Bản chất và nội dung kinh tế: Vấn đề chi phí sản xuất các nhà kế toán quan niệm như một nguồn phải hy sinh, phải bỏ ra trong quá trình hoạt động của mình để tạo ra một lượng sản phẩm nh
Trang 1Để sản xuất có hiệu quả, tất cả các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường trước khi ra quyết định sản xuất một cái gì đó? Số lượng bao nhiêu? Bán giá nào?
Trong sản xuất kinh doanh, từ khâu nghiên cứu khảo sát thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm là một qúa trình phức tạp Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động của quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp
Từ năm 1987, đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động dựa trên nguyên tắc tự hạch toán, kinh doanh độc lập, ít có sự bao cấp của nhà nước
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt thêm vào đó phải tự lo liệu các yếu tố đầu vào và các yếu
tố đầu ra Quả thật để thích ứng với nền kinh tế thị trường thật là không đơn giản với các chủ doanh nghiệp Làm thế nào để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, để
bù đắp chi phí và có lãi, đó là điều mà các nhà doanh nghiệp phải quan tâm
Chi phí luôn là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động trong các doanh nghiệp
Việc tính toán đúng các chi phí bỏ ra sẽ thấy rõ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là quyết định yếu tố đầu vào và xử lý các yếu tố đầu ra trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiện nay, nền kinh tế thị trường nước ta đang trên đà đổi mới, nhiều doanh nghiệp đang vươn lên không ngừng đổi mới và phát triển nhờ có chính sách hợp lý về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp Việc tính toán các chi phí
và biết khai thác khả năng sẵn có của mình để giảm chi phí đến mức thấp nhất sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển và tồn tại lâu dài
Để thu lợi nhuận thì các doanh nhgiệp phải thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, các chỉ tiêu, định mức, các biện pháp giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm sẽ tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường Do đó việc không ngừng phấn đấu giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các doanh nghiệp
Trang 2Hiện nay, ngành khai thác than vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của cả nước Nhưng ngành than cũng đã và đang phải đương đầu với những khó khăn, thử thách của nền kinh tế thị trường Mỏ than Vàng Danh là doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh than thuộc Tổng Công Ty Than Việt Nam Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, công tác chi phí quản
lý giá thành và giảm giá thành luôn được quan tâm và coi đây là sự sống còn của doanh nghiệp Thế nhưng tại sao có thể giảm giá thành hơn nữa? Liệu còn khâu nào bất hợp lý làm giá thành sản phẩm cao hơn? Các biện pháp nào có thể hạn chế và giảm bớt các chi phí để hạ giá thành sản phẩm? Với những điều trăn trở như thế và nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của công cuộc đổi mới, từng bước phù hợp với cơ chế thị trường em nhận đề tài này làm đồ án tốt nghiệp
“Phân tích giá thành sản phẩm khai thác than nguyên khai mỏ than Vàng Danh”
Đề tài được chia làm 4 phần chính:
Phần 1: Giới thiệu khái quát về mỏ than Vàng Danh
Phần 2: Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp
Phần 3: Phân tích thực trạng giá thành của mỏ than Vàng Danh
Phần 4: Đề xuất một số biện pháp hạ giá thành sản xuất than nguyên khai
ở mỏ than Vàng Danh
Trang 3Phần 1
Giới thiệu khái quát về Mỏ Than Vàng Danh
1 Giới thiệu khái quát 1.1 Quá trình hình thành và phát triển Mỏ Than Vàng Danh:
1.1.1 Quá trình hình thành:
Mỏ than Vàng Danh là một doanh nghiệp nhà nước có trụ sở tại:
Phường Vàng Danh - Thị xã Uông Bí - Tỉnh Quảng Ninh
Mỏ là doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh than Chủ yếu là khai thác than hầm lò( chiếm 90%) Phần khai thác lộ thiên chiếm 10%, đây là phần dành cho dự trữ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường khi cần thiết
Mỏ được thực dân Pháp xây dựng và khai thác từ năm 1914 - 1945 Sau 1954 Đảng và Nhà nước ta có chủ trương khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng Quốc gia
Ngày 06/ 06/ 1964 Bộ Công nghiệp nặng ban hành Quyết định số 262 chính thức thành lập Mỏ Than Vàng Danh
Ngày 19/ 4 /1979 Bộ điện than ra quyết định số 20/TCCB thành lập công
ty than Uông Bí, mỏ than Vàng Danh là thành viên trực thuộc
Ngày 30/ 06 /1993 Bộ năng lượng ra quyết định thành lập doanh nghiệp
mỏ than Vàng Danh trực thuộc công ty than Uông Bí, Quyết định số 430/ NL -TCCB -
LĐ
Ngày 17/ 09/ 1996 Bộ công nghiệp ra quyết định số: 2406 / QĐ-TCCB thành lập Doanh nghiệp Mỏ than Vàng Danh trực thuộc Tổng công ty than Việt Nam Công suất thiết kế 600.000 tấn than nguyên khai/ năm và kế hoạch phát triển từ năm 2000 -2010 dự kiến tăng công suất lên 800.000 tấn/ năm
1.1.2 Quá trình phát triển:
Mỏ được thành lập với số lượng lao động, thiết bị máy móc, phương tiện vận tải và nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp Trải qua trên 40 năm hoạt động mỏ than Vàng Danh đứng trước những khó khăn, thử thách của cơ chế thị trường, điều kiện địa chất phức tạp, có nhiều thay đổi bất thường Ngành than có nhiều thay đổi về quy mô quản lý kỹ thuật khai thác, cơ chế giá, thị trường tiêu thụ, máy móc, thiết bị đã qua nhiều năm sử dụng nên phải thay thế, sửa chữa nhiều nhưng mỏ được sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, chính quyền đại phương, cơ quan chủ quản cấp trên, cùng với sự lỗ lực, năng động sáng tạo của đội ngũ cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật, nhân viên phục vụ, chuyên môn của
Trang 4toàn mỏ nên những năm qua mỏ đều hoàn thành nhiệm vụ về sản xuất, kinh doanh có lợi nhuận,làm tròn nghĩa vụ với nhà nước Đảm bảo tăng trưởng kinh
tế bình quân hàng năm từ 5 -10%, đảm bảo mức thu nhập và đời sống cho người lao động
Mỏ đã được Nhà nước tặng nhiều huân chương như: Huân chương lao động, Huân chương độc lập tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu và tăng uy tín với khách hàng, mỏ đã đầu tư chuyên sâu vào chất lượng sản phẩm và đã đạt được nhiều giải thưởng GOLDSTAR về chất lượng sản phẩm của tổ chức thương mại Quốc tế BID tại Tây Ban Nha năm 1996
1.2 Cơ cấu và tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
Mỏ là một doanh nghiệp hoạch toán độc lập, chịu sự điều hành và quản lý trực tiếp của Tổng Công ty Than Việt Nam, Uỷ ban nhân nhân tỉnh Quảng Ninh,
Bộ và các cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Mỏ với tư cách là doanh nghiệp nhà nước đều tuân thủ theo quy luật doanh nghiệp nhà nước và các quy định khác của nhà nước
1.2.1 Chức năng:
Mỏ được quyền xây dựng, tổ chức thực hiện các dự án đầu tư và phát triển, duy trì sản xuất, đổi mới công nghệ, đầu tư cải tạo hoặc mở rộng, đầu tư những dự án phát triển sản xuất kinh doanh không thuộc Tổng công ty than Việt Nam trực tiếp điều hành, được Tổng công ty cho phép đầu tư, hợp tác liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nướcc theo quy định của nhà nước
Mỏ có nhiệm vụ thực hiện hoàn thành kế hoạch khai thác, chế biến kinh doanh than, tiêu thụ các thị trường trong nước và nước ngoài theo kế hoạch giao hàng năm của Tổng công Than Việt Nam
Có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả, bảo toàn phát triển vốn và các nguồn lực đã được giao, có trách nhiệm nộp ngân sách Nhà nước và làm các nhgĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và Tổng công ty
Qua chức năng, nhiệm vụ sản xuất của Mỏ cho thấy kế hoạch sản xuất kinh doanh của Mỏ phụ thuộc rất nhiều vào Tổng công ty than Việt Nam
1.2.2 Mặt hàng sản xuất kinh doanh
Dưới sự quản lý và điều tiết của Tổng công ty thì Mỏ có những loại hàng hoá và dịch vụ chủ yếu như sau:
+ Khai thác chế biến và tiêu thụ than, cung ứng các loại than cục, than cám đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa và một phần dành cho xuất khẩu
Trang 5+ Vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ
+ Quản lý và khai thác các cảng sông
Sản phẩm của Mỏ là từ khai thác than nguyên khai, sau đó chế biến thành các loại than sạch như: Than cám các loại, từ cám 1 đến cám 6, than cục các loại
từ +15mm đến +180mm
Mỏ than Vàng Danh là một doanh nghiệp khai thác than chủ yếu là công nghệ khai thác hầm lò, sản phẩm chính là than nguyên khai và than sạch các loại Than nguyên khai khai thác ra chủ yếu là than thô, bẩn
- Tỷ lệ than cục trong nguyên khai khoảng 20%
- Tỷ lệ than cám trong nguyên khai khoảng 75%
- Tỷ lệ than bùn trong nguyên khai khoảng 5%
Mỏ có đặc điểm về địa hình, điạ chất phức tạp, nằm trong vòng cung Đông Triều, có nhiều nhánh sông suối chia cắt bề mặt, vỉa có nhiều đứt gãy, uốn nếp chia cắt khai trường ra thành nhiều mảnh nhỏ, không ổn định
Địa điểm khai trường nội bộ cũ mỏ có chiều dài khoảng 25km, từ khu vực khai thác Vàng Danh đến cảng Điều Công với nhiều cung đoạn địa hình khác nhau nên việc khai thác và vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn
Mỏ là một doanh nghiệp khai khoáng, sản phẩm chính là than nên sản phẩm của mỏ đặc thù là không có nguyên vật liệu chính, mà chỉ có là vật liệu phụ
Trang 7* Bộ máy quản lý của mỏ được tổ chức theo mô hình quản lý chức năng, mỗi đơn vị cấp dưới chịu sự chỉ đạo của một cấp trên theo chức năng Giám đốc
có quyền quyết định toàn bộ công việc hoạt động của mỏ
- Kế toán trưởng: Giúp giám đốc quản lý và chỉ đạo thực hiện công tác kế toán, thống kê tài chính, có quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của pháp luật
* Khối các phòng ban: Có chức năng tham mưu giúp việc cho giám đốc và các phó giám đốc, quản lý và điều hành mọi hoạt động của mỏ theo chức năng
- Văn phòng thi đua: Tổ chức, chỉ đạo và điều hành công tác thi đua và tuyên truyền của mỏ
- Phòng tổ chức lao động: Có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng lao động hợp lý, xem xét khen thưởng, kỷ luật
- Phòng thống kê - kế toán - tài chính: Quản lý tài sản và nguồn vốn, chỉ đạo các công tác tập hợp, xử lý cá số liệu thống kê, phản ánh tình hình, kết quả quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỏ theo từng thời kỳ
- Phòng kế hoạch: Quản lý, chỉ đạo công tác kế hoạch và chi phí sản xuất, lưu thông của mỏ
- Phòng tiêu thụ: Quản lý và điều hành công tác tiêu thụ theo các kỳ sản xuất kinh doanh của mỏ
- Phòng vật tư: Điều hành quá trình cung ứng vật tư thiết bị phục vụ sản xuất, quản lý thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên vật liệu, lập các kỳ sản xuất dự trữ cho các kỳ sản xuất kinh doanh của mỏ
Trang 8- Phòng cơ điện: Thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo kỹ thuật cơ điện, thiết kế và giám sát quá trình hoạt động của các thiết bị động lực
- Phòng kỹ thuật khai thác: Quản lý kỹ thuật công nghệ khai thác, thiết kế xây dựng cơ bản các đường lò, lập các hộ chiếu khai thác, các biện pháp thi công và giám sát thi công, nghiệm thu công trình
- Phòng an toàn: Quản lý, chỉ đạo công tác an toàn, bảo hộ lao động, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy trình, quy phạm về các biện pháp
- Phòng KCS: Quản lý chỉ đạo kỹ thuật công nghệ sàng tuyển và kiểm tra chất lượng sản phẩm
- Phòng bảo vệ - thanh tra - quân sự: Quản lý, chỉ đạo công tác bảo vệ, thanh tra canh gác, thanh tra các vụ việc xảy ra trong mỏ
- Trung tâm y tế: Tổ chức quản lý các công tác y tế, khám chữa bệnh định
kỳ, trực tiếp cấp cứu tại các bộ phận sản xuất của mỏ
* Khối các phân xưởng: Đào lò, sản xuất, vận tải than, vật tư vật liệu phục vụ khai thác Có chức năng tổ chức, trực tiếp thực hiện các kế hoạch, tổ chức thực hiện các công việc phụ trợ cho sản xuất như: Thông gió, kiểm tra khí hầm lò giúp cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn
Trang 91.2.4 Quy trình công nghệ sản xuất than nguyên khai:
Công nghệ sản xuất của mỏ bắt đầu từ thăm dò địa chất, xác định lộ vỉa, trữ lượng công nghiệp, chất lượng than để định hướng tổ chức khai thác theo phương pháp công nghệ lộ thiên hay hầm lò
Sơ đồ 1 quy trình công nghệ sản xuất than nguyên khai
của mỏ Vàng Danh
Xác đ ị nh lộ vỉ a, trữ lượng, chấ t
lượ ng than
Phát cây, dọ n bãi, chuẩ n bị khai thác
Đà o lò kiế n thiế t cơ bả n,đ à o lò chuẩ n
bị sả n xuấ t, nổ mìn, xúc bố c đ ổ thả i
Tổ chức khai thác: lò chợ , khấ u buồ ng, nổ mìn, đ à o cậ y thủ công hay khai thác bằ ng
các máy khai thác liên hợp
Vậ n chuyể n than về nhà máy tuyể n
Trang 10Thuyết minh quy trình công nghệ:
+ Quy trình công nghệ khai thác than nguyên khai ở mỏ than Vàng
Danh
- Sau khi thăm dò địa chất, xác định các vỉa than và vị trí các đường lò phải xây dựng, mỏ tiến hành phát cây, làm đường, đào lò kiến thiết cơ bản và đào lò chuẩn bị sản xuất Các đường lò bằng từ bên ngoài đi vào gặp các vỉa than gọi là lò cái, lò này chủ yếu dùng để vận chuyển lên có tuổi thọ lâu dài, vật liệu gia cố là các vì sắt và các tấm chèn bê tông nhằm ổn định đường lò
- Khâu khai thác than lò chợ: Khi hoàn thành các đường lò chuẩn bị, người ta tiếp tục đào lò khai thác mở rộng và tiến hành khấu than bằng phương pháp nổ mìn, đào cậy thủ công hoặc bằng các máy khai thác liên hợp
- Khâu vận chuyển than về nhà máy tuyển: Than đã khai thác được đưa vào máng cào, máng trượt, băng tải để xuống xe goòng, dùng tàu điện vận chuyển về nhà máy tuyển Tại đây sản lượng than nguyên khai được xác lập
* Nhận xét:
Do khai trường thuộc triền núi cao trung bình, địa hình dốc từ 200 đến 500,
có nhiều nhánh suối chia cắt bề mặt địa hình trên các khai trường, nước trong các hầu lò nhiều, điều kiện địa chất phức tạp, ẩm ướt, thiếu ánh sáng Do vậy việc vận chuyển vật liệu, đưa công nhân đến các khai trường mất nhiều thời gian, việc vận chuyển than phức tạp qua nhiều công đoạn, nên năng suất lao động không cao, chi phí lớn, dễ bị lãng phí làm tăng giá thành sản xuất
Bảng 2
Trang 11Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004
I Than nguyên khai
sx Tấn 600.000 525.40,00 -74.550,00 87,57
II Than sạch sx Tấn 457.000 463.363,35 + 6.363,35 101,39 III Than tiêu thụ Tấn 589.000 491.822,72 - 97.117,28 83,50
IV Tổng doanh thu Tr.đ 185.348 168.873,11 - 16.474,28 91,11
V Giá thành sản xuất Đ/tấn 230.262 238.923,00 + 8.661,00 103,76
VI Lợi nhuận trước thuế Tr.đ 964 144,973 - 819,027 15,04
* Các nguyên nhân làm tăng giảm giá thành, lợi nhuận
Qua các số liệu bảng 2 thì giá thành than sạch sản xuất năm 2004 tăng 3,76% so với kế hoạch
* Nguyên nhân: Do một số yếu tố thị trường tăng
Yếu tố vật liệu tăng, nhiên liệu tăng so với kế hoạch, vì một số định mức Tổng công ty giao cho mỏ còn thấp, công tác vận chuyển vật tư gặp nhiều khó khăn trong mùa mưa và máy móc thiết bị của mỏ đã già cỗi, chi phí thu mua cao
do nguồn cung ứng gỗ chống lò cho mỏ ngày càng khan hiếm
Lợi nhuận năm 2004 của mỏ chỉ đạt 15,04% so với kế hoạch, do lượng than tiêu thụ năm 2004 chỉ đạt 83,50%, giá thành sản xuất tăng 3,76%, giá bán than xuất khẩu cũng như giá than nội địa trong năm đều giảm so với năm trước
1.3 Đánh giá chung và sự cần thiết của đề tài:
1.3.1 Khó khăn:
Do năng lực máy móc thiết bị sản xuất đã quá già cỗi không đáp ứng được tốt nhu cầu sản xuất, lại chưa được thay thế bằng các loại máy móc hiện đại, việc cung ứng, quản lý vật tư cho sản xuất chưa được tốt, còn gặp nhiều khó khăn như gỗ chống lò
Thị trường tiêu thụ còn nhiều khó khăn, hạn chế và cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp trong ngành than
Trang 121.3.2 Thuận lợi:
Mỏ có đội ngũ cán bộ, công nhân hầu hết đã qua bồi dưỡng đào tạo, có trình độ tay nghề cao, có trách nhiệm nhiệt tình, kinh nghiệm do vậy đã khắc
phục được đáng kể những khó khăn trên
Với những thuận lợi, khó khăn trên, muốn doanh nghiệ tồn tại mỏ cần có những biện pháp khắc phục hữu hiệu hơn nữa như:
- Tiết kiệm tối đa chi phí nhằm giảm giá thành, tăng lợi nhuận
- Sắp xếp tổ chức sản xuất hợp lý hơn nữa nhằm nâng cao năng suất lao động
- Dần dần thay thế, nâng cấp các máy móc thiết bị già cỗi bằng các máy móc thiết bị hiện đại hơn nhằm tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Như vậy, giá thành là một chỉ tiêu quan trọng, là một trong những căn cứ
để xây dựng chính sách giá cả cho sản phẩm
Để tạo được một vị thế vững chắc trên thị trường, ngoài yếu tố chất lượng, các dịch vụ sau bán thì hạ giá thành sản phẩm còn là mục tiêu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phần 2
Cơ sở lý luận về chi phí và giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp 2.1 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trang 132.1.1 Chi phí sản xuất:
2.1.1.1 Khái niệm:
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định( tháng, quý, năm)
2.1.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế:
Vấn đề chi phí sản xuất các nhà kế toán quan niệm như một nguồn phải
hy sinh, phải bỏ ra trong quá trình hoạt động của mình để tạo ra một lượng sản phẩm nhất định, theo quan niệm của các nhà kinh tế học thì chi phí được coi là các phí tổn phải chịu khi sản xuất một loại hàng hoá hay dịch vụ trong kỳ kinh doanh Chi phí được xem như một lượng tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình hoạt động của mình để tạo ra một lượng sản phẩm nhất định Trong một đơn vị sản xuất, chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao đông vật hoá mà đơn vị thực tế bỏ ra các chi phí cho sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, song chung quy chỉ là chi phí về lao động sống và lao động vật hoá
- Chi phí về lao động sống: Là lương công nhân sản xuất, chi phí nhân
viên phân xưởng, bảo hiểm xã hội của công nhân lao động sản xuất
- Chi phí lao động vật hóa: Là chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ lao động chi phí về khấu hao tài sản cố định
Theo Các Mác khi phân tích chi phí sản xuất và lợi nhuận ông cho rằng:
“ Chi phí sản xuất của hàng hoá chỉ hoàn toàn do tư bản đã thực sự chi vào sản xuất hàng hoá cấu thành mà thôi Chi phí sản xuất là bằng giá trị của tư bản đã chi phí ” Bản chất nêu trên của chi phí sản xuất không chỉ đúng với sản xuất tư bản chủ nghĩa mà còn đúng với mọi hình thức hàng hoá khác
Như vậy, để tiến hành sản xuất phải bỏ ra chi phí về thùlao lao động, về
tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong các đơn vị sản xuất còn có những chi phí không có tính chất sản xuất Vì vậy cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu Chi tiêu là giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, giữa chúng khác nhau về số lượng và thời gian Phát sinh chi tiêu có thể là chi phí trong trường hợp mua nguyên vật liệu không qua nhập kho đưa ngay xuống sản xuất cũng có thể là chi phí trong trường hợp: mua nguyên vật liệu
Trang 14nhập kho nhưng chưa xuất ra sử dụng Mặt khác cũng có những khoản chi tiêu chưa xảy ra hoặc đã xảy ra ở kỳ hoạch toán trước được tính vào chi phí kỳ này
Do trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp ngoài các hoạt động sản xuất công nghiệp còn có các hoạt động khác ngoài công nghiệp như xây dựng cơ bản ngoài vận tải Do vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp còn
có các chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh không cơ bản Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh không cơ bản gọi là chi phí sản xuất chung Trong đó bộ phận chi phí chiếm tỷ trọng lớn
2.1.1.3 Phân loại chi phí sản xuất trong hoạt động kinh doanh:
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất từng loại, từng nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Việc hoạch toán chi phí theo từng loại tiêu thức sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin, là cơ sở cho việc phấn đấu hạ chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cường công tác hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp
2.1.1.3.1 Phân loại theo yếu tố chi phí sản xuất:
Thực chất chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về sức lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động
Theo quy định hiện hành ở Việt Nam toàn bộ chi phí được chia thành 5 yếu tố sau:
Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chi phí tiền lương các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn: Là toàn bộ số tiền lương chính và tiền lương phụ phải trả cho người lao động, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao từ tài sản cố định sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc, phương tiện
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Tiền điện, điện thoại, tư vấn, kiểm toán
Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ chưa được tính vào các yếu tố trên
Phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý chi phí cũng như trong công tác kế toán Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu
tố chi phí để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự án chi phí sản xuất Cách
Trang 15phân loại này cho phép xem xét mối liên hệ tỷ lệ giữa quá trình lao động sống và lao động quá khứ, từ đó tính toán thu nhập, đánh giá khái quát tình hình tăng năng suất lao động của doanh nghiệp
2.1.1.3.2 Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm:
Dựa vào công cụ của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, chi phí được phân thành các khoản mục nhất định, các khoản mục này được dùng trong việc xác định giá thành sản lượng hàng hoá Việc phân loại chi phí theo cách này cho phép ta thấy được ảnh hưởng của từng loại khoản mục đến kết cấu của giá thành sản phẩm, đồng thời nó cung cấp được những thông tin cần thiết để xác định hướng và biện pháp hạ giá thành sản phẩm Theo cách này căn
cứ vào mục đích và công dụng kinh tế của chi phí để chia toàn bộ chi phí sản xuất thành 5 khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí về vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu, được sử dụng trực tiếp vào việc sử dụng sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ chi phí về tiền lương phải trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh
- Chi phí sản xuất chung: Là những khoản mục chi phí phục vụ cho sản
xuất của phân xưởng, bao gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng + Chi phí vật liệu
+ Chi phí dụng cụ sản xuất + Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí bán hàng: Là những chi phí cho bao bì, vật liệu bao bì, vận
chuyển, bảo quản đóng gói và tiếp tục quảng cáo
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí về tổ chức, về
quản lý hành chính, quản lý kinh tế và những chi phí chung khác trong phạm vi toàn doanh nghiệp
+ Chi phí vật liệu quản lý + Chi phí về đồ dùng văn phòng
Trang 16+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Thuế, phí và lệ phí + Dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài + Chi phí khác bằng tiền cho quản lý doanh nghiệp
Phân loại theo tiêu thức này có tác dụng phục vụ cho quản lý sản xuất theo định mức cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau Bởi vì ở cách phân loại này mỗi chi phí thể hiện điều kiện khác nhau của chi phí sản xuất, nơi phát sinh chi phí, đối tượng chịu chi phí, đồng thời nó tạo điều kiện cho việc xác định mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau lên giá thành sản phẩm phục vụ cho công tác kế hoạch, kế hoạch hoá và tính giá thành sản phẩm
2.1.1.3.3 Phân loại theo mối liên hệ với khối lượng công việc (quan hệ với doanh thu sản xuất kinh doanh):
- Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay
đổi của mức độ hoạt động
Chi phí biến đổi bao gồm các khoản chi phí : Chi phí tiền lương, BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn của công nhân ngoài ra còn có thêm chi phí nhiên liệu, chi phí động lực
- Chi phí cố định: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay
đổi khối lượng hoạt động thực hiện
Song trong những trường hợp doanh nghiệp đầu tư trang bị mới thì chi phí
cố định sẽ tăng lên đột ngột, vì lẽ đó khi nghiên cứu khái niệm cố định và biến đổi cũng chỉ là mang tính chất tương đối
1.1.3.4 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
* Căn cứ vào tính chất tham gia
- Chi phí sản xuất kinh doanh: Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt
động sản xuất, tiêu thụ và quản lý tài chính
- Chi phí hoạt động tài chính: Là những chi phí liên quan đến hoạt động về
vốn và đầu tư tài chính
Trang 17- Chi phí hoạt động bất thường: Gồm những chi phí ngoài hoạt động sản
xuất kinh doanh chính có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại
Với cách phân loại mang tính chất tham gia của chi phí sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm toàn bộ chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, chi phí bỏ
ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh là bao nhiêu? cho hoạt động tài chính?
Tức là các hoạt động liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp là bao nhiêu? Chi phí cho hoạt động bất thường không diễn ra thường xuyên, không dự tính được là bao nhiêu để doanh nghiệp có hướng cho hoạt động kinh doanh trong chu kỳ tiếp
* Căn cứ vào chức năng
- Chi phí sản xuất: Phát sinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm
trong phạm vi phân xưởng
- Chi phí tiêu thụ: Gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến
việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
- Chi phí quản lý: Gồm các chi phí quản lý tài chính, quản lý kinh
doanh và những chi phí quảnlý chung phát sinh liên quan đến hoạt động toàn doanh nghiệp
Khi chia chi phí căn cứ vào chức năng kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất trực tiếp đến từng đơn vị, phân xưởng sản xuất, chi phí tiêu thụ và chi phí quản lý doanh nghiệp để quản lý chi phí phát sinh ở từng khâu sản xuất, khâu tiêu thụ hay quản lý xí nghiệp nhằm giảm bớt chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Trong cách thức kết chuyển chi phí thì chi phí kinh doanh chia làm 2 loại:
- Chi phí sản phẩm: Là những chhi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm bớt lợi tức trong kỳ, chi
phí này gồm chi phí tiêu thụ và chi phí quản lý
Với 2 cách thức kết chuyển chi phí giúp cho doanh nghiệp nắm được chi phí bỏ ra cho một đơn vị sản phẩm là bao nhiêu và những chi phí là giảm lợi tức trong kỳ để từ đó cần giảm bớt hay có cách quản lý những chi phí đó một cách chặt chẽ
* Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và khối lượng sản phẩm hoàn thành
Trang 18- Định phí: Là những chi phí không thay đổi về tổng số dù có sự thay
đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng, sản phẩm công việc lao vụ sản xuất trong kỳ
- Biến phí: Là những chi phí có sự thay đổi của khối lượng sản phẩm
sản xuất trong kỳ
Cách chia chi phí thành 2 loại định phí và biến phí có tác dụng giúp cho doanh nghiệp biết được với mỗi khối lượng sản phẩm hoàn thành thì cần bao nhiêu chi phí cố định và bao nhiêu chi phí biến đổi, từ đó có hướng điều chỉnh các yếu tố chi phí cho hợp lý
Căn cứ vào mối quan hệ với quá trình sản xuất
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến việc chế
biến từng loại sản phẩm hay đối tượng nào đó
- Chi phí gián tiếp: Thường là chi phí chung phải phân bổ chia chi
phí theo quan hệ với quá trình sản xuất có tác dụng phân loại chi phí trực tiếp và gián tiếp nhằm phân bổ chi phí hợp lý và chính xác
Như vậy các cách phân loại trên có tác dụng rất lớn trong việc quản lý chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí, lập dự toán chi phí cho các kỳ kinh doanh tiếp theo
2.1.1.4 Các phương pháp hoạch toán chi phí:
2.1.1.4.1 Các phương pháp hoạch toán chi phí theo chi tiết hoặc bộ phận của sản phẩm
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo từng chi tiết hoặc bộ phận của sản phẩm, dịch vụ Khi áp dụng phương pháp hoạch toán chi phí theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm, dịch vụ thì giá thành sản phẩm, dịch vụ được xác định bằng tổng số chi phí của các chi tiết bộ phận cấu thành sản phẩm, dịch vụ Phương pháp này chỉ áp dụng ở những doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất cao, sản xuất ít loại sản phẩm hoặc mang tính đơn chiếc và có ít chi tiết hoặc bộ phận cấu thành sản phẩm dịch vụ
2.1.1.4.2 Phương pháp hoạch toán chi phí theo sản phẩm:
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo từng thứ sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm và quy định công nghệ sản xuất Nếu quá trình chế biến sản phẩm qua nhiều phân xưởng khác nhau thì các chi phí được tập hợp theo từng
Trang 19phân xưởng trong đó các chi phí trực tiếp được phân loại theo từng sản phẩm
Các chi phí sản xuất chung được tập hợp và phân bổ cho từng sản phẩm theo tiêu chuẩn cho phối hợp
Khi áp dụng hoạch toán chi phí theo từng sản phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp tổng cộng chi phí Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt và khối lượng lớn
2.1.1.4.3 Phương pháp hoạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm:
Các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo nhóm sản phẩm cùng loại Khi áp dụng phương pháp hoạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm thì giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp liên hợp, tức là sử dụng đồng thời một số phương pháp: Phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ, Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có quy cách khác nhau
2.1.1.4.4 Phương pháp hoạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Theo phương pháp này thì các chi phí phát sinh được tập hợp và phân loại theo đơn đặt hàng riêng biệt Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí tổng hợp theo đơn đặt hàng đó là giá thành thực tế của sản phẩm khối lượng công việc hoàn thành theo đơn đặt hàng Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc như doanh nghiệp chế tạo, vận tải, sửa chữa, đóng tàu, đơn vị xây lắp
2.1.1.4.5 Phương pháp hoạch toán chi phí theo đơn vị sản xuất:
Các chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị sản xuất (tổ, phân
xưởng, ) trong mỗi đơn vị sản xuất, các chi phí được tập hợp theo mỗi đối
tượng chi phí, chi tiết, sản phẩm, nhóm sản phẩm Khi áp dụng phương pháp hoạch toán chi phí theo đơn vị sản xuất thì giá thành sản phẩm có thể xác định bằng phương pháp tính trực tiếp, tổng cộng, hệ số tỷ lệ, Phương pháp này có tác dụng cung cấp thông tin một cách đầy đủ và chi phí cho việc quản lý doanh nghiệp
2.1.1.4.6 Phương pháp hoạch toán chi phí theo toàn bộ dây chuyền sản xuất:
Chi phí phát sinh ở phương pháp này sẽ được tập hợp theo dây chuyền sản xuất Giá thành sản xuất ở đây sẽ được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp tổng cộng chi phí Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp có dây chuyền sản xuất giản đơn, ít loại sản phẩm
2.1.1.4.7 Phương pháp hoạch toán chi phí theo giai đoạn công nghệ:
Trang 20Trong từng giai đoạn công nghệ, chi phí được tập hợp và phân loại theo từng sản phẩm hoặc bán thành phẩm Phương pháp này áp dụng cho doanh nghiệp mà toàn bộ công nghệ sản xuất được chia làm nhiều giai đoạn công nghệ
và nguyên vật liệu chính được chế biến một cách liên tục từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối theo một trình tự nhất định
2.1 2 Giá thành:
2.1.2.1 Khái niệm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động và lao động vật hoá có liên quân đến việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm, dịch vụ nhất định
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác quản lý của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu giá thành có thể xác định được hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân tài, vật lực trong doanh nghiệp cũng như đánh giá một cách cơ sở các biện pháp tổ chức quản lý, kỹ thuật và doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hình thành các dịch vụ cho khách hàng
Giá thành là giới hạn bù đắp chi phí, là căn cứ để xác định khả năng bù đắp chi phí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, là xuất phát điểm để xác định giá cả, cước phí dịch vụ,
2.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm:
Do giá thành s/p là chỉ tiêu kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động SXKD nên phấn đấu không ngừng hạ thấp giá thành s/p là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của công tác quản lý kinh tế, quản lý gía thành của doanh nghiệp
2.1.2.2.1 Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành:
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu để tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số chi
phí sản xuất kế hoạch và số lượng kế hoạch, việc tính toán xác định giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính toán giá
Trang 21thành định mức cũng được tiến hành trước khi tiến hành quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất thực tế đã phát sinh và được tập hợp trong kỳ Giá thành sản phẩm thực tế chỉ có thể tính được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm được chia làm 2 loại:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là toàn bộ hao phí của các
yếu tố dùng để tạo ra sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung trích cho những sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng hóa và lãi gộp của mỗi doanh nghiệp sản xuất
- Giá thành toàn bộ (giá thành sản phẩm tiêu thụ): Bao gồm giá thành sản
xuất cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được tính toán xác định khi sản phẩm, công việc lao vụ được tiêu thụ giá thành toàn bộ sản phẩm là căn cứ để tính toán xác định kết qủa kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.2.3 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành là phương pháp tính toán xác định giá thành của đơn vị của từng loại sản phẩm, công việc hoàn thành theo các khoản mục giá thành
2.1.2.3.1 Phương pháp trực tiếp( giản đơn):
Giá thành của s/p Giá trị Chi phí Giá trị SP
lao vụ, dịch vụ = SP dở dang + SX KD - dở dang
hoàn thành trong kỳ ĐK P/S trong kỳ cuối kỳ
Phương pháp tính trực tiếp áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cũng chính là đối tượng giá thành, phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp có số lượng mặt hàng ít, chu kỳ sản xuất ngắn như dịch vụ vận tải bới tính chất đặc thù của vận tải và sự phù hợp giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Mặt khác áp dụng phương pháp này sẽ cung cấp kịp thời số liệu về giá thành dịch vụ trong mỗi kỳ báo cáo được giản đơn, dễ dàng
2.1.2.3.2 Phương pháp tổng cộng chi phí:
Trang 22Z = C1 + C2 + + Cn
- Z là giá thành của sản phẩm,lao vụ, dịch vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ
- C1, C2, ,Cn là chi phí sản xuất kinh doanh giai đoạn 1,2, ,n
Phương pháp trên được áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các giai đoạn công việc, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm, lạo vụ, dịch vụ hoàn thành
2.1.2.3.3 Phươngpháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc, sản phẩm làm ra chủ yếu theo đơn đặt hàng của khách hàng, theo phương pháp này đối tượng hoạch toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng, đối tượng giá thành là từng loại sản phẩm trong đơn đặt hàng đó
Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất hoặc nhóm sản phẩm còn đối tượng tính giá thành là những sản phẩm
2.1.2.3.4 Phương pháp liên hợp:
Có thể tính giá thành sản phẩm dịch vụ theo phương pháp liên hợp bằng cách kết hợp nhiều phương pháp tính giá thành Có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp hệ số và tỷ trọng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm đối tượng tính giá thành là sản phẩm Có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp tổng cộng chi phí trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ sản phẩm còn đối tương tính giá thành là sản phẩm hoàn chỉnh
2.1.2.3.5 Phương pháp hệ số :
Giá thành từng thứ sản phẩm
SP trong nhóm
Số lượng SP thực
tế từng thứ SP trong nhóm
x
Hệ số quy đổi
về SP t/chuẩn cho từng thứ SP trong nhóm
Trang 232.1.2.3.6 Phương pháp tính giá thành định mức:
Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp đã có các định mức kinh tế, kỹ thuật tương đối ổn định và hợp lý, chế độ quản lý theo định mức đã được kiện toàn và có nề nếp, trình độ tổ chức và nghiệp vụ chuyên môn
kế toán tương đối cao, đặc biệt là thực hiện tốt chế độ thanh toán ban đầu
Tổ chức hoạch toán số chi phí thực hiện sao cho phù hợp với định mức và
số chi phí sản xuất chênh lệch thoát ly định mức Giá thành định mức có thể là toàn bộ các chi tiết cấu thành nên sản phẩm, dịch vụ, được tập hợp riêng và thường xuyên phân tích nguyên nhân, những khoản chi phí thoát ly định mức để
có biện pháp khắc phục Khi có sự thay đổi định mức phải kịp thời tính toán lại giá thành định mức và số chi phí chênh lệch do thoát ly định mức
Giá thành = Giá thành Chênh lệch Chênh lệch thực tế định mức do thay đổi do thoát ly định mức định mức
Chênh lệch do thay đổi định mức được xác định căn cứ vào các chứng từ báo động chênh lệch do thay đổi định mức Chênh lệch này ít khi xảy ra, chỉ khi nào nhà nước thay đổi định mức thì mới phát sinh khoản này
Chênh lệch do thoát = Chi phí thực tế - Chi phí định mức
ly định mức ( theo khoản mục) ( theo khoản mục)
Trang 242.1.2.3.8 phương pháp tính loại trừ giá trị sản phẩm phụ:
Giá thành = GTrị SP + CP SX KD - GT SP - G/Trị
Dở dang ĐK PS trong kỳ dở dang CK SP phụ Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp mà trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất, vừa thu được sản phẩm chính, vừa thu được sản phẩm phụ Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính đã hoàn thành Giá trị sản phẩm phụ có thể tính theo chi phí kế hoạch( định mức) hoặc tính theo chi phí thực tế phát sinh
2.2 Nội dung phân tích và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
2.2.1 Nội dung phân tích giá thành:
2.2.1.1 Phân tích giá thành toàn bộ:
- Phân tích giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
- Phân tích giá thành thực tế năm trước và năm sau
- Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố
+ Sản lượng + Kết cấu + Cấu thành đơn vị
- Phân tích các khoản mục, yếu tố chi phí trong giá thành đơn vị
2.2.1.2 Các phương pháp phân tích giá thành:
+ Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành: Chuẩn bị cho năm
kế hoạch, các doanh nghiệp thường lập kế hoạch giá thành nhằm xác định rõ quy
mô chi phí sản xuất, nhằm tiết kiệm, tăng lợi nhuận Dựa vào cơ sở đi sâu phân tích đề ra phương hướng hạ giá thành cho các sản phẩm, sản xuất và khoản mục chi phí hợp lý nhất trong kế hoạch giá thành để đề ra 2 mục tiêu:
+ Mức hạ giá thành: Phản ánh quy mô chi phí tiết kiệm
+ Tỷ lệ hạ giá thành: Phản ánh tốc độ hạ giá thành
Trang 25Trình tự phân tích:
- So sánh số thực tế và số kế hoạch
- So sánh từng loại sản phẩm
- So sánh từng yếu tố khoản mục chi phí sản xuất
* Phân tích các yếu tố chi phí sản xuất
+ Trong giá thành sản xuất gồm 5 yếu tố chi phí
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp, BHXH, BHYT,KPCĐ
- Chi phí khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí bằng tiền khác Mục đích của việc phân tích các yếu tố chi phí sản xuất là để thấy được tình hình biến động của các yếu tố chi phí đó và sự tác động của nó đến giá thành sản xuất sản phẩm như thế nào?
- Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu:
Là so sánh tổng chi phí nguyên vật liệu thực tế với tổng chi phí với tổng chi phí nguyên vật liệu tính theo giá thành kế hoạch để thấy được tình hình biến động về mặt tổng số tăng hay giảm để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng giảm bớt nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm
- Phân tích chi phí nhân công:
So sánh tổng chi phí nhân công trực tiếp thực hiện với tổng chi phí tính theo kế hoạch từ đó thấy được tình hình biến động, xác định nhân tố ảnh hưởng, tìm nguyên nhân:
+ Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp + So sánh mức lương kế hoạch với mức lương kế hoạch sản phẩm + Số chênh lệch chi phí tiền lương do năng suất lao động của người lao động trực tiếp sản xuất
Khoản mục chi phí tổng tiền lương của sản phẩm, tiền lương của một sản phẩm bằng khối lượng sản phẩm sản xuất
- Phân tích khoản mục chi phí sản xuất chung
+ Chi phí cố định
Trang 26+ Chi phí biến đổi
So sánh chi phí thực tế với chi phí theo kế hoạch đối với chi phí cố định Đối với chi phí biến đổi: So sánh chi phí thực tế đã được điều chỉnh theo
số lượng thực tế khi phân tích cần tiến hành điều chỉnh các biến phí theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
- Phân tích chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp:
Là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức quản lý, điều hành
+ Chi phí quản lý nhânviên bán hàng + Chi phí văn phòng phẩm, điện thoại + Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ quản lý…
2.2.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với nhau Chi phí biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất
Giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất đã hoạch toán được và khối lượng công việc đã hoàn thành trong kỳ Chúng là hai mặt thống nhất của một quá trình sản xuất kinh doanh
*Giống nhau: Chúng đều biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra trongkỳ sản xuất sản phẩm
- Giá thành sản phẩm được tính bằng cách lấy chi phí sản xuất chi ra trong
kỳ nằm trong giá thành kỳ này cộng với chi phí sản xuất chi ra ở trong kỳ trước nằm trong giá thành ở kỳ này nhưng lại không bao gồm chi phí sản xuất chi ra ở
kỳ này được tính và giá thành ở kỳ sau ( dở dang cuối kỳ)
Tổng GTSP = CP SX dở dang ĐK + CP SX P/sinh trong kỳ - CP SX dở dang
CK Như vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trong kỳ nhất định thì giá thành sản phảm lại là tổng hợp những chi phí chi ra gắn liền với
Trang 27việc sản xuất và hoàn thành một khối lượng công việc dịch vụ nhất định được nghiệm thu thanh toán Giá thành sản phẩm không bao gồm chi phí cho khối lượng dở dang cuối kỳ, những chi phí không liên quan đến hoạt động sản xuất, những chi phí chi ra chờ phân bổ cho kỳ sau nhưng nó lại bao gồm những chi phí sản xuất cuối kỳ trước chuyển sang, những chi phí trích trước vào giá thành nhưng thực tế chưa phát sinh và những chi phí kỳ trước phân bổ cho kỳ này
Ngoài ra hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là 2 bước công việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau Tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở,
số liệu để tính giá thành sản phẩm và tính giá thành sản phẩm là mục đích của tổng hợp chi phí sản xuất Sự chính xác đầy đủ của công tác hoạch toán chi phí sản xuất quyết định tính chính xác của công tác giá thành Vấn đề tiết kiệm hay lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm thấp hay cao
2.3 Các phương hướng giảm giá thành sản phẩm
Việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng là tăng năng suất lao động xã hội, từ đó giảm giá trị hàng hoá, làm cho giá bán của sản phẩm trên thị trường cũng giảm xuống Do đó sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ nhanh hơn, làm tăng nhanh vòng quay của vốn
Hạ giá thành sản xuất, chế tạo sản phẩm là giảm các chi phí sản xuất, tiết kiệm lao động sống,lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời làm tăng sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Hiện nay có rất nhiều biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm khác nhau đang được áp dụng trong từng doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể tại các doanh nghiệp để đưa ra những biện pháp khác nhau
2.3.1 Phương hướng tiết kiệm chi phí vật tư, nhiên liệu
Thông thường chi phí vật tư, nhiên liệu chiếm một tỷ trọng rất lớn trong giá thành sản phẩm Vì vậy nếu tiết kiệm được một tỷ lệ nhỏ chi phí tiêu hao vật
tư, nhiên liệu thì giá thành sản phẩm cũng giảm đáng kể, góp phần làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp
Để giảm bớt chi phí vật tư nhiên liệu thì có nhiều giải pháp khác nhau
Nhưng chủ yếu tập trung vào hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến mức chi phí nguyên vật liệu là: Định mức tiêu hao vật tư nhiên liệu và đơn giá thu mua vật tư
Trang 28Nếu gọi: Cv: Là chi phí tiêu hao vật tư nhiên liệu cho một đơn vị SP
Mth: Là định mức tiêu hao vật tư
Pv: Là đơn giá thu mua vật tư
Ta có công thức:
Cv = Mth x Pv
Như vậy để giảm được chi phí vật tư nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩm
Ta sử dụng các giải pháp nhằm làm giảm mức tiêu hao vật tư, nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩm hoặc giảm đơn giá thu mua Trong hai nhân tố thì định mức tiêu hao vật tư, nhiên liệu là nhân tố mang nhiều tính chủ quan hơn, nên thường được doanh nghiệp quan tâm hơn cả Nhân tố đơn giá vật tư, nhiên liệu mang tính chất khách quan nhiều hơn, nhưng nếu kiểm soát tốt nhân tố này doanh nghiệp sẽ thu được mức tiết kiệm nhiều hơn, trong chi phí bỏ ra ít hơn
Hướng biện pháp này đang được hầu hết các doanh nghiệp sản xuất áp dụng và tương đối hiệu quả
2.3.2 Phương hướng tăng năng suất lao động
Mục tiêu của biện pháp này là tăng sản lượng trên một đơn vị thời gian, nhằm giảm tỷ trọng tiền lương trong giá thành sản phẩm, giảm chi phí cố định bình quân cho một đơn vị sản phẩm Hướng biện pháp này căn cứ trên cơ sở giá thành xây dựng được chia theo công thức sau:
AC =
Q
FC
+ AVC
Trong đó: AC: Là chi phí chung cho một đơn vị sản phẩm
FC: Là tổng chi phí cố định trong một kỳ sản xuất SP Q: Là tổng sản lượng trong kỳ
AVC: Là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm
Trong đó: W: Là năng suất lao động trên một đơn vị thời gian
Q: Là sản lượng T: Là thời gian hao phí t: Là thời gian hao phí cho một đơn vị sản phẩm
Trang 29Theo hai công thức trên, khi sản phẩm “Q” tăng lên thì hiệu số giữa chi phí cố định trên sản lượng và hiệu số giữa tiền lương trên sản lượng sẽ giảm xuống, như vậy giá thành đơn vị sản phẩm sẽ đạt mức tối thiểu khi sản lượng đạt điểm tối ưu
Để tăng sản lượng, doanh nghiệp phải cần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, làm tăng năng suất sử dụng triệt để công suất và hiệu quả của dây chuyền công nghệ song song với việc nâng cao sản lượng, doanh nghiệp phải mở rộng thị trường tiêu thụ bằng các phương pháp kích thích tiêu thụ, nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường, tránh tồn kho gây nên tình trạng ứ đọng vốn
Muốn vậy doanh nghiệp luôn phải chú trọng đến chất lượng của sản phẩm, phát triển công tác dịch vụ sau bán để đảm bảo, bảo vệ quyền lợi tiêu dùng cũng như uy tín của doanh nghiệp
2.3.3 Phương hướng tiết kiệm chi phí chung
Phương hướng này nhằm giúp cho doanh nghiệp có khả năng tiết kiệm được các loại chi phí như: chi phí về điện, nước, tiền lương nhân viên phân xưởng nguyên vật liệu phụ dùng chung cho phân xưởng và các chi phí bằng tiền khác
Do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên phương pháp này khá đa dạng và phong phú, đối với từng doanh nghiệp, đối tượng cụ thể mà đề ra những giải pháp mang tính linh hoạt cho doanh nghiệp
Trang 30Phần 3
Phân tích thực trạng giá thành của mỏ than vàng danh
3.1 Đối tượng và phương pháp tính giá thành thực tế:
3.1.1 Đối tượng tính giá thành:
Mỏ than Vàng Danh là doanh nghiêph khai thác, chế biến và kinh doanh than trong đó: Khai thác than hầm lò 90%, khai thác lộ thiên 10% Sản phẩm của
mỏ là từ khai thác than nguyên khai, sau đó chế biến thành các loại than sạch như: than cám các loại, từ cám 1 đến cám 6, than cục các loại từ + 15mm đến 180mm Vì vây, đối tượng tính giá thành của Mỏ chính là than nguyên khai
3.1.2 Phương pháp xác định giá thành thực tế:
Do đặc thù của Mỏ than là doanh nghiệp khai thác, sản phẩm là than nên sản phẩm của mỏ đặc thù là không có nguyên vật liệu chính mà chỉ có vật liệu phụ
Chính vì vậy, Mỏ đã áp dụng phương pháp tính giá thành trực tiếp ( giản đơn)
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ trực tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ Nhưng do Mỏ sản xuất không có sản phẩm dở dang nên tổng chi phí tập hợp trong kỳ bằng giá thành sản phẩm hoàn thành
Z = C Trong đó : Z : tổng giá thành
Chi phí phát sinh trong kỳ
3.2 Phân tích đánh giá chung tình hình thực hiện giá thành sản xuất than nguyên khai
Trong quá trình hoạt động sản xuất sản phẩm ta chỉ có thể tiến hành so sánh giữa tổng giá thành thực tế với tổng giá thành kế hoạch, là nhằm đánh giá khái quát tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành, để thấy được ưu, nhược điểm trong công tác quản lý giá thành và qua đó chỉ ra được nhược điểm cần thiết của công tác quản lý giá thành Khi phân tích đánh giá đối với chỉ tiêu giá thành là nhân tố chất lượng, còn nhân tố sản lượng là nhân tố số lượng Do đó khi nghiên cứu biến động của nó, ta phải cố định nhân tố số lượng ở kỳ thực tế, để đánh giá chính xác công tác quản lý giá thành của doanh nghiệp
Trang 31Nhằm phục vụ cho các nội dung phân tích trong phần này, căn cứ vào các
số liệu thu nhập được trong thời gian thực tập theo các báo cáo của phòng kế hoạch và phòng tài chính kế toán, ta đi lập bảng tổng hợp giá thành than nguyên khai của Mỏ than Vàng Danh như sau:
Bảng 3
Phân tích giá thành sản xuất than nguyên khai
Năm 2004 của Mỏ than Vàng Danh
7 -6.433.454.233
1.Tiền lương 41.199.900.000 34.427.985.45
1 -6.771.914.549
2 Trích BHYT, KPCĐ, BHXH 3.243.000.000 3.581.460.316 338.460.316
Trang 32-Theo số liệu thu nhập được qua bảng 3, ta thấy tình hình thực hiện kế hoạch giá thành kế hoạch giá thành năm 2004 như sau:
Bảng 4 tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành than nguyên khai
QKH04 QTT04 ZTT03 ZKH04 ZTT04
Than nguyên khai 600.000 525.450 208.969 187.256 185.075
Dựa vào bảng 4 qua tính toán và phân tích ta lập được bảng phân tích tình hình thực hiện giá thành than nguyên khai của Mỏ than năm 2004 theo bảng 5
Căn cứ vào số liệu và kết quả tính toán được ở bảng 5 ta có thể dánh giá khái quát tình hình thực hiện giá thành than nguyên khai năm 2004 của Mỏ như sau:
So sánh với kế hoạch đặt ra, giá thành thực tế than nguyên khai của Mỏ năm 2004 hạ được 665.112.988 đồng Tương ứng với tỷ lệ là 0,68% kết quả này cho biết Mỏ đã có nhiều cố gắng trong quản lý sản xuất nói chung và công tác quản lý giá thành nói riêng Bởi vì hạ được giá thành sản phẩm có nghĩa là trong năm 2004 Mỏ đã tiết kiệm được chi phí sản xuất như: Vật tư lao động, nhiên liệu, động lực cũng như tiền vốn trong quá trình sản xuất sản phẩm Trên cơ sở
đó Mỏ đã làm tăng lợi nhuận và hoàn thành tốt kế hoạch giá thành than nguyên khai
Trang 343.3 Phân tích tình hình chi phí cho 1.000 đồng sản phẩm của Mỏ than Vàng Danh năm 2004:
Trong sự nghiệp phát triển mạnh mẽ của xã hội, các doanh nghiệp hoạt động theo nền kinh tế sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, nhu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá ngày càng đa dạng, vì vậy doanh nghiệp luôn phải đưa ra thị trường các sản phẩm mới, do đó nếu chỉ phân tích giá thành của sản phẩm so sánh được thì sẽ không đầy đủ Do vậy chúng ta phải phân tích cho 1.000 đồng sản phẩm hàng hoá Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
000.1xxPQ
xZQF
i i
1 i
Trong đó:
Qi: Là khối lượng sản phẩm hàng hoá i ( tính bằng đơn vị hiện vật)
Zi: Là giá thành đơn vị sản phẩm hàng hoá i
Pi :Là giá bán đơn vị sản phẩm hàng hoá i F: Là chi phí cho 1.000 đồng sản lượng hàng hoá i
Chỉ tiêu này phản ánh: Cứ 1.000 đồng doanh thu thì chi phí về giá thành sản phẩm hết bao nhiêu đồng, chỉ tiêu này càng thấp chứng minh hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng lớn
Do vậy doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để giảm chỉ tiêu này
Ta đi phân tích chỉ tiêu chi phí cho 1.000 dồng sản phẩm than nguyên khai của mỏ Vàng Danh năm 2004 theo bảng tổng hợp sau:
Trang 35Bảng 6 Bảng tổng hợp khối lượng, giá thành đơn vị, giá bán đơn vị
sản phẩm than nguyên khai năm 2004
Tên sản phẩm
Căn cứ vào bảng 6 trước tiên ta đi xác định đối tượng phân tích và đánh giá chung theo công thức:F = Ftt - FKH
000.1xxPQ
xZQ
F
tti tti
tti i
tt tt
000.1xxPQ
xZQ
F
k h i
k h i
k h i i
FKH, Ftt: Là chi phí cho 1.000đ sản lượng hàng hoá kỳ kế hoạch và kỳ thực tế
QKHi, Qtti: Là khối lượng sản phẩm hàng hoá i kỳ kế hoạch và kỳ thực tế
PKHi, Ptti: Là giá bán đơn vị sản phẩm hàng hoá i kỳ KH và kỳ thực tế
Ta có:
FKH =
540.205x000.600
256.187x000.600
x 1.000 = 911 (đồng)
Ftt =
686.206x450.525
075.185x450.525
x 1.000 = 895 (đồng)
Chỉ tiêu này phản ánh: cứ 1.000 đ doanh thu từ than nguyên khai theo kế hoạch thì mỏ phải chi phí về giá thành sản phẩm là 911 đồng, trên thực tế để có 1.000đ doanh thu từ than nguyên khai thì mỏ phải chi phí hết 895đ
Trang 36Như vậy mức chênh lệch giá giữa thực tế và kế hoạch sẽ là:
F = Ftt - FKH = 895 - 911 = - 16(đồng) Qua tính toán ta thấy, chỉ tiêu chi phí cho 1.000đ sản lượng than nguyên khai của mỏ năm 2004, thực tế so với kế hoạch giảm 16 đồng
Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức giảm của chỉ tiêu này trong năm là: ảnh hưởng của nhân tố sảnlượng, nhân tố cơ cấu của khối lượng sản phẩm hàng hoá, nhân tố ảnh hưởng giá thành sản phẩm và giá bán đơn sản phẩm, ảnh hưởng của từng nhân tố được xác định như sau:
3.3.1 Nhân tố sản lượng (F (q) ):
Trong quá trình phân tích các nhân tố ảnh hưởng ta thấy không cần phân tích ảnh hưởng của nhân tố sản lượng, vì vậy sản lượng phản ánh quy mô chỉ tiêu chi phí cho 1.000đồng sản lượng hàng hoá đã giới hạn, quy mô ở 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hoá
3.3.2 Nhân tố cơ cấu sản lượng: (F (cc) )
000.1xP
ZxQ
QP
ZxQ
QF
khi tti khi
khi khi
tti tti
075.185450.525
x
x
-
540.205000.600
256.187000.600
3.3.3 Nhân tố giá bán đơn vị sản phẩm (F (P) )
000.1xP
ZxQ
QP
ZxQ
QF
khi tti tti
tti khi
tti tti
tti )
P (
075.185x450.525686
.206x450.525
075.185x450
F(P) = ( 0,895 - 0,900) x 1.000 = - 5đồng
Do nhân tố giá bán đơn vị than nguyên khai của mỏ than năm 2004 tăng 1.146 đồng/tấn so với kế hoạch, làm cho chỉ tiêu chi phí cho 1.000 đồng sản lượng than nguyên khai giảm 16 đồng
3.3.4 Tổng hợp sự ảnh hưởng các nhân tố đến chi phí cho 1.000 đồng sản lượng