1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ THI và đáp án môn bộ LUẬT HÌNH sự năm 2019

15 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 29,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM ĐỀ THI KẾT THỨC HỌC PHẦN MÔN BỘ LUẬT HÌNH SỰ LỚP HÌNH SỰ 07 Thời gian làm bài 75 phút Thí sinh chỉ được sử dụng VBQPPL để làm bài thi CÂU I Nhận định đúng sai (4 điểm) 1 Khô.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

ĐỀ THI KẾT THỨC HỌC PHẦN MÔN: BỘ LUẬT HÌNH SỰ LỚP: HÌNH SỰ 07 Thời gian làm bài 75 phút

Thí sinh chỉ được sử dụng VBQPPL để làm bài thi

CÂU I: Nhận định đúng sai (4 điểm)

1 Không phải Mọi trường hợp chuẩn bị phạm tội hiếp dâm đểu phải chịu trách nhiệm hình sự?

=> Nhận định này Đúng Vì căn cứ K3 Đ8 Bộ luật Hình sự Việt Nam về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt biệt nghiêm trọng và căn

cứ vào K1 Đ17 Bộ luật Hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội thì: Nếu người chuẩn bị phạm tội hiếp dâm thuộc K1 Đ111 BKHS Việt Nam thì không phải chịu trách nhiệm hình sự vì đây là tội nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt là 7 năm tù

2 Việc phân biệt giữa lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp trong khi áp dung luật hình sự chỉ có ý nghĩa đối với việc quy định hình phạt mà không có ý nghĩa đối với việc định tội?

=> Nhận định này Sai Vì khi áp dung luật hình sự lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp không phải chỉ có ý nghĩa đối với việc quy định hình phạt mà còn có ý nghĩa đối với việc định tội Ví dụ:Tội bức tử(Đ100 Bộ luật Hình sự Việt Nam) nếu người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp làm nạn nhân xử tự sát thì xử theo Đ100 Bộ luật Hình sự Việt Nam Nếu người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp đối với hậu quả làm nạn nhân chết thì sẽ bị xử lý theo Đ93 Bộ luật Hình sự Việt Nam

3.Hành vi vi phạm các quy định an toàn giao thông vận tải chỉ cấu thành tội theo Điều 202 Bộ luật Hình sự Việt Nam khi hành vi đó gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng?

=> Nhận định này Sai Vì căn cứ khoản 4 Điều 202 Bộ luật Hình sự Việt Nam thì

có những hành vi chưa gây ra hậu quả nhưng có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì cấu thành tội phạm

Trang 2

theo Điều 202 Bộ luật Hình sự Việt Nam Ví dụ: người bẻ ghi đường sắt đã không thực hiện nhiệm vụ của mình (do ngủ gật) song có người phát hiện và bẻ ghi để 2 đoàn tàu không đâm vào nhau Trong trường hợp này mặc dù chưa có hậu quả (tai nạn) xảy ra nhưng người bẻ ghi vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hinh sự theo K4 Điều 202 Bộ luật Hình sự Việt Nam

4 Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp lý có giá trị bắt buộc làm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự.

=> Nhận định này Sai Bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện Tuy nhiên không phải mọi các hành vi phạm tội đều không bị xử lí hình sự khi có bãi nại Căn cứ vào Điều 155 BLTTHS 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại (hoặc đại diện người bị hại) đối với 10 tội danh được quy định Điều luật này quy định Vì thế, bãi nại chỉ có giá trị pháp lí bắt buộc làm chấm dứt quan

hệ PL hình sự đối với một số tội danh do luật định mà thôi

CÂU II (3 điểm)

Chiều ngày 17 tháng 9 năm 2020, Đ cùng C đang ngồi uống nước thì có một em bé mời mua vé số C lấy 30.000 đồng mua 3 tờ vé số Trong khi C trả tiền thì Đ nhận lấy 3 tờ vé số từ người bán đút và cất vào túi quần của mình và nói: “Để tôi cầm cho may mắn, nếu trúng thưởng thì tối nay lại nhậu nhé” C chỉ cười và không có phản ứng gì Sáng hôm sau khi dò vé số biết trúng thưởng, Đ đã đi nhận thưởng 6

tỷ đồng đồng rồi gọi điện cho C nói: “3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” rồi đi mua một chiếc xe máy Sau đó Đ mời C đến nhà liên hoan khao xe mới C nghi ngờ, đi hỏi và biết được 3 vé số mà mình mua trúng thưởng trị giá 6 tỷ đồng C yêu cầu Đ trả lại số tiền trúng thưởng nhưng Đ kiên quyết từ chối và nói dối là vé không trúng thưởng nên đã xé bỏ C đề nghị cơ quan công an điều tra và vụ việc được xác định đúng như đã nêu trên

Câu hỏi

1 Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao? (1 điểm)

2 Tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao? (1 điểm)

Trang 3

3 Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện (1 điểm)

A CƠ SỞ PHÁP LÝ.

– Chủ thể của tội phạm: chủ thể thường, đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ

– Khách thể của tội phạm: quan hệ sở hữu đối với tài sản

– Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: tài sản trị giá 6 tỷ đồng – Điều 139 bộ luật hình sự

B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1 Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?

Hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự; có thể khẳng định như vậy vì những lý do sau:

Xét điều 139 Bộ luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội này được quy định như sau:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị

từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

Trang 4

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng

* Về chủ thể của tội phạm: trong trường hợp này ta coi như Đ đã đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự

* Khách thể của tội phạm: Quan hệ sở hữu đối với tài sản, trong tình huống này thì khách thể tội phạm do Đ thực hiện là quan hệ sở hữu của C với tài sản là tấm vé số trúng thưởng trị giá 6 tỷ đồng

* Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Về dấu hiệu pháp lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối

+ Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: gồm hai hành vi khác nhau đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật

Cụ thể trong trường hợp này, Đ đã có hành vi lừa dối C, khi biết tấm vé số trúng thưởng lẽ ra Đ phải trả lại cho chủ của tấm vé là C nhưng Đ đã đi nhận thưởng và nói dối với C là tấm vé không trúng thưởng Hành vi gian dối thứ hai là khi C sau khi được Đ mời ăn liên hoan mua xe máy mới đã nghi ngờ và đi dò thì biết tấm vé của mình trúng thưởng, Đ lại tiếp tục gian dối bằng cách nói dối là vé không trúng

Trang 5

thưởng nên đã xé bỏ Đ đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa C,

Hình thức của hành vi lừa dối: Hành vi lừa dối ở trong trường hợp này thể hiện qua lời nói, Đ đã gọi điện cho C và nói “ 3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” và tiếp tục nói dối là đã xé bỏ vé số vì không trúng thưởng

Hành vi chiếm đoạt : Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, ở đây là Đ, Đ đã giữ lại tài sản là phần thưởng trị giá 6 tỷ đồnglẽ ra phải giao cho C Vì đã tin vào thông tin mà Đ cung cấp là tấm vé

số không trúng thưởng nên C đã không nhận giải, ngay từ đầu tình huống, Đ đã yêu cầu giữ hộ tấm vé cho may mắn và C đã tin tưởng giao cho Đ Trường hợp này, tội phạm hoàn thành ngay khi Đ gọi điện cho C và nói tấm vé không trúng thưởng( trước đó đã tự ý đi nhận thưởng mà không nói với C)

>> Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối

+ Hậu quả: Hậu quả do hành vi của Đ gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất, ở đây là C đã bị mất số tiến là 6 tỷ đồngmà

lẽ ra C phải được hưởng do bỏ tiền ra mua vé số

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng, trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác gọi là kết quả Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 6 tỷ đồnglà kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay khi hành vi lừa dối được hoàn thành

* Mặt chủ quan của tội phạm: Đ đã đưa ra thông tin giả là tấm vé không trúng thưởng với mục đích là để C tin đó là sự thật và từ bỏ quyền sở hữu của mình với tấm vé số.( tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra khi tấm vé số đã trúng thưởng,

Trang 6

còn khi tấm vé số không trúng thưởng thì giá trị của tấm vé số không đủ để cấu thành tội, luật quy định phải từ 2.000.000đ trở lên, trong khi 3 tờ vé có giá là 30.000đ) Đ đã đưa ra thông tin giả để C tin đó là sự thật

+ Động cơ và mục đích phạm tội: Trường hợp này, động cơ và mục đích phạm tội của Đ có tính chất tư lợi, lấy tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp,người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, ở đây Đ đã có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả (C hoàn toàn tin là tấm vé mình mua không trúng thưởng) để có thể chiếm đoạt được tài sản, Đ đã có chủ tâm chiếm đoạt tài sản của C và hành động để biến mục đích của mình được thực hiện

– Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích, ở đây

là mong muốn chiếm được 6 tỷ đồngcủa Đ, và hậu quả xảy ra đúng với mục đích của Đ

– Về lý trí: Ở đây Đ nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và thấy trước được hậu quả của hành vi phạm tội của mình

=> Từ những căn cứ pháp lý và các dấu hiệu của tội phạm nêu trên, ta kết luận hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139, bộ luật hình sự

2 Tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao?

Trang 7

Để có thể xác định tội mà Đ thực hiện mà ở đây là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành vật chất hay hình thức thì ta căn cứ vào những đặc điểm của cấu thành tội vật chất và hình thức để phân biệt:

* CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả

và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Đối với dấu hiệu hậu quả (và cùng với nó là dấu hiệu mối quan hệ nhân quả) ở loại CTTP này lại được quy định theo hai mức độ khác nhau:

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành Ở loại CTTP này, nhà làm luật không trực tiếp đưa dấu hiệu hậu quả vào trong CTTP mà hậu quả được quy định gián tiếp thông qua cách quy định về hành vi phạm tội

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội Ở dạng CTTP này, nhà làm luật trực tiếp đưa hậu quả vào các quy định của CTTP với ý nghĩa là điều kiện xác định những trường hợp thoả mãn CTTP của loại tội đó, loại trừ những trường hợp hành

vi không cấu thành tội phạm

=> Cấu thành tội phạm vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan gồm hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả

* Cấu thành tội phạm hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội CTTP hình thức là CTTP chỉ có một dấu hiệu của mặt khách quan được mô tả trong CTTP là dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong CTTP hình thức không có dấu hiệu hậu quả cũng như quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Do đặc điểm của CTTP hình thức như vậy mà quan hệ tâm lí của người phạm tội với các dấu hiệu của tội phạm có CTTP hình thức có điểm khác căn bản so với tội phạm có CTTP vật chất Căn cứ vào những khái niệm và đặc điểm của CTTP nêu trên, ta có thể khẳng định tội mà Đ phạm phải (lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự) có CTTP vật chất Ta thấy ở mặt khách quan của tội mà Đ phạm, có đầy đủ dấu hiệu như hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Ở đây, hậu quả còn là yếu tố bắt buộc để định tội Đ, giả sử tấm vé Đ giữ không trúng thưởng,

vì một lý do gì đó C đòi lại nhưng Đ không trả thì cũng không thể định tội Đ mặc

dù ở đây có yếu tố lừa dối, do đó hậu quả là yếu tố bắt buộc trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong trường hợp của Đ, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định

Trang 8

tội, vì nếu lừa đảo nhưng không hay chưa chiếm đoạt được tài sản thì cũng không thể định tội danh được; hành vi của Đ lừa dối đi đến kết quả là lấy được số tiền trúng thưởng của C, và kết quả đã hoàn thành

Không thể khẳng định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành hình thức vì CTTP hình thức chỉ xét đến hành vi, lỗi đã là lỗi cố ý trực tiếp, xét riêng hành vi đã thấy được hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù hậu quả có thể xảy ra hay không xảy ra vì những điều kiện khách quan Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc

dù lỗi cũng là lỗi cố ý trực tiếp nhưng phải tính đến yếu tố “chiếm đoạt tài sản”, nghĩa là xảy ra hậu quả tài sản bị chiếm đoạt thì mới định tội danh được, hành vi lừa dối trong trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Vậy tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất

3 Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện

Để xác định khung hình phạt cho tội mà Đ đã thực hiện, trước hết, xét đến tội mà

Đ phạm phải được quy định trong điều 139 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 139 như sau : “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị… , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” vì tài sản

mà Đ chiếm đoạt là tấm vé số trúng thưởng 6 tỷ đồngnên không thể xác định khung hình phạt cho Đ theo khoản 1

Theo khoản 2, điều 139:

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất nguy hiểm;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Trang 9

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Khung hình phạt cho tội của Đ được xác định theo điểm e, khoản 2, điều 139, với tình tiết làm tăng nặng tội là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị trong khoảng từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng mà cụ thể trong tình huống này, tài sản mà Đ chiếm đoạt là tấm vé số đạt giải của C với trị giá lên đến 6 tỷ đồngđồng Vậy khung hình phạt cho Đ là từ hai cho đến bảy năm tù giam, định mức khung hình phạt theo điểm e, khoản 2, điều 139

CÂU III (3 điểm)

A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H Theo sự phân công của nhóm,

C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa Chúng hẹn nhau 10 giờ đêm tập kết ở địa điểm X Đến giờ hẹn, C đem thanh sắt đến địa điểm X như đã thỏa thuận nhưng chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về nhà ngủ A và B đến chỗ hẹn quá muộn nên không gặp được C, nhưng vẫn quyết định đi lấy tài sản theo kế hoạch và

đã lấy được tài sản giá trị 80 triệu đồng Do không đi lấy tài sản nên C chỉ được A

và B chia cho 5 triệu đồng, C chê ít không lấy và cũng không nói gì về vụ trộm với bất cứ ai Sau một tháng vụ việc bị phát hiện

CÂU HỎI:

1 A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại sao? (1 điểm)

2 Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại sao? (1 điểm)

3 Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H, A và B đã mang số tài sản đó bán cho K

và K đã mua lại số tài sản này Vậy, K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (1 điểm)

BÀI LÀM:

Trang 10

1 A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại sao?

Trả lời : A,B và C là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản trên

Giải thích :

Theo điều 20, BLHS : “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm.”

Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi có 2 dấu hiệu:

– Có từ 2 người trở lên:

Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tính chất của đồng phạm Chủ thể trong trường hợp này buộc có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể tội phạm đó là: có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS Trong tình huống trên: “ A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H » tức là ở đây đã có 3 người đó là A, B và C và họ đã có hành vi « bàn nhau

» lên kế hoạch trộm cắp tài sản nhà ông H thì họ đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trộm cắp tài sản nhà ông H là thiệt hại về tàn sản của ông H Đề bài không đề cập gì thêm, tức là A,B, C có khả năng điều khiển được hành vi của mình Vì vậy, A,B,C đều có năng lực trách nhiệm hình sự

– Cùng thực hiện tội phạm một cách cố ý: nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong 4 hành vi sau: Hành vi thực hiện tội phạm,

hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm

và hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm Lúc đầu cả A, B, C đã bàn bạc, thỏa thuận và thống nhất với nhau cùng thực hiện hoạt động: trộm cắp tài sản của nhà ông H Thêm vào đó thì C đã còn được phân công mang theo một thanh sắt để

Ngày đăng: 11/10/2022, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w