Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đôla; giá trị sức lao động trong một ngày của người công nhân là 3 đôla; trong một giờ lao đ
Trang 1Đề tài: “Gía trị thặng dư nguồn gốc, bản chất và
các hình thức chuyển hóa”
Trang 2Từđó có thể khẳng định sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng dư, ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vậy vấn đề cần đặt ra là giá trị thặng dư là gì ? Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư ? Các hình thức chuyển hoá của giá trị thặng dư ?
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn Việc nghiên cứu nó phải được xuất phát từ các quan điểm đúng đắn của học thuyết Mác và thực tiễn Quá trình nghiên cứu sẽ giúp giải đáp được các câu hỏi luôn tựđặt ra trong lý luận cũng như trong thực tế của kinh tế học TBCN
Với những hiểu biết đang còn nhiều hạn chế và trong phạm vi đề tài cho phép, em rất mong nhận được sự giúp đỡ chỉ dẫn của thầy cô giáo về những sai sót trong bài làm để bài viết sau của em được tốt hơn
Trang 3B - NỘIDUNG PHẦN I GIÁTRỊTHẶNGDƯLÀGÌ ?
02 - VÍDỤ KÉOBÔNGTHÀNHSỢI
Bây giờ chúng ta nghiên cứu một cách ngắn gọn quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự thống nhất của nó như là quá trình lao động và quá trình tăng thêm giá trị qua ví dụ về sản xuất sợi
Giảđịnh sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đôla Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đôla; giá trị sức lao động trong một ngày của người công nhân là 3 đôla; trong một giờ lao động người công nhân đã tạo ra một giá trị
là 0.5 đôla; cuối cùng, ta giảđịnh rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết
Với giảđịnh như vậy, nếu như quá trình lao động kéo dài đến cái điểm màởđó bùđắp được giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động cần thiết thì chưa có sản xuất giá trị thặng dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản
Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ởđiểm đó Giá trị sức lao động mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra cho nhà tư bản là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến điều đó trước khi mua sức lao động Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong ngày Vậy việc sử dụng sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản
Trang 4Chẳng hạn, nhà tư bản bắt công nhân lao động trong 1 giờ một ngày thì :
Chi phí sản xuất Giá trị của sản phẩm mới
(20 kg sợi)
- Tiền mua bông là 20 đôla
- Hao mòn máy móc là 4 đôla
- Tiền mua sức lao động trong một
Trang 5Học thuyết kinh tế trọng thương coi lợi nhuận lă do lĩnh vực lưu thông mua bân, trao đổi sinh ra Nó lă kết quả của việc mua ít bân nhiều, mua rẻ bân đắt mă có
2 QUANĐIỂMCỦATRƯỜNGPHÂICỔĐIỂN
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu lă trong lĩnh vực lưu thông Do quâ trình phât triển cuả công trường thủ công, tư bản đê chuyển sang lĩnh vực sản xuất Lúc năy câc vấn đề kinh tế của sản xuất
đê vượt quâ khă năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương vă học thuyết kinh tế cổđiển xuất hiện Câc nhă kinh tế học của trường phâi năy lần đầu tiín chuyển đối tượng nghiín cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Lần đầu tiín, họ xđy dựng một hệ thống câc phạm trù vă quy luật của nền kinh tế thị trường Tiíu biểu lă câc quan điểm của Kene, A.Đ Smith, Ricacdo
a)Quan điểm của Kene :
Kene được CacMac đânh giâ lă cha đẻ của kinh tế chính trị học cổđiển vẵng có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế Kene đêđặt nền tảng cho việc
Trang 6nghiên cứu sản phẩm, tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này Ông đãđưa ra những quan điểm kinh tếđể tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương Kene cho rằng trao đổi thương mại chỉđơn thuần là việc đổi giá trị này lấy giá trị sử dụng khác theo nguyên tắc ngang giá cả Hai bên không có gìđể mất hoặc được cả Bởi vậy thương nghiệp không thểđẻ ra tiền được Theo ông, sản phẩm thặng dư chỉđược tạo ra từ sản xuất- nông nghiệp kinh doanh theo kiểu TBCN bởi vì trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã tạo
ra được chất mới nhờ có sự giúp đỡ của tự nhiên Đây là một quan điểm sai lầm Nhưng ông cũng manh nha bước đầu tìm ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư Ông cho chi phí sản xuất là tiền lương, sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữa thu hoạch và tiền lương, đó chính là phần do lao động thặng
dư tạo ra
b)Quan điểm của A.Đ Smith
Theo ông địa tô là khoản khấu trừđầu tiên vào sản phẩm lao động, lợi nhuận
là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động, chúng đều có chung nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân.Về mặt chất, nó phản ánh quan hệ bóc lột Xuất phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá
do người công nhân tạo ra A.Đ Smith thấy một thực tế là công nhân chỉ nhận được một phần tiền lương, phần còn lại làđịa tô và lợi nhuận của tư bản Ông cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đầu tưđẻ ra trong lĩnh vực sản xuất và trong lĩnh vực lưu thông
Ông thấy địa tô chênh lệch I do màu mỡđất đai và vị trí gần xa quyết định nhưng không nghiên cứu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối Những tư tưởng kinh tế của A.Đ Smith tuy còn hạn chế và mâu thuẫn, song cũng gây tiếng vang lớn trong giới học giả kinh tế cổđiển Ông được nhiều tác giả hậu bối coi là "cha đẻ của kinh tế học"
c)Quan điểm của Ricacdo
Nếu như A.Đ Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ thì David Ricacdo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp Đó
Trang 7làđiều kiện khách quan đểông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.Đ Smith dừng lại Ông là người kế tục xuất sắc của A.Đ Smith Theo C.Mac, A.Đ Smith là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công còn Ricacdo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp Ông sử dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học
Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng "Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương
mà nhà tư bản trả cho công nhân" Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỷ xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: địa chủ, công nhân và nhà tư bản Vềđịa tô, Ricacdo dựa vào quy luật giá trịđể giải thích địa tô, rằng địa tô hình thành không trái với quy luật giá trị Ông bác bỏ quan niệm cho rằng địa tô là sản phẩm của những lực lượng tự nhiên hoặc năng xuất đặc biệt trong nông nghiệp Ông đã nhận thức rằng giá trị nông phẩm được hình thành trong điều kiện ruộng đất xấu nhất, nếu kinh doanh trên ruộng đất trung bình sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch và lợi nhuận này rơi vào tay địa chủ dưới hình thức địa tô ( địa tô chênh lệch I) nhưng ông không biết địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối
II - QUANĐIỂMCỦAHỌCTHUYẾTMÁC
Mác viết :"Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu hiện trong hàng hoá Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Theo Mác, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng, thao tác riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng
Trang 8Kết quả của lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá Lao động
cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng cũng có nhiều loại Tất cả các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công xã hội ngày càng chi tiết Lao động
cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, làđiều kiện không thể thiếu được trong mọi điều kiện của xã hội
Lao động của người sản xuất hàng hoá nếu coi là hao phí sức lực của con người nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào gọi là lao động trừu tượng Lao động bao giờ cũng là hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt của con người Nhưng bản thân sự lao động về mặt sinh lýđó chưa phải là lao động trừu tượng Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần thiết khách quan phải quy các loại lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so sánh được với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với nhau được tức là phải quy lao động cụ thể thành lao động trừu tượng Vì vây lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá
Trong nền sản xuất hàng hoáđơn giản, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoáđơn giản Mâu thuẫn này còn biểu hiên ở lao động cụ thể với lao động trừu tượngở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá "Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá làđiểm mấu chốt để hiểu biết kinh tế chính trị học" Nó là sự phát triển vượt bậc so với các học thuyết kinh tế cổđại
1
CÔNGTHỨCCHUNGCỦATƯBẢNVÀMÂUTHUẪNCHUNGCỦACÔNGTHỨCTƯBẢN
Mác vàĂnghen cũng là người đầu tiên xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư một cách hoàn chỉnh Vì vậy, lý luận về giá trị thặng dưđược xem là hòn đá tảng to nhất trong toàn bộ học thuyết của Mác Qua thực tế xã hội tư
Trang 9bản lúc bấy giờ Mâc thấy rằng giai cấp tư bản ngăy căng giău thím còn giai cấp vô sản thì ngăy căng nghỉo khổ vẵng đêđi tìm hiểu nguyín nhđn vì sao lại có hiện tượng năy
Cuối cùng ông phât hiện rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền T đưa văo quâ trình sản xuất vă lưu thông hăng hoâ thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng
ra
Ta gọi lă : T' (T' > T) hay T' = T + ΔT
C.Mâc gọi ΔT lă giâ trị thặng dư Ông cũng thấy rằng mục đích của lưu thông tiền tệ với tư câch lă tư bản không phải lă giâ trị sư dụng mă lă giâ trị Mục đích của lưu thông T-H-T' lă sự lớn lín của giâ tri thặng dư nín sư vận động T-H-T' lă không có giới hạn Công thức năy được Mâc gọi lă công thức chung của tư bản
Qua nghiín cứu, Mâc đi đến kết luận: "Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mă cũng không xuất hiện ở người lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông văđồng thời không phải trong lưu thông " Đđy chính lă mđu thuẫn chung của công thức tư bản
Để giải quyết mđu thuẫn năy Mac đê phât hiện ra nguồn gốc sinh ra giâ trị hăng hoâ- sức lao động
Quâ trình sản xuất ra hăng hoâ vă tạo ra giâ trị mới lớn hơn giâ trị của bản thđn giâ trị sức lao động Vậy quâ trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa lă quâ trình sản xuất ra giâ trị sử dụng vă quâ trình sản xuất ra giâ trị thặng dư C.Mâc viết : ''Với tư câch lă sự thống nhất giữa quâ trình lao động vă quâ trình sâng tạo ra giâ trị thì quâ trình sản xuất lă quâ trình sản xuất ra hăng hoâvới tư câch lă tăng giâ trị thì quâ trình sản xuất lă một quâ trình sản xuất TBCN, lă hình thâi TBCN của nền sản xuất hăng hoâ
Phần giâ trị mới lớn hơn giâ trị sức lao động, nóđược tính bằng giâ trị sức lao động cộng thím giâ trị thặng dư Vậy giâ trị thặng dư (m) lă phần giâ trị mới dôi ra ngoăi giâ trị sức lao động do công nhđn tạo ra vă bị câc nhă tư bản
Trang 10chiếm đoạt Qua đó chúng ta thấy tư bản là giá trịđem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê
2 BẢNCHẤTQUÁTRÌNHSẢNXUẤTGIÁTRỊTHẶNGDƯ
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của các nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra hai bộ phận : Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trịđược bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và gọi là kí hiệu là
c
Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và kí hiệu là v Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được thì phải có một
tư bản bất biến đãđược ứng trước với tỉ lệ tương đương Và qua sự phân chia
ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá trị thặng dư Từđây ta có kết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến (Tức là giá trị thặng dưđãđược sản xuất ra) Nóđược biểu diễn bằng công thức : Giá trị = c + v + m
Sự phân chia tư bản thành tư bản khả biến và tư bản bất biến đã vạch rõ thực chất bóc lột TBCN, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do
công nhân tạo ra Nóđược biểu diễn một cách ngắn gọn qua quá trình Giá trị
= c + v + m
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm: c
Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả cho người công nhân) : v
Trang 11M = m'.V = (m.V) : v
Giá trị mới do người công nhân tạo ra : v + m
Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c + v Nhưng giá trị mà nhà tư bản thu vào là c + v + m Phần M dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của công nhân
Trên đây chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư Các phạm trù tỉ xuất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt lượng của sự bóc lột
Tỉ xuất giá trị thặng dư là tỉ số giữa hai giá trị thặng dư và tư bản khả biến
Kí hiệu của tỉ xuất giá trị thặng dư là m ta có :
m' = (m.100%):v
Tỉ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân Thực chất đây là tỉ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư Nhưng nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột tức là khối lượng giá trị thặng dư Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến(v)
Nó nói lên quy mô bóc lột của tư bản
3 PHƯƠNGPHÁPSẢNXUẤTGIÁTRỊTHẶNGDƯ
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều cách, bằng nhiều thủđoạn Trong đó Mác chỉ ra hai phuơng pháp mà chủ nghĩa tư bản thường dùng đó là sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Ngoài ra còn phương pháp sản suất giá trị thặng dư
Trang 12Mác đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản khi kỹ thuật còn thấp thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không thay đổi nhưng phương pháp này còn hạn chế về mặt thời gian, về thể chất và tinh thần người công nhân sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn
Nhà tư bản sản xuất ngày càng nhiều giá trị thăng dư bằng các rút ngắn thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi phương pháp này không có giới hạn
Bên cạnh đó các nhà tư bản ngày nay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa
kỹ thuật mới vào, nâng cao tay nghề công nhân, tạo điều kiện về tinh thần tốt
để tạo ra năng suất lao động cá biệt lớn hơn năng xuất lao động xã hội Phần giá trị thăng dư dôi ra ngoài giá trị thặng dư thông thường do thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng
dư siêu bền Phương pháp này là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch
4.CÁCHÌNHTHỨCBIỂUHIỆNCỦAGIÁTRỊTHẶNGDƯ
4.1 TIỀNLƯƠNG
Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một lượng thời gian nào đó thì nhận được một số tiền công nhất định Tiền trả công đóđược gọi là tiền công Hiện tượng đó làm người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động
Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả lao động Vì lao động không phải hàng hoá và không thể làđối tượng mua bán Sở dĩ như vậy là vì:
a) Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá trong một số trường hợp cụ thể nào đó Tiền đềđể cho lao động có thể "vật hoá" là phải có tư liệu sản xuất Nhưng nếu người lao động
Trang 13có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng hoá do mình sản xuất, chứ không bán "lao động"
b) Việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây: Nếu lao động là hàng hoá vàđược trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của qui luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản Còn nếu hàng hoáđược trao đổi không ngang giáđể có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị
c) Nếu lao động là hàng hoá thì hàng hoáđó cũng phải có giá trị Nhưng thước đo nội tại của giá trị là lao động Như vậy giá trị của lao động lại được đo bằng lao động là một điều luẩn quẩn, vô nghĩa
Vì thế, lao động không phải là hàng hoá, cái mà công nhân bán cho nhà
tư bản chính là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công
nhân là giá cả của sức lao động Vậy, bản chất của tiền công dưới chủ nghĩa
tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài giá trị hay giá cả của sức lao động
Hình thức chuyển hoá gây ra sự nhầm lẫn đó do những tình hình sau đây: a) Đặc điểm của hàng hoá - sức lao động là không bao giờ tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó nhìn bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho sức lao động
b) Đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để
có tiền sinh sống, do đó, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động
c) Lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc sản phẩm sản xuất ra, điều đó khiến người ta tưởng lầm rằng tiền công