí
Chương 2: Thực trạng phát triển ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành Công nghiệp
cơ khí Việt Nam đến năm 2020
Trang 5CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ 1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp cơ khí thế giới
1.1.1 Vài nét sơ lược về qúa trình phát triển công nghiệp cơ khí Thế giới
Nền công nghiệp cơ khí Thế giới đã có một lịch sự phát triển lâu đời
Người đặt nền móng cho nền Công nghiệp này là James Watt, bởi ông là nhân vật tiêu biểu nhất của nền công nghiệp cơ khí nước Anh, nơi khởi nguồn cho
sự phát triển ngành cơ khí chế tạo của nhân loại cách đây gần 250 năm Với
sự ra đời của Động cơ bằng hơi nước đầu tiên trên thế giới năm 1765 của James Watt, ngành cơ khí non trẻ của nước Anh đã có một diện mạo mới thay thế cho nền công nghiệp cơ khí vốn đang còn rất thô sơ Dựa vào nguyên lý của James Watt, công nghệ chế tạo máy móc của nước Anh phát triển nở rộ
và trở thành đầu tầu thúc đẩy nhiều quốc gia khác như Pháp, Đức, Italia
cùng phát triển theo Các máy công cụ ra đời giúp cho con người sản xuất được hàng loạt xilanh, pittông, khung máy, ốc vít, bàn tiện, bàn ren Nhờ đó, ngành cơ khí lắp ráp được hàng loạt máy móc riêng lẻ, máy móc thay thế dần lao động chân tay trong đó phải kể đến các mốc lịch sử quan trọng như là:
Năm 1800, tàu biển chạy bằng hơi nước được chế tạo thành công Đây được coi là cuộc cách mạng ngành hàng hải
Năm 1801, ngành công nghiệp cơ khí có thêm một phát minh mới của Jaka là áp dụng phiếu đục lỗ, thông qua các phiếu đục lỗ đã được lập trình mà máy móc phải hoạt động theo các lỗ đã lập trình sẵn đó Phát minh này tuy còn sơ khai, nhưng có ý nghĩa mở đường cho hướng tự động hóa trong ngành
cơ khí kể từ đó
Năm 1805, động cơ hơi nước công suất lớn do kỹ sư Tri-oai chế tạo,
mở ra triển vọng lớn cho ngành giao thông vận tải Mười năm sau, năm 1815, Laenec phát minh ra ống nghe và ngay sau đó ngành cơ khí sản xuất thiết bị
Trang 6cho ngành y tế, bắt đầu phát triển mà khởi đầu là sản xuất hàng loạt ống nghe cho bác sĩ ở khắp châu Âu để chuẩn đoán bệnh
Năm 1820, Niepse phát minh ra máy chụp ảnh, mở đường cho ngành
cơ khí chính xác và quang học phát triển Chẳng bao lâu sau, nó đã đưa ra thị trường với hàng loạt máy chụp ảnh phục vụ cho nhu cầu xã hội
Năm 1929, nhờ có loại động cơ hơi nước công suất lớn, người ta đã chế tạo ra chiếc đầu tầu xe lửa đầu tiên, đánh dấu bước khởi đầu cho cuộc cách mạng trong ngành giao thông đường bộ Cũng phải nói thêm rằng, mới đầu, chiếc xe lửa này được chạy trên đường bộ và phải có một người đàn ông khoẻ mạnh chạy trước đầu tầu để hô hoán, dẹp đường, báo cho khách bộ hành tránh
xa để xe chạy Do sự phiền phức và an toàn như vậy nên chỉ ít lâu sau loại
“đầu tầu xe hỏa chạy bằng động cơ hơi nước đi trên đường bộ” phải đình chỉ hoạt động Sự cấm đoán này của nhà đương cục làm nảy sinh ra ý tưởng kỹ thuật mới: cho tầu hỏa chạy trên đường ray Vậy là chẳng bao lâu sau, chiếc
xe hỏa đầu tiên chạy trên đường ray ra đời, nối hai thành phố của Anh là Daclinton và Stocton lại với nhau, mang đến tràn ngập niềm vui cho dân chúng của hai thành phố này
Năm 1830, chiếc tầu thuỷ chạy bằng hơi nước công suất lớn lần đầu tiên ra đời Ngay sau đó, nó đã lập được kỷ lục: Vượt Đại Tây Dương đi từ châu Âu sang châu Mỹ Ngành cơ khí đóng tầu còn có thêm một sáng tạo đáng nhớ nữa, đó là năm 1810 đã chế tạo thành công chiếc chân vịt đầu tiên
để thay thế bánh lái và con tầu vượt đại dương đầu tiên đã được áp dụng kỹ thuật này
Có thể nói, ngành công nghiệp cơ khí phát triển mạnh đã tạo ra cuộc
“cách mạng hóa” các điều kiện sống và làm việc trong hoạt động kinh tế – xã hội của thế giới thời đó Đối với các nhà khoa học ngày nay thì có một cách nhìn khái quát riêng, họ cho rằng: trên thế giới đã và đang diễn ra 3 cuộc cách mạng khoa học công nghệ mà trong đó cơ khí đóng vai trò then chốt
Trang 7 Cuộc cách mạng thứ nhất: Nổ ra đầu tiên ở nước Anh vào khoảng
giữa thế kỷ XVIII Cuộc cách mạng này đã thay lao động thủ công bằng sử dụng máy móc Nó còn được gọi là bước khởi đầu của thời đại “cơ khí hóa”
Thành tựu nổi bật nhất của nó chính là phát minh ra máy hơi nước làm tăng năng suất lao động
Cuộc cách mạng thứ hai: Từ cuối thế kỷ thứ XIX đến những năm 30
của thế kỷ XX Nó ứng dụng rộng rãi sức điện, phát minh động cơ đốt trong, điện khí hóa
Cuộc cách mạng thứ ba: từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Nó
ứng dụng rộng rãi kỹ thuật điện tử, tự động hóa đặc biệt là công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học, hạt nhân, công nghệ vũ trụ
1.1.2 Những xu hướng chính trong ngành công nghiệp cơ khí Thế giới
Quốc tế hoá quá trình sản xuất sản phẩm cơ khí
Trong những tiến bộ của khoa học kỹ thuật tạo ra quá trình Toàn cầu hoá kinh tế, trước hết phải nói đến nền công nghiệp chế tạo, đặc biệt là ngành
cơ khí điện tử và công nghệ thông tin Do quá trình đổi mới kỹ thuật diễn ra nhanh chóng, nên linh phụ kiện của các sản phẩm như thiết bị ô tô, thiết bị thông tin… có thể được phân bố sản xuất ở nhiều nước, làm cho mỗi nước có thể phát huy ưu thế của mình về mặt kỹ thuật, giá thành lao động và nguồn tài nguyên sẵn có, khiến cho sản phẩm cuối cùng trở thành “ sản phẩm quốc tế ” mang nhãn hiệu nhiều nước, tạo ra ưu thế cạnh tranh về kỹ thuật và giá thành rất rõ ràng Có thể lấy ví dụ công ty sản xuất máy bay Boeing (Hoa Kỳ) chiếm giữ vị trí độc quyền trên toàn cầu, song các lĩnh vực sản xuất phụ kiện của hãng máy bay này cung do hàng chục nước và khu vực sản xuất, nên chính các công ty đa quốc gia tầm vóc lớn này thể hiện bản chất, đặc điểm quá trình Quốc Tế hoá rất rõ ràng
Trang 8Với sự cạnh tranh không ngừng giữa các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển cũng như sự điều phối của chính phủ các nước này, hoạt động của các công ty xuyên quốc gia từ chỗ hầu hết chống lại chuyển thành dung nạp, kết nạp, hoan nghênh và hợp tác Sự chuyển biến này đã góp phần đẩy nhanh tiến trình phân công quốc tế và toàn cầu hóa kỹ thuật
Xu hướng dịch chuyển của thị trường sản xuất sản phẩm cơ khí
Thế kỷ 21 là thời đại mà quan hệ quốc tế đa cực, tiêu dùng đa dạng, kinh tế toàn cầu và tự do thương mại, tiến bộ Khoa học Công nghệ và xã hội thông tin, coi trọng bảo vệ môi trường khiến cho vị trí của ngành cơ khí chế tạo được các nước trên thế giới quan tâm đặc biệt Những yêu cầu đối với sản xuất cơ khí ngày càng cao theo những xu thế:
- Sản phẩm mang tính toàn cầu hóa
- Giảm chu kỳ tuổi thọ sản phẩm
- Nhu cầu sử dụng đa dạng
- Thị trường lớn và có tính cạnh tranh cao
- Tin học hóa và trí tuệ hóa mọi khâu trong sản xuất và lưu thông
- Tăng cường ý thức bảo vệ môi trường Với những yêu cầu nêu trên, các nhà sản xuất cơ khí hàng đầu Thế giới như Mỹ, Đức, Nhật Bản vẫn nâng cao chế tạo sản phẩm cơ khí có hàm lượng Công nghệ cao vào các cơ sở sản xuất tại các thị trường nước mình đồng thời đưa một số bố phận lắp ráp sang các thị trường mới nổi với mục đích tạo tính toàn cầu hóa, giảm chi phí sản xuất, tận dụng nguồn lao động dồi dào giá rẻ đồng thời nâng cao lợi nhuận để quay vòng tiếp tục đầu tư vào hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D) Thị trường mới nổi bao gồm: các nước châu
Mỹ latinh, Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ và các thị trường khác ở Nam Á
Hoạt động Mua lại và Sáp nhập
Trang 9Hiện nay, hoạt động mua lại và sáp nhập trong ngành công nghiệp cơ khí toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ Rất nhiều các nhà sản xuất máy móc lớn hàng đầu thế giới đã kết hợp lại với nhau, cùng hợp tác Hoạt động này được nhìn thấy rõ rệt nhất là qua ngành cơ khí ô tô Ba nhà sản xuất ô tô lớn nhất của Mỹ (GM, Ford, Chrysler) đã sáp nhập với nhau, trong một vài trường hợp đã thiết lập những chiến lược hợp tác kinh doanh với các nhà sản xuất ô tô ở châu Âu và Nhật Bản Sư sáp nhập của Chrysler Daimler-Benz là
sự sáp nhập đầu tiên của một nhà sản xuất ô tô châu Âu với mục đích củng cố
vị trí trên thị trường Mỹ Gần đây nhất, vào đầu năm 2009, hiệp hội các đại lý tiêu thụ xe tại Mỹ (AIADA) thông báo hãng sản xuất xe Trung Quốc- Geely chắc chắn sẽ đề nghị mua lại thương hiệu Volvo của Ford trong nỗ lực muốn
mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên thị trường ô tô quốc tế trong thời khủng hoảng.Nếu thương vụ trên thành công, Geely muốn giữ Volvo như một thương hiệu xe quốc tế thay vì tập trung vào thị trường Trung Quốc
Xu hướng liên kết giữa cơ khí và điện tử tạo thành lĩnh vực cơ khí đầy tiềm năng – Cơ điện tử
Cơ điện tử là khái niệm ra đời tại Nhật Bản xuất phát từ nhu cầu phát triển các sản phẩm cần công nghệ tích hợp liên ngành giữa cơ khí, điện, điện
tử, công nghệ thông tin và điều khiển hệ thống Sự tích hợp này tạo nên một công nghệ mới, trong đó có sự chuyển biến về chất của tư duy công nghiệp
mà trọng tâm là tư duy công nghệ tạo nên đổi mới và xúc tiến các phương pháp giải quyết những vấn đề kỹ thuật tổng hợp Công nghệ này đã tạo ra nhiều sản phẩm mới và đã cung cấp giải pháp tăng hiệu quả và tính năng của thiết bị công nghiệp, dân dụng Từ đó đến nay, cơ điện tử đã phát triển không ngừng, nhất là khi kỹ thuật vi xử lý ra đời đã làm cho cơ điện tử có vai trò quan trọng trong khoa học và công nghệ Sản phẩm cơ điện tử ngày càng tích hợp trong nó nhiều công nghệ cao hơn, mức độ thông minh ngày càng mạnh
Trang 10và kích thước ngày càng được rút gọn Đây là ngành rất quan trọng và không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại
1.1.3 Thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp cơ khí Thế giới
Sự phát triển của thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp cơ khí
đã thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định hính sách để hoạch định các chiến lược kinh doanh Thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp cơ khí điển hình nhất và dễ nhận thấy nhất là thương mại quốc tế trong lĩnh vực sản xuất
và lắp ráp ô tô Vào những năm 1970, 1980, ngành công nghiệp ô tô của Mỹ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất ô tô nước ngoài
Đặc biệt là từ nhà sản xuất Nhật Bản Sự suy giảm của nền công nghiệp ô tô nội địa cộng thêm sự gia tăng về nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản khiến chính phủ
Mỹ đã phải đưa ra các chính sách để bảo hộ nền sản xuất nội địa, trong đó chủ yếu là áp dụng hạn ngạch Trong giai đoạn khủng hoảng dầu, nhiên liệu dùng cho xe ô tô sản xuất tại Nhật có nhu cầu cao ở Mỹ Thêm vào đó, ba tập đoàn
ô tô lớn của Mỹ lại không mấy mặn mà trong việc sản xuất ô tô cỡ nhỏ đã làm cho nhu cầu nhập khẩu xe từ Nhật Bản tăng mạnh Những ước tính vào năm đầu 1980 mỗi năm các nhà sản xuất xe ô tô Nhật thu về 5 tỷ USD từ hạn ngạch nhờ việc bán những loại xe ô tô nằm trong hạn ngạch giá cao Các nhà sản xuất ô tô chính của Nhật Bản như Toyota, Honda, Nissan đã vượt qua những rào cản hạn ngạch để đầu tư vào thị trường Mỹ Ngược lại với các nhà sản xuất Nhật Bản, các công ty ô tô Mỹ chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa Trong giai đoạn áp dụng hạn ngach, khi các nhà sản xuất Nhật giảm giá
xe tại thị trường Mỹ khiến các nhà sản xuất ô tô nội địa không có khả năng cạnh tranh Nhờ vào năng suất cao và hiểu quả, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã giành được quy mô đáng kể mà các nhà sản xuất ô tô nội địa Mỹ không thể đạt được Hiện nay các nhà sản xuất ô tô của Mỹ đang thực hiện tái
cơ cấu ngành, bắt đầu đầu tư tại nước khác nhằm lấy lại thị phần toàn cầu
Trong khi đó, các quốc gia Đức, Nhật Bản, Canada nổi lên như là những nhà xuất khẩu chính vào thị trường Mỹ
Trang 11Có phần khác biệt hơn so với Mỹ và Nhật Bản, nước Đức không dựa vào thị trường hay hạn ngạch mà dựa vào kẽ hổng của tỷ giá hối đoái để phát triển Vào những năm 1997, nền kinh tế Thế giới lâm vào tình trạnh khủng hoảng tài chính, nền kinh tế phát triển yếu, đồng Euro mạnh, phí tổn lao động cao, cạnh tranh mạnh từ các nước có lương thấp Nhưng ngành kỹ nghệ lớn này của Đức, với 900.000 nhân công, đã biết sử dụng những năm tháng khó khăn để tiếp tục phát triển mạnh hơn Không một ngành nào mà sự trang bị trước sự toàn cầu hóa tốt hơn ngành cơ khí chế tạo máy Khoảng 19% xuất khẩu máy móc trên thế giới là từ Đức, chỉ 15% từ USA Đáng ngạc nhiên nhất
là ngành cơ khí nước này không bị ảnh hưởng mạnh bởi đồng Euro có nghĩa
là ngành cơ khí Đức không bị ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái Bởi chính các nhà sản xuất của Đức đã sớm nhận ra tầm quan trọng của hệ thống máy móc
có thể giảm được phí tổn sản xuất mạnh như thế nào Quan trọng hơn cả giá
cả và tỉ giá hối đoái là mối quan hệ phụ thuộc giữa khách hàng và nhà cung cấp Nhiều nhà máy cơ khí Đức cung cấp sản phẩm mà những sản phẩm này
là kết quả của một sự làm việc và phát triển quan hệ khách hàng lâu dài nhiều năm Theo Ralph Wichers- chuyên gia của VDMA- thì khi mà khách hàng và nhà cung cấp đã có liên hệ chặt chẽ thì không thể một sớm một chiều khách hàng có thể chuyển sang nơi khác Do vậy, các nước dùng đô la không có khả năng nào khác hơn là mua tiếp máy móc Đức vì tại nước họ lúc đó không
có một nhà máy cơ khí nào khác.Theo như lời nhận xét của giám đốc hãng Dolmar tại Hamburg – hãng sản xuất máy móc cho lâm nghiệp và vườn tược- thì sự yếu kém của đồng đô la lại có tác dụng tích cực Họ đã tìm cách mua khoảng một phần ba sản phẩm và xuất khẩu khoảng 15% sang các nước dùng đồng đô la Hơn nữa, nhiều hãng kết hợp nhiều mô hình với nhau Bên cạnh tài khoản giờ, còn có hợp đồng lao động có hạn định và hệ thống làm việc uyển chuyển hơn Qua đó, họ có thể đối phó với những thay đổi của sự phát triển nền kinh tế Ngày nay, các hãng cơ khí Đức đưa dây chuyền sản xuất sang các nước có mức lương thấp hay mua sản phẩm tại các nước này Theo thống kê, cứ bốn hãng thì có một hãng đưa nhiều phần sản xuất ra nước ngoài
Trang 12Hơn một nửa các hãng đã lên kế hoạch cho việc này Phần lớn các hãng mua sản phẩm từ các nước Đông Âu, Trung Quốc hay Ấn Độ Những hãng như Thyssen-Krupp Uhde hay SMS Demag đã lên kế hoạch tại Trung Quốc và Ấn
Độ Các nước Trung Đông Âu cũng đang tạo ra được sức thu hút mạnh đối với Đức
1.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển công nghiệp cơ khí
1.2.1 Khái niệm về ngành Công nghiệp cơ khí
Theo từ điển Encarta , Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến"
cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật Một nghĩa rất phổ thông khác
của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa" Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế
chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v
Điều này cho thấy hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng, vì vậy có rất nhiều cách phân loại công nghiệp:
Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng (công nghiệp sử dụng nhiều vốn để sản xuất máy móc phục vụ các ngành nghề sản xuất khác) và công nghiệp nhẹ (công nghiệp sử dụng nhiều lao động để sản xuất hàng phục vụ người tiêu dùng cuối cùng)
Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô
tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng, công nghiệp tàu thủy…
Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương…
Theo hệ thống phân loại hoạt động kinh tế của Anh và Hoa Kỳ không có mục công nghiệp riêng Thay vào đó, cách phân loại dựa vào hoạt
Trang 13động kinh tế Cũng theo cách sắp xếp các ngành kinh tế của hai nước này, công nghiệp là thành phần chủ yếu của khu vực thứ hai của nền kinh tế Theo Colin Grant Clark – nhà kinh tế học người Anh thì khu vực thứ hai của nền kinh tế sử dụng những đầu vào là sản phẩm của khu vực thứ nhất để gia công, chế biến thành những sản phẩm hoàn chỉnh và phù hợp cho người tiêu dùng
và các xí nghiệp sử dụng (để gia công, chế biến) Nòng cốt của khu vực thứ hai là các ngành chế tạo máy và xây dựng
Như vậy, dựa vào cách phân loại ngành Công nghiệp của Encarta và
Wikipedia, Công nghiệp cơ khí thuộc ngành Công nghiệp nặng hay là ngành công nghiệp thuộc khu vực thứ hai của nền kinh tế (theo quan điểm của Anh và Mỹ) Do đó, ngành Công nghiệp này gắn liền với quá trình sản
xuất máy móc, phương pháp công nghệ gia công kim loại, hợp kim để chế tạo các chi tiết hoặc kết cấu máy Quá trình sản xuất chế tạo đó bao gồm nhiều công đoạn khác nhau được tóm tắt như sau:
Hình 1: Sơ đồ quá trình sản xuất cơ khí
(Nguồn: Giáo trình cơ khi Đại Cương)
Trang 14Giải thích một số thuật ngữ trong mô hình trên:
Phôi là một danh từ kỹ thuật có tính chất quy ước chỉ vật phẩm được tạo ra của một quá trình sản xuất này chuyển sang một quá trình sản xuất khác Ví dụ: quá trình đúc, là quá trình rót kim loại lỏng vào khuôn, sau khi kim loại đông đặc trong khuôn ta nhận được một vật đúc kim loại có hình dáng kích thước theo yêu cầu Những vật đúc này có thể là: - Sản phẩm của quá trình đúc - Chi tiết đúc: nếu như không cần gia công cắt gọt nữa - Phôi đúc: nếu vật đúc phải qua gia công cắt gọt như tiện, phay bào… Như vậy trong trường hợp này sản phẩm của đúc được gọi là phôi đúc của quá trình gia công cơ khí Hiện nay các phương pháp chế tạo phôi trong sản xuất cơ khí bao gồm đúc; gia công áp lực (rèn, dập) và hàn, cắt kim loại bằng khí, hồ quang điện, tia lửa điện, lade
Chi tiết máy là đơn vị nhỏ nhất và hoàn chỉnh của máy, đặc trưng của
nó là không thể tách ra được và đạt mọi yêu cầu kỹ thuật Chi tiết máy được coi là sản phẩm khi nó là vật phẩm được tạo ra cuối cùng của một cơ sở sản xuất.Hai hay nhiều chi tiết máy được liên kết với nhau theo những nguyên lý máy nhất định (liên kết động hay liên kết cố định) được gọi là bộ phận máy
Bộ phận máy có nhiệm vụ nhất định trong máy được gọi là cơ cấu máy.Ví dụ:
đĩa, xích, líp của xe đạp tạo thành cơ cấu chuyển động xích trong xe đạp
1.2.2 Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển Công nghiệp cơ khí
Một quốc gia có nền Công nghiệp cơ khí phát triển khi các sản phẩm của quốc gia đó có sức cạnh tranh hay là có lợi thế cạnh tranh mạnh trên thị trường trong nước và quốc tế, nó biểu hiện ở việc sản phẩm của nước đó được người dân đón nhận, được nước ngoài quan tâm đặt hàng nhập khẩu Phạm trù
“sức cạnh tranh” là phạm trù thuộc tính của kinh tế thị trường Theo các nhà kinh tế, môi trường cạnh tranh có tác dụng tạo sức mạnh hướng hành vi của các chủ thể kinh tế tới năng suất, chất lượng và hiệu quả từ mục tiêu thắng
Trang 15trong cạnh tranh sẽ thu lợi nhuận Trong môi trường cạnh tranh, sức mạnh của các tổ chức kinh tế không chỉ được đo bằng chính năng lực nội tại của từng chủ thể, mà điều quan trọng hơn, là trong sự so sánh tương quan giữa các chủ thể với nhau Do đó, đạt được vị thế cạnh tranh mạnh trên thị trường là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp Điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất cơ khí bởi sản phẩm cơ khí sản xuất ra để tiếp đáp ứng nhu cầu thị trường dù là gián tiếp hay trực tiếp Hơn nữa, khi đánh giá nền Công nghiệp cơ khí có đủ sức cạnh tranh tốt hay không người ta thường dựa vào các tiêu chí về khoa học công nghệ, chất lượng sản phẩm, nguồn nhân lực và vốn Đây cũng là bốn tiêu chí cơ bản nhất và có tác động qua lại với nhau góp phần thúc đẩy thị trường sản xuất và tiêu thụ cơ khí trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài Thông qua đó tạo nên nền Công nghiệp cơ khí phát triển mạnh
1.2.2.1 Tiêu chí về khoa học công nghệ
Trong suốt lịch sử loài người, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và vốn, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và vốn
có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn
Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ đã tạo nên những bước đột phá trong phát triển các sản phẩm cơ khí chế tạo, cơ khí chinh xác và tạo điều kiện để sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu;
công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ
"phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng Hiện
Trang 16nay, các quốc gia thường đánh giá trình độ phát triển Khoa học Công nghê qua bốn thành tố T(techware)- kỹ thuật, H(humanware)- con người, I(infoware)- thông tin và O (organware)- tổ chức
Thành tố kỹ thuật – Technoware (T)
Thành tố kỹ thuật là thành tố dùng để đánh giá các công cụ và các
phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn Technoware bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu (Trang thiết bị) và hệ thống xử lý thông tin (Công nghệ)
- Hệ thống biến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết kế của máy móc thiết bị
- Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xây dựng một cách cục bộ hoặc hoàn toàn trong thành phần Thiết bị Trong một vài trường hợp, nó có thể không có trong thành phần này Hệ thống gồm
ba giai đoạn: nhận biết – phân tích – xử lý
Thành tố con người- Humanware (H)
Thành tố con người là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ Tầm quan trọng của kỹ năng dựa trên ba điều
cơ bản:
- Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất và
là nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hàng hoá
- Con người có trí thông minh (không như máy móc) Do đó, họ có khả năng suy nghĩ, phân tích, sáng tạo và phát triển thông tin cần thiết để tạo ra sự sung túc, giàu có
- Năng suất lao động của con người có thể tăng hoặc giảm do môi trường làm việc
Trang 17 Thành tố thông tin – infoware (I)
Thành tố thông tin biểu thị việc tích luỹ kiến thức bởi con người Dù có tổ chức tốt, “Con người” cũng không thể sử dụng “Máy móc” hiệu quả nếu không có
cơ sở “Thông tin, tài liệu” Inforware được chia làm ba loại:
- Thông tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì
Thành tố Tổ chức Orgaware (O)
Orgaware đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn, và bố trí để vận
hành hiệu quả việc sử dụng thành tố kỹ thuật và thành tố con người Nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc
1.2.2.2 Tiêu chí về vốn
Vốn là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ vốn mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ vốn trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Vốn không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân đầu tư cho sản xuất nó còn là vốn cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển Để có được vốn, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, thực tế cho thấy những quốc gia có
tỷ lệ đầu tư vốn cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững trong phát triển Công nghiệp cơ khí- một ngành công nghiệp đòi hòi thời gian đầu
tư lâu dài và kiên trì
Trang 181.2.2.3 Tiêu chí về nguồn nhân lực
Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của ngành công nghiệp cơ khí
Hầu hết các yếu tố khác như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự
Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ
có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa,
có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết vốn bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi
và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn vốn của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Với những
kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếu không
có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."
1.2.2.4 Tiêu chí về chất lượng sản phẩm cơ khí
Để đánh giá chất lượng của sản phẩm cơ khí, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng Tiêu chuẩn chất lượng quốc tế “Tiêu chuẩn là một tài liệu kỹ thuật do một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành nhằm đưa ra những nguyên tắc và hướng dẫn mang tính tự nguyện áp dụng về những đặc tính của sản phẩm, quá trình hoặc phương pháp” - Ts Steven.R.Wilson Tiêu chuẩn sản phẩm với yêu cầu chất lượng cao đã thúc đẩy sự đổi mới công nghệ sản xuất Tiêu chuẩn hoá là cơ sở để phát triển, mở rộng mạng lưới.Các hệ thống thông tin phải có khả năng mở rộng về dung lượng, năng lực cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ và khả năng kết nối mạng.Trên cơ sở tiêu chuẩn
để lựa chọn các hệ thống thông tin đường trục tốc độ cao làm tiền đề để xây
Trang 19dựng xa lộ thông tin đáp ứng cho việc mở rộng nhanh mạng lưới và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ So với các ngành công nghiệp khác, vai trò của TCH đối với ngành cơ khí chế tạo máy đã thể hiện khác rõ nét hơn Ví dụ:
bulông, đai ốc có cùng kích thước lại không lắp lẫn được với nhau, xích xe đạp được chế tạo tại Trung Quốc hoặc Nhật Bản lại không lắp được với các
xe đạp chế tạo tại Việt Nam hoặc đầu máy xe lửa chế tạo tại Ấn Độ lại không chạy được trên đường sắt của Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào khác Hệ thống TCH trước đây chỉ áp dụng phần nhiều cho các chi tiết, cụm chi tiết nhỏ lẻ và một số thiết bị máy móc công nghiệp cơ khí truyền thống (VD: các máy gia công kim loại bằng cắt gọt, máy động lực, các phương tiện cơ giới giao thông đường bộ, các máy móc thiết bị điện ) Hiện nay, do tác dụng và lợi ích của nó đã mang hiệu quả và ý nghĩa kinh tế không nhỏ, hệ thống TCH trong ngành Cơ khí Chế tạo không còn bó hẹp như trên nữa Một ví dụ đơn giản tiêu chuẩn hoá trong khâu tư vấn, tính toán và thiết kế các hệ thống thiết
bị cơ khí, có thể đơn giản và giảm bớt từ 10 đến 15% khối lượng công việc do
sử dụng các chi tiết và cụm chi tiết được tiêu chuẩn, được thống nhất Trong công nghiệp chế tạo cơ khí, quá trình lắp ráp và đặc biệt việc thay thế sửa chữa các phụ tùng cơ khí đòi hỏi sử dụng tiêu chuẩn, không thể thiếu tiêu chuẩn và thực hiện công tác tiêu chuẩn hoá khá cao, hiệu quả mang lại có ý nghĩa kinh tế tốt.Tiêu chuẩn áp dụng phổ biến nhất hiện nay là ISO 9000 Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 bao gồm nhiều tiêu chuẩn Trong đó tiêu chuẩn chính ISO 9001: Hệ thống quản lý chất lượng, các yêu cầu, nêu ra các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng khi sản xuất sản phẩm cơ khí của mình
1.3 Sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp cơ khí
Thứ nhất, Công nghiệp cơ khí là ngành công nghiệp then chốt, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế Như chúng ta đã biết, vào những năm 80 của
Trang 20thế kỷ 20 trên toàn cầu đã xuất hiện nhiều ngành Công nghiệp mới đặc biệt là
sự đột phá của Công nghệ sinh học, tin học, vật liệu Vì vậy, ngành công nghiệp cơ khí đã bị xem nhẹ Năm 1993, sau khi tổng kết đánh giá Hội kỹ sư
cơ khí Mỹ đã ra lời kêu gọi toàn xã hội rằng: “Ngành cơ khí chế tạo hiện nay phải được phát triển lại” và dùng con số đơn giản nhất để khuyên người dân
Mỹ rằng hơn nửa nguồn giá trị tổng sản phẩm quốc dân và hoạt động kinh doanh năm 1992 của nước Mỹ là do ngành cơ khí đem lại Điều này đã làm cho hầu hết người dân Mỹ kinh ngạc vì qua một thời gian dài đã không hiểu được sự thật đơn giản này Có thể nói rằng, nhân dân Mỹ đạt được sự thịnh vượng như hiện nay công lao chủ yếu do ngành cơ khí đem lại Theo thông báo mới nhất của Trung Quốc, một quốc gia đang phát triển, liên tục với tỷ lệ tăng trưởng cao những năm qua thì ngành cơ khí chế tạo đã chiếm tới 1/3 tổng sản phẩm xã hội,đóng góp tới 90% kim ngạch xuất khẩu
Thứ hai là Công nghiệp cơ khí tạo động lực thúc đẩy các ngành Công nghiệp khác phát triển Công nghiệp cơ khí cung cấp máy móc thiết bị cho
mọi lĩnh vực từ sản xuất đến tiêu dùng Bởi bất cứ lĩnh vực nào cũng đều cần phải có sự hỗ trợ từ các sản phẩm cơ khí để nâng cao năng lực sản xuất.Có thể
kể đến là Sản phẩm cơ khí phục vụ ngành xây dựng như cấu kiện xây dựng, ống thép, ống gang cầu, cửa sắt, xà gồ, máy trộn vữa…; Sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp như máy nổ, máy cày bừa, máy chế biến thức
ăn, thiết bị bơm nước, nuôi tôm; Sản phẩm cơ khí tiêu dùng như quạt điện, tivi, điều hòa, tủ lạnh, máy giặt, máy sưởi, máy in, linh kiện điện tử; Sản phẩm cơ khí ô tô, xe gắn máy, tàu thủy Như vậy, ngành Công nghiệp cơ khí phát triển sẽ trực tiếp kéo theo sự phát triển của tất cả các ngành công nghiệp khác như Công nghiệp ô tô, công nghiệp tàu thủy, công nghiệp thực phẩm…
Thứ ba, Công nghiệp cơ khí tạo ra việc làm người dân lao động Theo
như đánh giá của Trung Quốc, một quốc gia có hơn 1 tỷ dân, thì lao động
Trang 21động trong ngành cơ khí cũng chiếm hơn 10% tổng số người lao động toàn quốc Điều này cho thấy, nếu công nghiệp cơ khí không phát triển sẽ dẫn tới hàng loạt người lao động trong ngành cơ khí không có việc làm Hơn nữa, do đặc thù là tạo động lực thúc đẩy cho các ngành công nghiệp khác, khi ngành
cơ khí kém phát triển, các ngành công nghiệp khác cũng sẽ trì trệ theo, nhu cầu người lao động ngày càng giảm mạnh Do đó, phát triển mạnh Công nghiệp cơ khí sẽ giải quyết được phần lớn vấn đề việc làm cho người dân lao động
Thứ tư, phát triển Công nghiệp cơ khí tạo nguồn thu ngoại tệ Một
quốc gia với nền cơ khí mạnh sẽ có khả năng tự chủ sản xuất không những không phải phụ thuộc quá nhiều vào thị trường nhập khẩu mà còn xuất khẩu mạnh sang các nước khác trên thế giới Xuất khẩu mạnh dẫn tới lượng ngoại
tệ đổ vào trong nước càng nhiều làm khả năng dự trữ ngoại tệ càng cao giúp chính phủ có thể điều tiết được tỉ giá hối đoái trên thị trường và ổn định nền kinh tế Ví dụ, chính phủ Nhật Bản thấy rằng hối suất đồng yên không nên để cho đắt quá, cũng không nên rẻ quá đối với đồng Đô la, cứ để trong khoảng từ
100 yên tới 120 yên trên một Đôla Mỹ là vừa Nếu khi thấy Đôla Mỹ xuống thấp (99 yên đổi được một đô la Mỹ), Ngân Hàng Trung Ương Nhật Bản sẽ
bỏ tiền Nhật ra mua Đô La Mỹ, nâng giá Đô la Mỹ lên Ngược lại, nếu thấy giá đồng yên xuống quá, 125 yên mua được một đồng Đô la Mỹ, Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản sẽ bỏ tiền Đô la Mỹ ở trong kho dự trữ ngoại tệ ra để nâng giá đồng Yên lên
Với tầm quan trọng đặc biệt như đã nêu trên, phát triển Công nghiệp cơ khí có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Trang 221.4 Cơ hội và thách thức đối với nền Công nghiệp cơ khí Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế
1.4.1 Tiến trình hội nhập của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của ngành Công nghiệp
cơ khí Việt Nam được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ chức, diễn đàn kinh tế Thế giới và khu vực cũng như những hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và cam kết thực hiện, Tiến trình hội nhập của Việt Nam được trình bày ở những điểm sau:
1.4.1.1 Cam kết trong hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực ngày 10/12/2001 Theo đó, Việt Nam đồng ý tiến hành những bước sau nhằm
mở cửa thị trường
- Dành quy chế đối xử tối huệ quốc cho các hàng hoá của Mỹ;
- Ðối xử với các hàng hoá nhập khẩu giống như hàng hoá sản xuất trong nước (còn được gọi là “đối xử quốc gia”);
- Loại bỏ hạn ngạch đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn
từ 3 đến 7 năm;
- Minh bạch hơn quy trình mua sắm của chính phủ;
- Lần đầu tiên cho phép tất cả các doanh nghiệp Việt Nam được phép kinh doanh xuất nhập khẩu mọi hàng hoá;
- Lần đầu tiên cho phép các công ty Mỹ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ được phép xuất nhập khẩu hầu hết các sản phẩm (với
lộ trình từ 3-6 năm)
- Ðảm bảo doanh nghiệp nhà nước sẽ tuân thủ các quy định của WTO
Theo phụ lục B1 của Hiệp định này, lịch trình loại bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu hàng cơ khí là từ 3 cho đến 7 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu
Trang 23lực Trong đó, phụ tùng xe đạp là 3 năm, ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe
là 5 năm, tàu vận chuyển người hoặc hàng trọng tải 5000DWT là 5 năm, động
cơ có công suất trên 30CV là 6-7 năm
Tại phụ lục B3 về hàng hóa cấm nhập khẩu, Việt Nam cấm nhập một
số mặt hàng sau: ô tô có tay lái nghịch (kể cả dạng tháo rời và dạng đã chuyển đổi tay lái trước khi nhập vào Việt Nam), phụ tùng đã qua sử dụng kể cả các loại ô tô, xe hai bánh,ba bánh gắn máy kể cả các loại khung gầm của ô tô đã qua sử dụng, động cơ đốt trong đã qua sử dụng có công suất dưới 30CV,xe hai bánh ba bánh gắn máy có dung tích từ 175cc trở lên Tuy nhiên, tùy theo từng trường hợp các loại động cơ này vẫn có thể nhập khẩu nếu có sự cho phép của các cơ quan chức năng
Tại phụ lục D1 về lịch trình bãi bỏ hạn chế về quyền kinh doanh nhập khẩu và phân phối sản phẩm công nghiệp quy định với từng mặt hàng, thời gian để bãi bỏ hạn chế về quyền kinh doanh nhập khẩu trong khoảng từ 0-5 năm và thời gian để bãi bỏ hạn chế về quyền phân phối các sản phẩm công nghiệp cơ khí là 5-7 năm
Như vậy, thời gian bảo hộ ngành công nghiệp cơ khí trong nước theo BTA chỉ được đến năm 2006 (với việc nhập khẩu), 2007 (đối với việc kinh doanh nhập khẩu), và năm 2008 (đối với hoạt động phân phối)
1.4.1.2 Cam kết trong khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Hiện nay, khu vực hiệp định mậu dịch tự do ASEAN gần như đã được thành lập Các quốc gia thành viên ASEAN đã tạo ra được bước tiến đáng kể trong việc giảm thuế quan trong nội bộ khối thông qua chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT Hơn 9% các sản phẩm trong danh mục giảm thuế (IL) của CEPT của các nước ASEAN-6 bao gồm: Bruney, Indonxia, Malayxia, Philipin, Singapore và Thái Lan đã giảm xuống còn 0-5% Các thành viên mới của ASEAN như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam là những nước tham gia muộn hơn, nên thời hạn để giảm thuế các mặt
Trang 24hàng xuống còn 5% đối với Việt Nam là năm 2006, Myanmar và Lào năm
2008, Campuchia vào năm 2010 Mức thuế quan 0% cho các nước ASEAN-6 được thực hiện trước năm 2010, còn đối với Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia là trước năm 2015, một số mặt hàng nhạy cảm có thể gia hạn trước năm 2018
1.4.1.3 Cam kết trong khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc
Vào ngày 12.6.2006, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định 35/2006/QĐ-BTC về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN- Trung Quốc Theo đó 9.133 mặt hàng sẽ tham gia thực hiện cắt giảm thuế kể từ ngày 1/1/2006 với mức thuế suất ACFTA theo đúng
lộ trình giảm thuế của năm 2006 đã được quy định tại Hiệp định Thương mại hàng hóa và Biên bản ghi nhớ
1.4.1.4 Cam kết với Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO
Trở thành thành viên của WTO vào ngày 7/11/2006, Việt Nam phải tuân thủ theo nguyên tắc không phân biệt đối xử với:
Hàng hóa, dịch vụ, đầu tư
Quyền nhập khẩu hàng hóa, quyền kinh doanh
Quyền về thuế tiêu thụ đặc biệt
Xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu ô tô cũ đã qua sử dụng hợp pháp
Xóa bỏ cơ chế hai giá từ 31/12/2005
Về việc cắt giảm thuế nhập khẩu sản phẩm cơ khí, theo chương 84 và
85 của Biểu thuế cam kết WTO về các thiết bị cơ khí , máy phát điện, thiết bị điện, các bộ phận của chúng Việt Nam phải thực hiện cam kết cắt giảm thuế suất thuế suất đối với các loại động cơ đốt trong là 15-45 % tùy theo từng loại công suất và dung tích xi lanh Bộ phận máy nén và quạt không khí giảm
Trang 25Thuế suất đối với máy điều hòa 15-30%, máy nông nghiệp 5-7%, các loại máy giặt là 7-15%, máy phát điện 20-25% Một số loại máy phát điện đã đánh thuế nhập khẩu 0-10% vẫn được giữ nguyên mức thuế
Theo chương 87 của Biểu thuế cam kết WTO đối với các loại xe ô tô,
xe máy, xe đạp và thiết bị phụ tùng của chúng Một số loại xe nhập khẩu như
xe ô tô nguyên chiếc chở người có khoang chở hành lý, xe ô tô 4 bánh, xe scooter, xe mô tô địa hình giảm thuế suất từ 100% xuống còn 70% Xe đạp hai bánh và các loại xe đạp khác giảm từ 80% xuống còn 45% Các loại phụ tùng cho xe ô tô, xe đạp giảm xuồng còn 25-45% Riêng đối với xe cho người tàn tật không bị đánh thuế
Theo chương 89 của Biểu thuế cam kết WTO đối với các loại tàu thủy, thuyền Các loại tàu thuyền để vận chuyển hàng hóa và người giảm thuế từ 15% xuống còn 10% Các loại tàu thuyền đã bị đánh thuế từ 0-10% vẫn giữ nguyên mức thuế này
Cũng theo Biểu thuế cam kết WTO trên, Việt Nam cam kết đến năm
2014 sẽ cắt giảm hết các mặt hàng được cam kết Trong đó, có một số mặt hàng
có thời gian thực hiện cắt giảm đến cuối năm 2009 như máy quạt máy nén công suất thấp, đến cuối năm 2010 như các bộ phận lắp ráp xe đạp
Về trợ cấp hàng công nghiệp cơ khí, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm
1.4.2 Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam trong tiến trình hội nhập
1.4.2.1 Cơ hội đối với ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
Hội nhập kinh tế Quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Công nghiệp cơ khí nói
Trang 26riêng Đó là tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiếp cận nhanh chóng các nguồn vốn đầu tư, công nghệ hiện đại và thị trường toàn cầu nhằm thúc đẩy phát triển Trong đó, ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam cũng có những cơ hội phát triển rất lớn đó là:
Thứ nhất là có điều kiện để tiếp cận các thành tựu khoa học và công
nghệ hiện đại, tiếp thu và nâng cao trình độ công nghệ quốc gia, có thời cơ để
“Đi tắt đón đầu” trong một số lĩnh vực
Thứ hai là có điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo,
nâng cao năng lực, trình độ của lực lượng nghiên cứu khoa học công nghệ và thiết kế trong nước
Thứ ba là có khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm
cơ khí mới, có khả năng cạnh tranh như: ô tô, xe máy, tàu thuỷ, máy công cụ, phụ tùng máy móc thiết bị
Thứ tư là Hội nhập là cơ hội thúc đẩy cải cách hành chính, đổi mới
doanh nghiệp, đổi mới phương thức quản lý giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Hiện nay, Việt Nam- một nước đang phát triển, nếu hội tụ đủ những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, biết tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, nắm được thời cơ và chọn đúng đường đi thích hợp thì chỉ trong một thời gian ngắn có thể biến đổi từ lạc hậu thành tiên tiến Đặc biệt, với lợi thế về nguồn nhân lực và lợi thế của nước đi sau trong một khu vực mà khoa học công nghệ, vốn đầu tư cùng với tri thức kinh doanh đang chuyển dịch mạnh mẽ, ngành cơ khí Việt Nam trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được cùng với việc nhận thức rõ những thách thức và tận dụng tối đa mọi cơ hội phát triển trong quá trình hội nhập sẽ phấn đấu để đạt được những thành tích to lớn hơn nữa, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 271.4.2.2 Thách thức đối với ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
Nằm trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới- khu vực Đông Nam Á và đứng trước xu thế toàn cầu hóa, có thể nói ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam đang đối mặt với những thách thức và những thử thách hết sức khắc nghiệt, cụ thể là:
Thứ nhất là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các quốc gia ASEAN như
Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malysia Điều đáng nói là nền Công nghiệp cơ khí của Việt Nam dù đã có thời gian phát triển lâu dài, gần như song song với các quốc gia nói trên Nhưng hướng đi sai lầm trong nhiều năm khiến cho sự nghiệp Công nghiệp hóa đất nước chậm hơn so với Singapore, Đài Loan, Trung Quốc Điều đáng nói hơn nữa là trong hơn 10 năm qua, lượng vốn đổ vào đầu tư cho ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam tăng không đáng kể so với Trung Quốc – một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài Ví dụ điển hình và dễ nhận thấy nhất
đó là sự phát triển của việc sản xuất và lắp ráp ô tô Trung Quốc hiện là trung tâm sản xuất ô tô lớn thứ 3 Thế giới với việc xuất khẩu hơn 8 tỷ USD ô tô và phụ tùng, linh kiện khiến cho việc cạnh tranh của Việt Nam hết sức khó khăn
Bên cạnh đó, để thực hiện các cam kết hội nhập, Chính phủ Việt Nam phải đưa ra chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, mở cửa thị trường ô tô Điều này đồng nghĩa với việc ô tô nguyên chiếc cũng như linh kiện, phụ tùng ô tô của nước này sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế suất thấp, ưu đãi, tác động lớn đến nền Công nghiệp mới chuyển đổi của Việt Nam
Thứ hai là Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại Thế giới WTO đồng nghĩa với việc ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường Quốc tế
Các thành viên WTO gây áp lực buộc Việt Nam phải chấp nhận giảm thuế suất cho các linh kiện nhập khẩu Mặt khác, với tư cách là thành viên của
Trang 28WTO, Việt Nam phải tuân thủ theo các quy tắc thương mại quốc tế, xóa bỏ các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa
Thứ ba đó chính là những thách thức từ nội địa, Doanh nghiệp Việt
Nam thiếu vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ hoặc để đầu tư mới nhằm tạo ra sản phẩm mới, chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, trước hết là lực lượng thiết kế, chế tạo Thiếu các tổng công trình sư hoặc kỹ sư trưởng cho các dự án thiết bị toàn bộ.Thiếu lực lượng lao động đã qua đào tạo Trong khi đó, các doanh nghiệp này vừa phải cạnh tranh trong khi khả năng cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trong nước còn yếu vừa phải tự sắp xếp đổi mới doanh nghiệp, giải quyết lao động dôi dư
1.5 Kinh nghiệm quốc tế phát triển công nghiệp cơ khí
1.5.1 Kinh nghiệm của Singapore
Khi mới tách khỏi Malaysia, tuyên bố thành lập quốc gia độc lập (1965), Singapore gặp không ít khó khăn, tài nguyên thậm chí cả nước ngọt rất khan hiếm; sản xuất nông nghiệp hầu như không có; các cơ sở sản xuất công nghiệp có không đánh kể; tình trạng tăng dân số cơ học với tốc độ nhanh không những làm cho một vấn đề xã hội trở nên phức tạp mà còn làm cho nạn thất nghiệp tăng lên với tỷ lệ cao Từ điểm xuất phát không mấy thuận lợi như vậy, nhưng chỉ sau ¼ thế kỷ, nền kinh tế Singapore đã nhanh chóng khôi phục
và phát triển đưa Singapore trở thành một trong những “Con Rồng” ở khu vực Châu Á Sự tăng trưởng vượt bậc của Singapore trong thời kỳ này không thể không kể đến những đóng góp to lớn của ngành Công nghiệp cơ khí trong quá trình Công nghiệp hóa đất nước Chiến dịch chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Singapore trong quá trình Công nghiệp hóa có thể chia ra làm 2 thời kỳ lớn:
Thời kỳ 1966- 1980: Đây là thời kỳ có tốc độ tăng trưởng cao và với đặc trưng phát triển mạnh của ngành gia công lắp ráp, sử dụng nhiều lao
Trang 29động.Trong đó phát triển nhất là các ngành: đồ điện, điện tử, bán dẫn, lọc dầu
và sản xuất dàn khoan, sửa chữa, đóng tàu, lắp ráp ô tô và các thiết bị khác cho ngành giao thông vận tải, sản xuất các mặt hàng cho ngành xây dựng
Thời kỳ 1981 đến nay: Đây là thời kỳ tập trung phát triển các ngành
có vai trò quyết định sự thành công của chương trình Công nghiệp hóa Đó là các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, sử dụng lao động có đào tạo chuyên sâu như sau: cơ khí chế tạo máy, luyện kim, chế tạo thiết bị chính xác cho hàng không- vũ trụ, máy điện tử, thiết bị tự động hóa
Sự phát triển vượt bậc trong ngành Công nghiệp cơ khí Singapore qua
2 giai đoạn này phần lớn nhờ vào những chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa cơ bản như sau:
Thứ nhất là vai trò điều tiết của Chính phủ Khi tách khỏi Liên bang
Malaysia, cả nước Singapore chỉ có tất cả 8 xí nghiệp công nghiệp thuộc quy
mô lớn và trung bình Mặc dù vậy, một mặt với thị trường chưa đến 2 triệu dân của Singapore thì dù chỉ ngần ấy cơ sở thôi cũng đã trở nên chật hẹp cho
sự phát triển Mặt khác, xuất phát từ tình hình của nền kinh tế Thế giới cũng như điều kiện trong nước lúc bấy giờ, mà chính phủ Singapore đã quyết định phải có một bước chuyển hướng cơ bản từ nền sản xuất hàng hóa thay thế
nhập khẩu, sang chiến lược Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
Chính phủ Singapore đề ra mục tiêu cho quá trình công nghiệp là phát triển Công nghiệp cơ khí, tăng việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tự do hóa thương mại, tạo môi trường chính trị- xã hội ổn định
Có thể nói, việc lựa chọn và thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu là chìa khóa mở ra quá trình phát triển kinh tế Singapore Đây là điều kiện để nền kinh tế Singapore ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với nền kinh tế Thế giới Nền kinh tế Thế giới vừa là thị trường rộng lớn tiêu thụ các sản phẩm của Singapore, vừa là nguồn cung cấp các yếu tố cần thiết nhất là vốn và kỹ thuật cho sản xuất của Singapore phát triển Thực hiện chiến lược này, Chính phủ Singapore đồng thời tạo ra những chiếc cầu nối liền sản xuất của mình với các trung tâm công nghiệp lớn, tạo ra những
Trang 30khả năng cho đầu tư và xây dựng các dự án có quy mô lớn, làm tiền đề cho sự phát triển công nghiệp
Theo cách so sánh của Ngân hàng thế giới WB, Singapore được xếp vào nhóm các nước có nền kinh tế hướng ngoại mạnh mẽ Cũng theo đánh giá của WB thì nhóm các nước này luôn dẫn đầu về tốc độ tăng GDP, và có tỷ lệ lạm phát bao giờ cũng ở mức thấp nhất so với các nước khác
Việc chuyển đổi từ chiến lược sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu sang chiến lược Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã làm xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới mà trong đó Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc hình thành và tài trợ cho các xí nghiệp thuộc các ngành nghề mới Khi cần thiết, Chính phủ quyết định cho ngừng hoạt động một số ngành nghề tỏ ra không phù hợp với yêu cầu phát triển
Trong chính sách điều tiết phát triển ngành nghề của giai đoạn đầu tiến hành Công nghiệp hóa, Chính phủ Singapore chủ trương ưu tiên phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu Chẳng hạn, tất các các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đều được ưu tiên vay vốn và được giảm thuế Đối với những
xí nghiệp sản xuất thuộc lĩnh vực quan trọng, cần thiết phục vụ xuất khẩu được Chính phủ giành cho một số ưu đãi riêng, gọi là chế độ đối với các xí
nghiệp tiên phong
Thứ hai là Chính sách tài chính tiền tệ Chính phủ Singapore đã rất
thành công trong việc đề ra các chính sách để hình thành và thúc đẩy hoạt động khá hiệu quả một thị trường tài chính tiền tệ
Về đối nội, Chính phủ Singapore chủ trương mở rộng các hoạt động tài chính, ngân hàng làm đòn bẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế cơ bản mà họ đang theo đuổi là:
- Cho phép các ngân hàng có quyền tự quyết định mức lãi suất của ngân hàng mình
- Tạo điều kiện thuận lợi cho phép các xí nghiệp Công nghiệp cơ khí phát hành chứng khoán
Trang 31- Thành lập hệ thống bảo hiểm việc phát hành chứng khoán của xí nghiệp công nghiệp, bảo hiểm tín dụng cho các xí nghiệp vay trực tiếp đề đầu
tư vào các bất động sản công nghiệp, cũng như bảo hiểm cho cơ sở sản xuất phục vụ xuất khẩu
Nhờ thực hiện thành công các chính sách tài chính- tiền tệ mà Chính phủ đã tạo ra nguồn cung cấp vốn khá phong phú không những cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa của Singapore mà còn đưa Singapore trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn cho cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Thứ ba là Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng nhất trong thời kỳ đầu tiến hành Công nghiệp hóa của Singapore Khác với nhiều nước khi tiến hành công nghiệp hóa, Chính phủ Singapore đã ban hành chính sách mới, tạo môi trường hấp dẫn, kích thích các nhà vốn nước ngoài trực tiếp bỏ vốn vào đầu tư Ngay
từ đầu, Chính phủ Singapore đã có những chính sách khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, mạnh dạn mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi
để thu hút các công ty đa quốc gia đến đầu tư, hoạt động kinh doanh tại nước mình Họ sử dụng chủ yếu các đòn bẩy kinh tế đề điều chỉnh đầu tư các mục tiêu và cơ cấu kinh tế cần đạt tới của một nền kinh tế Công nghiệp hóa Để đạt được điều đó, Chính phủ Singapore đã dự kiến và đưa vào bảng phân loại các
xí nghiệp, các ngành sản xuất cần gọi vốn đầu tư và đi cùng với nó là các chế
độ ưu đãi cụ thể, có phân biệt
Singapore đã rất thành công không những trong việc thu hút số lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn cả trong việc sử dụng hiệu quả loại hình kinh tế này Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực sự trở thành một trong những phương tiện chính đưa nền kinh tế Singapore phát triển lên trình độ của một nền kinh tế Công nghiệp hóa
Thứ tư là Đào tạo nhân lực và đổi mới công nghệ Đào tạo nhân lực
được coi là phương tiện đầu tư, là phương tiện phát triển công nghiệp quan trọng, Singapore đánh giá cao lao động được đào tạo và có kỹ năng góp phần
Trang 32cực kỳ quan trọng trong những thành công sau này của mình Ở Singapore người ta dự báo chi tiết về nhu cầu lực lượng lao động và trên cơ sở đó đưa ra chương trình đào tạo thích hợp : đào tạo và đào tạo nâng cao cán bộ quản lý,
kỹ sư và công nhân lành nghề nhằm thỏa mán những nhu cầu lao động của các ngành công nghiệp mới, đang trên đà phát triển nhanh Để khuyến khích đổi mới kỹ thuật công nghệ, Singapore ưu đãi thuế đối với các khoản chi trả cho những hoạt động nghiên cứu- triển khai (R&D) Bên cạnh chế đội ưu đãi
đó còn có quỹ đổi mới giá trị 500 triệu đô la Singapore hàng năm để hỗ trợ cho những dự án triển khai ở công ty chiếm 79% giá trị dự án
1.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Là nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới, Hàn Quốc nổi lên như một câu chuyện thành đạt trong nhiều lĩnh vực và luôn duy trì tốc độ trưởng kinh tế cao Trong đó Công nghiệp cơ khí Hàn Quốc là ngành công nghiệp then chốt
và đã được thế giới công nhận Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới (chiếm 40% đơn đặt hàng đóng tàu của cả thế giới); hàng điện tử: đứng thứ 4 Hàn Quốc đồng thời cũng là một nhà sản xuất ô tô lớn với trên ba triệu
xe hàng năm Kể từ khi lần đầu tiên xuất khẩu xe năm 1976, ngành công nghiệp cơ khí ô tô của nước này đã phát triển với tốc độ kinh ngạc và vươn lên đứng thứ 6 Thế giới
Có được những thành tựu đáng kinh ngạc như vậy là nhờ vào đường lối chính sách và định hướng phát triển công nghiệp cơ khí của Hàn Quốc qua mỗi thời kỳ đã trợ giúp cho việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng tới một tương lai tươi sáng và thịnh vượng hơn
Thứ nhất là Chính sách điều hành của Nhà nước Trước những năm 50,
chính phủ Hàn Quốc gần như bảo hộ toàn nền Công nghiệp cơ khí Các doanh nghiệp cơ khí chỉ làm theo đúng kế hoạch Nhà nước đặt ra đồng thời không
hề có sự gắn bó với nhu cầu thị trường Điều này đã làm cho Công nghiệp cơ khí nước này không phát triển, mất cân đối giữa khu vực tư nhân - khu vực
Trang 33Nhà nước; mặt khác, Hàn Quốc cũng là một trong những quốc gia nghèo đói nhất Thế giới thời đó Nhận thấy không thể kéo dài tình trạng này lâu dài, đầu năm 1953, Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định tự giảm bớt vai trò của mình
và chỉ đảm đương những chức năng mà khu vực tư nhân mặc dù có thể phát triển mạnh cũng vẫn chưa thể thay thế được như: Nhà nước vẫn giữ chức năng vạch kế hoạch để giải quyết những vấn đề chung của nền kinh tế song chủ yếu chỉ mang tính gợi ý và khuyến khích chứ không mang tính “mệnh lệnh”
Hơn nữa, Nhà nước cũng tiến hành các chính sách nhằm giảm bớt sự can thiệp của mình qua chương trình tự do hóa Việc đầu tiên cho chính sách
tự do hóa là trả lại tự do cạnh tranh bằng chính sách ban hành đạo luật chống độc quyền và buôn bán trung thực Tiếp theo là tự do hóa hình thành cơ cấu trong ngành Công nghiệp cơ khí để giải tỏa sự mất cân đối trước đây Nhà nước vào giai đoạn này không dùng phương pháp phân bổ tích lũy và các nguồn lực khác để tạo cơ cấu Công nghiệp cơ khí theo kế hoạch mà tận dụng
sự hình thành cơ cấu cho các lực lượng thị trường Thị trường sẽ quyết định
bộ phận nào đang và sẽ được thịnh vượng Đây là điều khác biệt của Hàn Quốc so với các nước khác trên Thế giới Chính nhờ sự khác biệt này, các doanh nghiệp cơ khí đã có sự chủ động trong việc sản xuất sản phẩm cơ khí, tích cực liên kết với nhau để học hỏi và trao đổi thông tin, đầu tư mạnh vào hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường
Thứ hai là Chính sách thị trường Để giải quyết bế tắc là sự hạn chế về
thị trường tiêu thụ sản phẩm, Chính phủ Hàn Quốc đã đổi mới căn bản phương pháp Công nghiệp hóa- hiện đại hóa Công nghiệp cơ khí Từ chỗ phát triển cơ khí dựa vào thị trường nội địa chuyển sang lấy xuất khẩu làm động lực cho tăng trưởng kinh tế và Công nghiệp Cụ thể là cuối năm 1960, Hàn Quốc bắt đầu xúc tiến xuất khẩu sản phẩm cơ khí bằng cách ban hành hàng
Trang 34loạt các luật và quy định có liên quan và lập ra những chương trình phát triển hướng tới xuất khẩu cho các doanh nghiệp công nghiệp cơ khí đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong đó phải kể đến Luật cơ sở Công nghiệp vừa và nhỏ, Luật đẩy mạnh phát triển Công nghiệp vừa và nhỏ; luật về các hiệp hội doanh nghiệp doanh nghiệp cơ khí vừa và nhỏ; luật về sự hợp tác trong các giới doanh nghiệp cơ khí vừa
và nhỏ Các luật này có quy định rõ vai trò điều tiết của Nhà nước, qua đó Nhà nước đảm bảo thực hiện các biện pháp giúp đỡ tài chính, công nghệ và marketing; hỗ trợ triển khai sử dụng phương tiện mới hiện đại hóa; kích thích phát triển khoa học công nghệ; đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp có quy mô lớn cho các doanh nghiêp
cơ khí quy mô nhỏ để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của bộ phận này Những dự định phát triển như dự định xâm nhập thị trường quốc tế, liên kết với các nước để sản xuất của các doanh nghiệp cơ khí cũng được đưa ra trao đổi rộng rãi tại các hiệp hội
hỗ trợ như Hội vì sự phát triển Công nghiệp chế tạo máy, Hội máy móc công cụ, Hội hợp tác Công nghiệp đóng tàu để khai thác các khía cạnh khác nhau trên thị trường nước ngoài
Thứ ba là Chính sách tạo vốn cho nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đã nhận
thấy rằng một doanh nghiệp cơ khí muốn phát triển được phải có đủ năng lực về vốn
Do đó, để tạo vốn, Chính phủ đã lập quỹ đầu tư toàn quốc để đáp ứng nhu cầu rất lớn
về vấn đề vốn lãi suất thấp cho doanh nghiệp cơ khí Nhà nước cũng nhanh chóng thành lập các quỹ riêng để cho vay với lãi suất thấp nhằm khích lệ việc sử dụng sản phẩm của các ngành Công nghiệp cơ khí như Quỹ dùng máy móc trong nước, Quỹ dùng nhà máy chế tạo cơ khí trong nước, Quỹ xuất khẩu máy móc, Quỹ thay thế máy móc và Ngân hàng xuất khẩu Ngoài ra, Nhà nước còn tiến hành các biện pháp đẩy lùi đầu tư nhỏ lẻ, đầu tư vào các ngành tiêu dùng nhiều lao động và chỉ khuyến khích đầu tư với quy mô lớn vào các ngành Công nghiệp nặng điển hình là Công nghiệp cơ khí, chỉ có đầu tư vào các công ty nước ngoài mới nhận được chế độ ưu đãi
Để nhanh chóng tổ chức được các doanh nghiệp cơ khí mới trong điều kiện tư bản tư nhân vẫn còn yếu so với nhiệm vụ phát triển xuất khẩu sản phẩm cơ khí, Nhà
Trang 35nước đã trực tiếp đầu tư xây dựng các đơn vị mới hoặc độc lập hoặc liên doanh với các mức vốn khác nhau: 100% vốn, trên 50% vốn và dưới 50% vốn
Thứ tư là Chính sách đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một
phương tiện để thúc đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa- hiện đại hóa của Hàn Quốc, giúp nước này có thể rút ngắn khoảng cách so với các cường quốc cơ khí như Đức, Mỹ, Nhật trong thời gian nhanh nhất Do vậy, chính sách đào tạo nguồn nhân lực rất được chú ý, Nhà nước đã vạch những chiến lược cụ thể cho nguồn nhân lực của mình bằng cách khuyến khích họ học hỏi và tạo môi trường làm việc thuận lợi nhất có thể Đầu năm 1970, một số lượng lớn kỹ sư và cán bộ được cử ra nước ngoài
để làm chủ các kỹ năng sản xuất theo cách học việc đào tạo tại chỗ nhằm giúp Nhà nước xây dựng chính sách công nghệ, giúp công nghiệp cơ khí bắt kịp các thông tin
về công nghệ Thế giới, nhập khẩu, khai thác và nâng cao khả năng sử dụng các công nghệ này
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Sơ lược về quá trình ra đời và phát triển của Công nghiệp cơ khí Việt Nam
2.1.1 Thời kỳ trước năm 1975
Thời kỳ trước năm 1975, các xí nghiệp cơ khí chỉ là những đơn vị thực hiện nhiệm vụ kế hoạch do cấp trên giao, vật tư cho sản xuất vốn liếng, đầu tư phát triển do Nhà nước lo, sản phẩm làm ra là tư liệu sản xuất đều giao nộp Nhà nước để phân phối Nhìn chung xí nghiệp thời đó ít có khả năng lựa chọn sản phẩm Sự phát triển của công nghiệp cơ khí thời gian này chủ yếu được phân ra 2 giai đoạn chính
- Giai đoạn 1955 - 1964: xây dựng cơ sở ban đầu cho cơ khí - bước
khởi đầu đúng hướng
Sau hoà bình lập lại, cơ khí miền Bắc chưa có gì đáng kể, lực lượng tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng; thời đó chỉ có một số cơ sở sửa chữa nhỏ và sản xuất hàng kim khí, xe đạp và một vài loại máy cỡ nhỏ, một hai xưởng quân giới từ chiến khu chuyển về, vài tập đoàn cơ khí do cán bộ miền Nam tập kết
tổ chức; trang bị nghèo nàn, cũ kỹ, lạc hậu
Ngay từ năm 1955 Chính phủ đã tranh thủ các nước Xã hội chủ nghĩa giúp (XHCN) xây dựng công trình làm với Liên Xô mà thời đó thường được gọi là Cơ khí trung quy mô Các nhà máy cơ khí trung quy mô được coi là hình mẫu của chế tạo máy hiện đại, gồm đủ các khâu công nghệ, sản xuất bài bản; nó còn được xem là nơi đào tạo cán bộ cơ khí Điều đáng chú ý là cơ sở chế tạo máy đầu tiên được xây dựng mới là Nhà máy chế tạo máy công bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân có trình độ tốt cho cơ khí; sản phẩm của nhà máy (tiện, khoan, bào) đã đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới và tăng cường
Trang 37trang bị cho cơ khí trong giai đoạn khôi phục kinh tế và cải tạo công thương nghiệp và chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Năm 1960-1964, xuất hiện thêm một số cơ sở sửa chữa độc lập và phân xưởng cơ khí như: Sửa chữa điện trung tâm Đông Anh, Cơ khí trung tâm Cẩm Phả (Liên Xô), Cơ khí Gang thép Thái Nguyên, Cơ khí phân đạm (Trung Quốc), tuy nhiệm vụ của các cơ sở này là sửa chữa và làm phụ tùng nhưng do
cơ ngơi bề thế, trang bị phong phú và có nhiều máy lớn nên được coi là có tiềm lực chế tạo máy móc, thiết bị của miền Bắc Việt Nam Bộ Công nghiệp gây dựng được các nhà máy: chế tạo bơm Hải Dương máy làm đất theo sau máy kéo, động cơ điện và máy biến thế, động cơ diezen cỡ nhỏ, chế tạo thiết
bị lẻ, đá mài, hàng quy chế Thành phố Hà Nội và Hải Phòng tổ chức các cơ
sở sản xuất: máy rèn dập, máy tiện cấp tốc độ thấp, máy gia công gỗ, máy chế biến cỡ nhỏ, đóng xe ca, đóng và sửa chữa ca nô, cân bàn, xe đạp, đồ điện dân dụng Các Bộ, ngành khác cũng đều xây dựng cơ khí để sản xuất một số trang bị chuyên ngành cho nhu cầu của mình: sà lan, ca nô, tàu kéo, tàu công trình, tàu lu và máy làm đường và xây dựng cỡ nhỏ, thiết bị làm gạch ngói, bơm nước và phụ kiện công trình thuỷ lợi, rơ moóc, phụ tùng ô tô gầm bệ, nồi hơi áp, phụ tùng cho ngành giấy - dệt, thực phẩm, dụng cụ y tế, máy chiếu phim, máy in Số lượng các nhà máy cơ khí nhờ nước ngoài giúp đã được xây dựng cộng với các nhà máy do trong nước tự tổ chức thuộc loại có tên tuổi vào khoảng 30-40 đơn vị
Giai đoạn này đã xuất hiện các khái niệm cơ khí Bộ chủ quản - cơ khí Ngành, cơ khí trung ương - cơ khí địa phương và Nhà nước rất quan tâm công tác quy hoạch, sắp xếp, phân công Hội nghị Cơ khí toàn miền Bắc lần thứ I (1961) đã đặt ra yêu cầu ban hành Tiêu chuẩn Nhà nước cho cơ khí, việc này sau đó đã được thực hiện
Nhận xét tổng quát về Cơ khí Việt Nam ở giai đoạn này: làm trước các sản phẩm cơ khí thông dụng, tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hoá
Trang 38- Giai đoạn 1964 - 1975: Cơ khí thời chống chiến tranh phá hoại đến
cơ khí thống nhất đất nước; phát triển ồ ạt cơ khí ở các Tỉnh
Vào thời gian này cơ khí được nhận định là ngành có thể tiếp tục phát triển trong chiến tranh phá hoại (tất nhiên ở mức độ và phạm vi nhất định), tập trung phục vụ nông nghiệp và đảm bảo giao thông, kết hợp nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển sau chiến tranh
Giai đoạn này, do đặc điểm phải phân nhỏ của chương trình sản xuất nông cụ thường và cải tiến và trang bị cho các điểm cơ khí nhỏ, tập trung làm 1965-1970 Xuất phát từ yêu cầu phải trang bị cho 1 lao động nông nghiệp 3-
4 nông cụ và trang bị cho 2 vạn điểm cơ khí nhỏ (một hình thức của tiền chế biến) cho các hợp tác xã nông nghiệp (điểm cơ khí nhỏ gồm các máy tuốt lúa, xay xát, nghiền thức ăn gia súc, máy bơm và đầu máy diezen); việc sản xuất
và tiêu thụ nông cụ và máy cơ khí nhỏ chủ yếu giao cho từng Tỉnh thực hiện
Kết hợp với nhiệm vụ hậu cần tại chỗ nên đã tăng cường lực lượng cơ khí cho tất cả các Tỉnh; mỗi huyện được tăng cường 1 xưởng cơ khí - rèn để làm nông
cụ, mỗi một Tỉnh được đầu tư 1 cơ sở được gọi là "Cơ khí Tỉnh" công suất tạm quy định là 300 tấn/năm và 500 tấn/năm tuỳ theo tỉnh lớn nhỏ (lúc sát nhập tỉnh thì có tỉnh được 2 cơ sở); các cơ sở này trang bị vạn năng na ná như nhau để sản xuất máy cơ khí nhỏ và phần nào xe cải tiến
Một số loại sản phẩm cơ khí khác cũng được chú ý phát triển trong thời chiến là: động cơ diezen, phụ tùng ô tô, đóng góp và sửa chữa phương tiện vận tải đường sông, máy bơm nước, và máy công cụ Thời kỳ này đã nâng cấp 2 nhà máy làm máy công cụ (Mai Động, Cơ khí Kiến thiết) và gây dựng thêm mới một nhà máy làm máy công cụ (Cơ khí Giải phóng)
Phát triển cơ khí rộng khắp ở tất cả các tỉnh miền Bắc được coi là biện pháp tình thế trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt Nhưng hậu quả của nó làm trầm trọng thêm tính phân tán, manh mún cho cơ khí về phương diện nhận và
có sự lầm lẫn về sự tồn tại của một loại hình xí nghiệp được gọi là Cơ khí
Trang 39Tỉnh không gắn với sản phẩm cụ thể mà gắn với cấp quản lý, coi đó là tiềm năng dự trữ cần được phân công sắp xếp để khai thác mà trên thực tế đã không thực hiện được vì việc dễ làm thì đã làm đủ, việc khó làm thì thiếu đội ngũ và công nghệ Kết quả là sau khi thực hiện xong chương trình cơ khí nhỏ thì cơ khí tỉnh lúng túng về hướng phát triển, sản xuất cầm chừng và sa sút dần
2.1.2 Thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1990
Đất nước thống nhất cho đến những năm đầu của công cuộc đổi mới Ý
đồ xây dựng cơ khí thật lớn lao nhưng thực hiện được rất thấp
Sau khi đất nước thống nhất có thêm lực lượng cơ khí ở phía Nam chủ yếu tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh, đáng chú ý là Hải quân công xưởng (Ba Son), Lục quân công xưởng, Nhà máy Caric và 2 cơ sở lắp ráp động cơ diezen và máy cày cỡ nhỏ
Ở phía Bắc thì các công trình thiết bị toàn bộ còn lại của giai đoạn 1955
- 1964 và các công trình đàm phán trong thời chiến lần lượt được xây dựng, bước đầu hình thành các cụm Cơ khí Đông Anh, Sông Công, Phổ Yên (Thái Nguyên); có thêm Nhà máy Sửa chữa tàu biển Phà Rừng (làm với Phần Lan)
và nhập từ Pháp một số dây chuyền làm phụ tùng xe đạp Sau chiến tranh cũng đã diễn ra quá trình sắp xếp lại lực lượng, định hướng lại nhiệm vụ sản xuất, chia tách cơ sở và từ đó có thêm các nhà máy mới: Khí cụ điện hạ thế, phụ tùng ô tô, cần trục, dụng cụ cắt, vòng bi ; từ việc thu gom được một phần máy công cụ "vô thừa nhận" đã xây dựng được nhà máy đóng tàu Bến Kiền (đóng tàu ven biển đến tàu hút bùn, tàu cá)
Đầu những năm 1980 Bộ Cơ khí Luyện kim đề ra chủ trương đa dạng hoá sản phẩm cũng được nhiều nơi hưởng ứng, ngoài các sản phẩm truyền thống, nhiều cơ sở còn làm thêm những mặt hàng khác để khai thác tốt hơn thiết bị, công nghệ và tận dụng vật tư
Trang 40Trong khối XHCN, Liên Xô đã giúp lập luận chứng KTKT (TEO) cho hàng loạt công trình: liên hợp chế tạo máy kéo MTZ50 làm 2 vạn máy kéo và
1 vạn tấn phụ tùng thay thế, máy rèn ép cỡ vừa và lớn (đến 1600 tấn) 250 cái, van công nghiệp 1 vạn tấn, đúc rèn tập trung 2,5 vạn tấn, phụ tùng ô tô 6.000 tấn, đá mài 1 vạn tấn
Ngoài khối XHCN thì những năm 1975 – 1976, nước ta tiến hành đi thăm dò các nước tư bản khả năng cho vay vốn để xây dựng các công trình cơ khí lớn Với Pháp là chế tạo ô tô tải cỡ vừa và lớn, với Ý là máy kéo, với Đan Mạch là động cơ thuỷ cỡ lớn, với CHLB Đức là cơ khí nặng; nhưng cũng không có dự án nào thành hiện thực do vốn yếu, số lượng nhà máy quá ít ỏi
bộ kỹ thuật và công nhân giỏi mỏng dần, đỉnh điểm sa sút là vào những năm
1988 - 1989; khó khăn nhất là sản xuất máy công cụ, sản lượng giảm trên một nửa Đây là thời kỳ cơ khí lâm vào khủng hoảng, mất phương hướng và gần như bị lãng quên
Nhưng cũng chính trong giai đoạn này có một lực lượng mới bắt đầu xuất hiện và tăng mạnh từ 1995 trở về sau - đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lắp ráp ô tô, xe máy và từ năm 1995 tiếp tục phát triển thêm nhiều cơ sở sản xuất phụ tùng xe máy - ô tô, xe đạp, dây điện - dây cáp, kỹ thuật điện, kết cấu kim loại và hàng phi tiêu chuẩn cỡ lớn, bơm nước,