BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN Đề 1 LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG ĐỂ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Viện : Kế toán Kiểm toánGiảng viên : PGS.TS. Tô Đức Hạnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Đề 1:
LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HÀNG HÓA
VÀ VẬN DỤNG ĐỂ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Họ tên sinh viên : Nông Thị Hồng Duyên
Mã sinh viên : 11201049
Lớp chuyên ngành : Kiểm toán 62B
Lớp học phần : LLNL1106(121)_08
Viện : Kế toán- Kiểm toán
Giảng viên : PGS.TS Tô Đức Hạnh
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 21
I Lý luận về giá trị hàng hóa
1 Khái niệm hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
Hàng hóa là phạm trù lịch sử; sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hóa khi được trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) như lương thực, quần áo,… hoặc phi vật thể (vô hình) như các dịch vụ
du lịch hay y tế
Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu cho sản xuất Khi sử dụng cho tiêu dùng cá nhân gọi là hàng tiêu dùng; khi tiêu dùng cho sản xuất gọi là tư liệu sản xuất Hàng hóa khi có những thuộc tính, chức năng đặc biệt thì được gọi là hàng hóa đặc biệt
2 Hai thuộc tính của hàng hóa:
Bất cứ hàng hóa nào cũng bao gồm hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
a, Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc tinh thần; có thể là nhu cầu tiêu dùng cá nhân như lương thực, thực phẩm, quần áo… hoặc có thể là nhu cầu cho sản xuất như nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất, Các vật phẩm có thể có một hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định và là nội dung vật chất của của cải Sản xuất hàng hóa càng phát triển dẫn đến số lượng giá trị sử dụng càng nhiều, chủng loại sản phẩm càng phong phú
Trang 32
và chất lượng sẽ càng cao Có thể kể đến ví dụ như than đá: ban đầu chỉ được dùng như một loại nhiên liệu để đốt lấy nhiệt, về sau nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật than đá còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như làm nhiên liệu cho quá trình sản xuất điện hay ứng dụng vào sản xuất các chất hóa học như phân bón, Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng Tuy nhiên, không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng là hàng hóa Ví dụ như con người đều cần không khí nhưng không khí lại không phải là hàng hóa, không phải thứ có thể đem ra trao đổi, mua bán vì chúng không phải là sản phẩm của lao động, không
do lao động của con người tạo ra Vì vậy, một sản phẩm muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải do lao động của con người tạo ra, phải là sản phẩm của lao động, tức chúng phải có giá trị
b, Giá trị của hàng hóa:
Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí đề sản xuất ra hàng hóa hay lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Giá trị chỉ được biểu hiện ra bên ngoài thông qua trao đổi, mua bán hay được biểu hiện thông qua giá trị trao đổi
Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử dụng khác nhau Ví dụ 1m vải = 10 kg thóc Vài và thóc khác nhau về mặt chất nhưng có thể so sánh, trao đổi được với nhau bởi có điểm chung đều là sản phẩm của lao động
Giá trị là nội dung là cơ sở quyết định giá trị trao đổi Thực chất trao đổi hàng hóa với nhau chính là trao đổi lao động kết tinh trong hàng hóa với nhau Bản chất xã hội hàng hóa là biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội giữa những người sản
Trang 43
xuất hàng hóa với nhau Giá trị hàng hóa chỉ được biểu hiện thông qua trao đổi hàng hóa, thể hiện ở tính tự nhiên và tính xã hội của hàng hóa
3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
a, Lượng giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị hàng hóa là lượng lao động đã hao phí để tạo ra hàng hóa Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian lao động Thời gian lao động ở đây là thời gian lao đọng xã hội cần thiết chứ không phải thời gian lao động cá biệt Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình Thực
tế, thời gian lao động cần thiết thường trùng hợp với mức hao phí thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận hàng hóa trên thị trường Như vậy, giá trị của hàng hóa bao gồm hao phí lao động quá khứ (c) cộng với hao phí lao động sống hay giá trị mới được tạo ra (v+m) Lượng giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng c + v + m
b, Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Có ba nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa là năng suất lao động, cường độ lao động và tính chất của lao động
Thứ nhất là năng suất lao động Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một sản phẩm Tăng năng suất lao động là tăng năng lực sản xuất của người lao động, là tăng sản lượng sản phẩm làm ra trong 1 đơn vị thời gian hay thời gian hao phí lao động để sản xuất ra
Trang 54
một sản phẩm sẽ giảm Năng suất lao động là thước đo cho sự hiệu quả của hoạt động sản xuất trong một thời gian nhất định Năng suất lao động phụ thuộc vào năm yếu tố: trình độ chuyên môn người lao động, trình độ tổ chức quản lý sản xuất, trình độ phát triển của khoa học và trang bị khoa học kỹ thuật cho sản xuất, Quy
mô và hiệu quả của tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên Muốn tăng năng suất lao động thì phải phát triển các yếu tố trên, đặc biệt là áp dụng khoa học kỹ thuật – yếu tố có tính quyết dịnh để tăng năng suất lao động
Thứ hai là cường dộ lao động Cường độ lao động là chỉ tiêu phản ánh mức
độ sức lực lao động bỏ ra trong một đơn vị thời gian Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực cho hoạt động lao động trong sản xuất Do đó, tăng cường độ lao động là tăng mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian Tăng cường
độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động Cường độ lao động tỷ lệ thuận với tổng giá trị hàng hóa được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian nhất định Khi cường độ lao động tăng, hao phí lao động cũng tăng lên, khối lượng hàng hóa cũng tăng tương ứng Vì vậy, hao phí lao động để làm ra một sản phẩm không đổi nhưng tổng giá trị hàng hóa tăng lên Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe, thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức hay kỷ luật lao động,… Nếu giải quyết tốt những vấn đề này thì người lao động sẽ thao tác nhanh hơn, thuần thục hơn, tập trung hơn, do đó tạo ra nhiều sản phẩm hơn
Thứ ba là tính chất phức tạp của lao động Căn cứ tính chất của lao động, có thể chia các loại lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được Còn lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo
về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Trong cùng một đơn vị thời gian, một lao động phức tạp sẽ phải vận dụng các kỹ
Trang 65
năng về thể chất và tinh thần nhiều hơn so với một lao động giản đơn nên mức độ hao phí lao động sẽ nhiều hơn Vì vậy trong cùng một đơn vị thời gian, một lao động phức tạp sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn một lao động giản đơn Sản phẩm của lao động phức tạp vì vậy sẽ có giá trị cao hơn sản phẩm của lao động giản đơn
II Thực trạng về sức canh tranh của nền kinh tế Việt Nam
1 Thực trạng trong 9 tháng đầu năm 2021
GDP 9 tháng đầu năm 2021 tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế trong đại dịch, năng suất lúa tăng cao, chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông
giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, ngành vận tải kho bãi giảm 7,79%, đặc biệt ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,18% Tuy nhiên, ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 21,15% so với cùng kỳ năm 2020, hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,37% và ngành thông tin, truyền thông tăng 5,24%
Tính chung 9 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa đạt 483,17 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch xuất khẩu hàng
năm 2021 có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm 2021 gồm nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,66 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 214 tỷ USD, tăng 19,5% Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 17,7 tỷ USD, tăng 17,6% Nhóm hàng thủy sản đạt 6,17
tỷ USD, tăng 2,4% Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,8 tỷ USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước Tiếp đến là Trung Quốc, thị trường EU, thị trường ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản Kim ngạch nhập
Trang 76
khẩu hàng hóa đạt 242,65 tỷ USD, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước Trong 9 tháng năm 2021 có 36 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 227,65 tỷ USD, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 15 tỷ USD, tăng 22,4%, chiếm 6,2% Thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất trong 9 tháng năm 2021 của Việt Nam là Trung Quốc với kim ngạch đạt 81,3 tỷ USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm trước Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc, thị trường ASEAN, Nhật Bản, Thị trường và Hoa Kỳ Tính chung 9 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,13 tỷ USD
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 2,66 tỷ USD, giảm 59,6% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm 2021 ước tính đạt 14,35 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng năm 2021 là 11,69 tỷ USD
Tính chung 9 tháng năm 2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 50,4 triệu người, giảm 0,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 44,5 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước, tương đương 2,4% Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước trong 9 tháng năm 2021
là 2,67% và tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 3,04%,
2, Đánh giá:
a, Kết quả:
Dựa vào các số liệu trên, có thể thấy rằng trong 9 tháng đầu năm 2021, nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng dương mặc dù nền kinh tế đã chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh ở tất cả các lĩnh vực GDP chỉ tăng 1,42% so với cùng kỳ năm 2020 do dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương, ảnh hưởng tới hoạt động
Trang 87
kinh tế do phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, vì vậy năng suất cây trồng và chăn nuôi tăng khá ổn định Cán cân thương mại tính chung 9 tháng đầu năm 2021 là cán cân thương mại nhập siêu Lực lượng lao động trong 9 tháng đầu năm có xu hướng giảm, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lao động thiếu việc làm tăng cao
b, Hạn chế và nguyên nhân
Tuy nền kinh tế Việt Nam vẫn có sự tăng trưởng so với năm 2020 nhưng mức tăng trưởng ở đây rất thấp Phần lớn nguyên nhân là do đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội làm ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất – chế biến – tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản Dịch bệnh diễn ra từ năm 2020 và đến năm 2021 thì bùng phát mạnh mẽ hơn, điều này dẫn đến tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ, một ngành chiếm
tỷ trọng lớn trong việc làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế
Trong 9 tháng đầu năm 2021, tình trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam gặp phải nhiều khó khăn do dịch bện diễn biến phức tạp hơn, nền kinh tế thế giới cũng phải hứng chịu chung những thiệt hạ do dịch Covid-19 gây ra, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình lao động, việc làm, lao động đang làm việc trong nền kinh tế giảm mạnh so với cùng
kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tăng
Ngoài nguyên nhân chủ yếu là dịch Covid-19, còn một số nguyên nhân khác như thiên tai, bão lũ và trình độ tay nghề của người lao động
Trang 98
III, Giải pháp khắc phục những hạn chế
Hiện nay chúng ta đều có thể dễ dàng thấy rằng hội nhập kinh tế là việc trọng yếu trong việc thúc đẩy kinh tế, xã hội, đặc biệt là trong thời đại 4.0 Vì vậy các nước đều cần xây dựng một nhận thức thống nhất, đúng đắn trong nội bộ rằng hội nhập là cần thiết, phù hợp với xu thế chung, tạo thuận lợi cho sự phát triển của đất
các nước có cái nhìn tổng quát hơn trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và giải pháp để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, tham gia giải
Để có thể nâng cao năng suất lao động, cạnh tranh với nền kinh tế các nước khác trong thời kỳ hiện nay:
+ Việc cấp thiết nhất cần làm đó là đẩy mạnh công tác tiêm phòng vaccine
chống, kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19 là yếu tố quyết định cho việc khôi phục kinh tế, xã hội, đưa đất nước trở lại đà tăng trưởng
+ Đại dịch toàn cầu Covid – 19 đã tạo sự chuyển dịch, thiếu hụt lao động phục hồi sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng thất nghiệp, vì thế cần điều tra khảo sát mong muốn nhu cầu người lao động, đông thời hỗ trợ cần thiết để lao động tái thiết cuộc sống, an sinh xã hội thúc đẩy người lao động quay trở lại làm việc khu công nghiệp chế xuất, bố trí lại lao động trong nền kinh tế và các khu vực lân cận Hơn nữa, để đất nước phát triển mạnh mẽ, nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập, cần phải nâng cao dân trí, phát triển kinh tế tri thức Điều
đó thể hiện ở mức độ thích ứng của con người trước sự biến động khôn lường của kinh tế thị trường hiện nay
Trang 109
+ Thương mại điện tử đang dần là ngành phổ biến ngày nay, phát triển mạnh
mẽ nhất trong 2 năm gần đây, bắt đầu từ lúc đại dịch bùng phát Đây là cơ hội cũng như là phương thức giúp nền kinh tế Việt Nam tiến gần thêm bước nữa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nâng cao giá trị sử dụng của hàng hóa cũng là một giải pháp giúp nước ta nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, vì khi chất lượng sản phẩm tăng lên, chúng ta sẽ có cơ hội tăng giá trên thị trường quốc tế Ngoài ra, có thể đa dạng hóa giá trị sử dụng của hàng hóa Người tiêu dùng ngày nay luôn hướng đến những loại hàng hóa có nhiều công dụng, vì vậy đây có thể là một giải pháp đúng dắn cho nền kinh tế nước nhà
+ Dù tình hình dịch hiện nay vẫn diễn biến phức tạp, nhưng chúng ta vẫn luôn phải sẵn sàng cho việc mở cửa, khai thông với quốc tế, thực hiện các chính sách mở cửa, đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo, giữ mối quan hệ với các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam Thêm vào đó, nước ta cung cần tìm hiểu khai thác thông tin về các thị trường mới để hợp tác với lợi ích lâu dài
+ Giải pháp quan trọng nhất giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế chính là việc chuyển giao và áp dụng khoa học – kỹ thuật, một phần làm tăng hiệu quả, năng suất lao động, một phần giúp kinh tế Việt Nam được tiếp cận với những công nghệ tiên tiến trên thế giới và nhận được thêm nhiều cơ hội đầu tư, phát triển Ngoài áp dụng khoa học – kỹ thuật mới, nước ta còn cần cải tiến máy móc, thiết bị, làm mới dây chuyền, công nghệ sản xuất để tối đa hóa lợi ích