Chủ đề: Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trọng thời kì quá độ lên XHCN đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượ
Trang 1Chủ đề: Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần trọng thời kì quá độ lên XHCN
đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng
Trang 2cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất
có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “ xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của
sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển
1.1.2 Quan hệ sở hữu tác động đến kinh tế nhiều thành phần
Đi trả lời câu hỏi: Tại sao đang đề cập tới “Tư tưởng HCM về thành phần kinh tế
Trang 3lại đề cập tới vấn đề của Mac về LLSX và QHSX”?
Trước tiên thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh té dựa trên 1 hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế tồn tại ở những hinihf thức tổ chức kinh tế
nhất định, tròn đó căn cứ vào quan hệ sở hữu nào thống trị để xác định
từng thành phần kinh tế Cho nên ta sẽ căn cứ theo học thuyết Mác về LLSX và
QHSX,vì quan hệ sở hữu là nội dung quan trọng nhất của QHSX Đó là quan hệ kinh tế giữa người với người trong sự chiếm hữu hay nói các khác là hình thức
xã hội của sự chiếm hữu của cải
Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen vào nhau, tác động qua lại với nhau, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và biểu hiện
Trang 42 Bài học kinh nghiệm từ Liên Xô
2.1 Đặc điểm kinh tế Liên Xô:
2.1.1 Xuất phát điểm của Liên Xô
Tình trạng kinh tế của nước Nga Xô viết sau nội chiến vô cùng tồi tệ: “Hậu quả
của nội chiến đạt tới mức độ khổng lồ”, tình trạng phân tán và tản mạn của những
người sản xuất, sự nghèo đói, vô văn hoá và mù chữ của họ, mối liên hệ trao đổi
hàng hóa giữa thành thị và nông thôn bị ngừng trệ Nội chiến những năm
1918-1920 làm khánh kiệt đất nước, cản trở công việc tái thiết lực lượng sản xuất vốn đã
bị tàn phá nặng nề Thêm vào đó là nạn mất mùa năm 1920, nạn dịch súc vật; vì
Trang 5vậy tăng thêm những vùng bị đói, việc đó lại càng cản trở việc khôi phục giao
thông và công nghiệp
Vì vậy, sau nội chiến, Lê-nin đã kịp thời thay đổi chủ trương, chuyển từ cái gọi
là “chủ nghĩa cộng sản thời chiến” sang chính sách kinh tế mới
Để phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới hình thành, cần phải kiên quyết duy trì nền kinh tế nhiều thành phần Điều đó có nghĩa là, ngoài phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa mới chỉ phôi thai và về nguyên tắc, được công nhận là có vai trò chủ đạo, cần phải cho phép tồn tại những phương thức sản xuất khác và hơn nữa cần phải phát triển ở mức độ nhất định một số thành phần kinh tế khác Trong khi vận dụng chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin đã dùng từ “quá độ” để chỉ rõ trong nền kinh tế của nước Nga khi đó “có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội”
Trang 62.1.2 Chính sách kinh tế mới:
Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga, V.I.Lê-nin - lãnh tụ thiên tài
của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đề xướng với Đảng việc áp
dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) và đã được Đại hội chấp thuận
Nội dung chính sách kinh tế mới – NEP :
Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa
mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên
hệ kinh tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với
nông thôn, và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân
Thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế.Các thành
phần kinh tế nằm trong 1 cơ cấu kinh tế thống nhất Trong đó Leenin đặc biệt
nhấn mạnh vai trò, tác dụng của nền kinh tế tư bản nhà nước, đó là thứ chủ
Trang 7nghĩa tư bản mà ¾ là chủ nghĩa xã hội Lenin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước là
chiếc cầu trung gian để đưa nước tiểu nông lên CNXH
Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích
lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực
để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong
những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa
Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp
chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kê
kiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội,
trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về
chính trị
Trang 8Ý nghĩa của chính sách kinh tế mới đối với các nước quá độ đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN
Quá độ đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng không
thể xóa bỏ phát triển hàng hóa và kinh tế thị trường
Xác định và sử dụng các thành phần kinh tế, trong đó có các hình thức
kinh tế quá độ
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ kinh tế giữa khu vực thành thị và khu vực
nông thôn, thực chất là mối quan hệ giữa hai giai cấp công nhân và nông dân
Nền kinh tế nhiều thành phần là nét đặc trưng của thời kỳ quá độ Đầu thế kỷ
XX, ở nước Nga khi đó có những thành phần kinh tế sau đây:
“1 Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự
nhiên;
2 Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mỳ);
Trang 93 Chủ nghĩa tư bản tư nhân;
4 Chủ nghĩa tư bản nhà nước;
5 Chủ nghĩa xã hội”
2.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Nga:
Theo Lênin, nếu như “chủ nghĩa cộng sản thời chiến” trước đây được rất nhiều người trong Đảng hiểu như là một chính sách cần phải được tiếp tục trong chặng đường tiếp theo của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì thực tế đã cho thấy, sau chiến tranh, không thể tiếp tục con đường đó, bởi nó đối lập Đảng với quần chúng nhân dân, công nhân với nông dân và chỉ làm trầm trọng thêm nền kinh tế vốn đã hoang tàn của đất nước
Tháng 2 năm 1921, tại Hội nghị lần thứ XI, Đảng Cộng sản Nga đã nhất trí thông qua chính sách kinh tế mới.Đảng đã quyết định áp dụng ở nước
Trang 10Nga Xôviết những biện pháp khẩn cấp, kiên quyết nhằm cải thiện tình cảnh của nông dân và phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn
Thế nhưng, không phải tất cả những người Bônsêvích đều ủng hộ chính
sách kinh tế mới, trong dư luận xã hội vẫn còn có nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề này Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu đúng thực chất của
chính sách kinh tế mới Bởi lẽ, một số người cho rằng, chính sách kinh tế
mới chỉ là biện pháp nhất thời; số người khác lại coi đó chỉ là thời kỳ khôi
phục kinh tế đất nước sau nội chiến; số thứ ba thì nhìn nhận đó là tổn thất
của cách mạng, là sự chệnh hướng sang tư bản chủ nghĩa Chỉ có một số
người hiểu đúng rằng, chính sách kinh tế mới là một trong những hình thức, phương thức hợp lý nhất để chuyển từ “chế độ cộng sản thời chiến” sang chủ
nghĩa xã hội
Trang 112.2 Các thành phần kinh tế mà Lê-nin xây dựng:
2.2.1 Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng
2.2.2 Sản xuất hàng hóa nhỏ
2.2.3 Chủ nghĩa tư bản tư nhân
2.2.4 Chủ nghĩa tư bản nhà nước
2.2.5 Chủ nghĩa xã hội
2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Với V.I.Lênin, chính sách kinh tế mới là sự kết hợp nhiều hình thức sở hữu khác nhau và do vậy, trong nó có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các quan hệ sản xuất khác nhau Đường lối phát triển này là sự củng cố từ từ
Trang 12nhằm tăng cường phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trong công nghiệp
và nông nghiệp để nó đủ khả năng phục hồi kinh tế đất nước và sau đó, phát triển nhanh lực lượng sản xuất ở nước Nga Xôviết
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhận thức và vận dụng sáng tạo chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin vào điều kiện lịch sử - cụ thể của nước ta Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đặc trưng của cơ cấu kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đưa ra chủ trương chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế nhiều thành phần Nếu thời kỳ trước đổi mới, ở nước ta chỉ có một thành phần kinh tế là “thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể”, thì giờ đây, phải “bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong
sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội
Trang 133, Thực tiễn Việt Nam
3.1 Xuất phát điểm của nước ta đi lên CNXH là bắt đầu từ nước nông nghiệp
lạc hậu
3.1.1.Lực lượng sản xuất thủ công
Lực lượng sản xuất thủ công của nước ta thể hiện ở: công cụ lao động
thủ công, chưa áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, tư liệu lao
động thủ công, số lao động còn ít, trình độ thấp
3.1.2.Kết cấu kinh tế xã hội phức tạp
Đặc điểm Hồ Chí Minh khẳng định lớn nhất khi nước ta bước vào quá
Trang 14tư bản chủ nghĩa Do vậy lực lượng sản xuất còn ở trình độ thủ công,
tính chất cá nhân hóa Đặc điểm này thâu tóm đầy đủ những mâu
thuẫn, khó khăn, phức tạp và chi phối tất cả những đặc điểm khác, thể
hiện trong tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy
sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu { đến mâu
thuẫn cơ bản của thời kz quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát
triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế xã
hội quá thấp kém của nước ta
Trong tình trạng đó, nước ta còn xảy ra tình trạng quan liêu hóa làm
ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển của kinh tế và xã hội: kinh tế
phát triển thụ động, thiếu linh hoạt, các nguồn lực không được khai
thác hiệu quả, sản xuất kém do trình độ của lực lượng sản xuất còn
thấp
Trang 153.2.Việt Nam không kinh qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa
3.2.1.Các loại hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đối với các nước kinh tế lạc hậu như Việt Nam thì cũng có thể quá độ thẳng lên CNXH không cần qua giai đoạn phát triển TBCN Đây gọi là
quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN Loại hình này phản
ánh quy luật phát triển nhảy vọt của TBCN Song đối với loại hình này
phải có đầy đủ những điều kiện:
o Phải có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến để
xây dựng CNXH đặc biệt là về vốn, công nghệ và kinh nghiệm
quản lý
Trang 16o Giai cấp vô sản đó phải giành được chính quyền, phải có Đảng
lãnh đạo và phải xây dựng được khối đoàn kết công nông vững
chắc
3.2.2.Nhận thức lại sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất
Trong thời lì quá độ lên CNXH, do mắc sai lầm chủ quan duy ý chí, muốn có ngay chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã vi phạm quy luật khách
quan là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
được tiến hành rập khuôn theo mô hình Liên Xô (một nước đi lên chủ
nghĩa xã hội với xuất phát điểm cao hơn nước ta rất nhiều), thủ tiêu
kinh tế thị trường, duy trì nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, chỉ
Trang 17quan hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, kết quả là kinh tế bị
suy thoái nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn
Nước ta cũng mắc phải sai lầm khi tiến hành quan hệ sản xuất tiên tiến rồi mới thúc đẩy lựa chon lực lượng sản xuất phát triển, biến đổi theo,
điều đó không phù hợp với lý luận của Mác
3.3.Chiến tranh tàn phá
3.3.1.Tác động của chiến tranh đến nước ta
Sau chiến tranh, nước ta bị tàn phá nặng nề, đời sống nhân dân khổ
cực, toàn bộ khu công nghiệp, hệ thống giao thông thủy lợi bị phá hủy
hoàn toàn
3.3.2.Tác động của chiến tranh đến lực lượng sản xuất
Trang 18Chiến tranh còn gây ra sự xáo trộn trong phân bố lực lượng sản xuất,
và các vấn đề xã hội như tệ nạn xã hội, số người thất nghiệp đặc biệt là
số người mù chữ chiếm tỉ lệ cao, khiến cho trình độ của lực lượng sản
xuất càng thấp kém
4.HỒ CHÍ MINH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
4.1
4.1.1 HCM là người đầu tiên chủ trương cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
HCM chủ trương xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần để xây dựng QHSX phù hợp với trình độ và tính chất LLSX còn thấp kém ở nước ta
Theo HCM,trong điều kiện nước ta sản xuất nhỏ lạc hậu,có chiến tranh,cho nên phải phát triển nhiều thành phần kinh tế.Tạo điều kiện
Trang 19cho các thành phần kinh tế phát triển nước ta lúc này trước hết là tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội.Nền sản xuất nhỏ, lạc hậu,năng suất lao động thấp,sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu xã hội Trong khi
đó ,kẻ thù đánh phá quyết liệt, bao vây cô lập cách mạng Việt Nam Để đảm bảo cuộc sống nhân dân, để cung cấp cho cuộc kháng chiến ngày cáng phát triển, tất yếu chúng ta phải phát triển nhiều thành phần kinh
tế, giúp tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng phong phú
4.1.2)HCM xác định các thành phần kinh tế của nước ta
Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quá độ luôn luôn vận động, phát triển trong mối quan hệ, tác động qua lại, đan xen trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, trên cơ sở vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trong nền
Trang 20thành phần kinh tế có bản chất và những quy luật hoạt động riêng, dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất, có khả năng tái sản xuất một cách tương đối độc lập lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng Khả năng tái sản xuất là điều kiện tồn tại và vận động của mỗi thành phần kinh tế Chính xu hướng mở rộng hay thu hẹp khả năng tái sản xuất quy định vai trò và triển vọng của mỗi thành phần kinh tế trong nền sản xuất xã hội Tuy nhiên, các thành phần kinh tế không tồn tại một cách biệt lập, mà có mối quan hệ và tác động qua lại, đan
xen
4.2 Các thành phần kinh tế ở nước ta
4.2.1 Các thành phần kinh tế còn tồn tại ở nước ta
Một là: - Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô Đây là thành phần kinh
tế của chế độ xã hội phong kiến Trong đó, giai cấp địa chủ chiếm ruộng đất và nông cụ nhưng không cày cấy, "không nhắc chân đụng tay mà lại
Trang 21cửa cao nhà rộng, phú quý phong lưu" còn nông dân phải mướn ruộng của địa chủ phải nộp tô, phải hầu hạ "nông dân không khác gì nô lệ" Trong chế
độ mới, thành phần kinh tế đó đã lỗi thời, chỉ còn là tàn dư Nhưng để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phục vụ chiến lược giải phóng dân tộc, nhằm thu hút số địa chủ vừa và nhỏ theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến, Hồ Chí Minh không chủ trương xóa bỏ thành phần kinh tế này mà chỉ thực hiện giảm tô, giảm tức, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho kháng chiến
Hai là: - Kinh tế quốc doanh: gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh của nhà nước, là của chung nhân dân, phục vụ lợi ích của xã hội Đây là thành phần kinh tế ra đời trong chế độ dân chủ mới, có vai trò đáp ứng yêu cầu
to lớn và quan trọng của toàn xã hội, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Theo Hồ Chí Minh, kinh tế quốc doanh 7 là "nền tảng