TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM? LIÊN HỆ TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Họ tên học viên Lớp , 2022 M.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN
SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM? LIÊN HỆ TẠI
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Một số vấn đề chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam 2
2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam 4
Trang 3MỞ ĐẦU
“Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba - văn minh trí tuệ Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại thông tin Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo, thương mại tin học Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản
vô tính đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới
và toàn bộ xã hội loài người đưa con người đi vào thời đại kinh tế tri thức Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ tri thức Việt Nam vẫn đang là một trong những nước nghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới Do đó phát triển kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức, kinh tế sô để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới” [4, tr.78]
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng nhanh chóng như hiện nay, quốc gia nào muốn phát triển phải đi nhanh vào nền kinh tế tri thức và kinh tế số Bởi vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số là bước đi tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua Vì vậy,
nghiên cứu vấn đề “Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam? Liên hệ tại Ngân hàng nhà nước” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc
Trang 4NỘI DUNG
1 Một số vấn đề chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam
* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hoá được định nghĩa và có nhiều quan niệm khác nhau song
nó thường được hiểu là “một quá trình gắn liền với việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế nhằm thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định Ở thế kỷ XVII, XVIII khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Những khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm công nghiệp hoá nói riêng mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lý luận
và thực tiễn” [5, tr.210]
Kế thừa và chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và từ thực tiễn công nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VI và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [1, tr.90]
Như vậy công nghiệp hoá là “một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác
có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc
Trang 5tế Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học công nghệ ngày càng hiện đại” [5, tr.211]
* Kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức là “nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình Trong nền kinh tế công nghiệp, việc tạo ra giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là dựa vào sự tối ưu hoá, hoàn thiện cái đã có; còn trong kinh tế tri thức thì tạo ra giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do tìm ra cái chưa biết; cái chưa biết là cái có giá trị nhất Tìm ra cái chưa biết, tạo ra cái mới cũng tức là loại trừ cái đã biết Vòng đời của một sản phẩm, một công nghệ từ lúc nảy sinh, phát triển, chín muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn Tốc độ đổi mới rất nhanh chóng” [3, tr.45]
Nền kinh tế tri thức hình thành và phát triển là “nhờ năng lực sáng tạo của con người, năng lực tạo ra tri thức mới và vận dụng tri thức, biến tri thức thành của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và phát triển xã hội Sáng tạo và đổi mới là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là nguồn gốc của nền kinh tế tri thức ngày nay Tài nguyên là có hạn, năng lực sáng tạo của con người là vô hạn; một khi nền kinh tế dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người, thì khả năng của nền kinh tế là hết sức to lớn Các nước phát triển đi tới kinh tế tri thức là một quá trình tự nhiên hợp qui luật; các nước đi sau ý thức được sự vượt trội của kinh tế tri thức so với kinh tế công nghiệp, đã chủ động đề
ra chiến lược, chính sách, giải pháp để phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình công nghiệp hóa Phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số là xu thế phát triển tất yếu khách quan, lôi cuốn tất cả các quốc gia, không loại trừ ai Kinh tế tri thức đang tạo ra những điều kiện và khả năng mới để Việt Nam rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [3, tr.46]
* Kinh tế số ở Việt Nam
Kinh tế số là “toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số Phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh
Trang 6doanh mới Dựa trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ
số (trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT) Kinh tế số tạo ra không gian phát triển mới, mở ra cơ hội cho Việt Nam phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển mới bắt đầu quá trình chuyển đổi số Nhờ những nỗ lực khởi động chương trình chuyển đổi số quốc gia, quy mô kinh tế số của Việt Nam đạt 14 tỷ USD (năm 2020), đóng góp 5% GDP và đứng thứ hai ASEAN về tốc độ tăng trưởng kinh tế số (sau Indonesia)” [3, tr.48]
Việt Nam là “quốc gia có tỷ trọng tổng giá trị hàng hóa kinh tế số lớn nhất trong khu vực, đạt 4% GDP; đứng thứ 2 là Singapore 3,2% GDP; Indonesia 2,9% GDP; Thái Lan và Malaysia 2,7% GDP; Philippines 1,6% GDP (năm 2020) Đối với quy mô nền kinh tế số, Việt Nam xếp thứ 3 trong khu vực, đạt giá trị 9 tỷ USD (sau Indonesia và Thái Lan)” [3, tr.49]
2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam
Nền kinh tế của nước ta trong quá trình phát triển gặp rất nhiều khó khăn:
“chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, sự chủ quan ỷ lại của lãnh đạo trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh bằng máy móc dập khuôn mô hình kinh tế Liên Xô cũ Bởi vậy, trong một thời gian nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng trì trệ và lạc hậu.Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa lại được tiến hành sau một loạt nước trong khu vực và trên thế giới Đó là một khó khăn và thiệt thòi lớn nhưng đồng thời nó cũng tạo ra cho chúng ta những thuận lợi nhất định Khó khăn là trang thiết bị của chúng ta đã bị lạc hậu đến 40,50 năm so với các nước tiên tiến trên thế giới Còn thuận lợi được thể hiện trước hết ở chỗ thông qua những kinh nghiệm thành công và không thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” [5, tr.87]
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, “để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng ổn định, nước ta phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện
Trang 7đại cho các ngành kinh tế, quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hóa.
Để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, Việt Nam phải tìm cho mình một con đường đặc thù, vừa phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội trong nước vừa bảo đảm xu thế phát triển chung của thế giới” [5, tr.102] Theo dự thảo báo cáo chính trị của đại hội XIII của Đảng dự kiến từ nay đến năm 2045 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đây là lối thoát duy nhất cho nền kinh tế Việt Nam song cũng là một thách thức mới Tuy nhiên “điểm xuất phát công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là tiền công nghiệp với những đặc điểm chủ yếu là nền kinh tế dựa vào các hoạt động thương mại khai thác tài nguyên lao động, quản lý còn nặng về kinh nghiệm Mặt khác nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là bộ phận của kinh tế nông thôn Kinh tế nông thôn nước ta chủ yếu là kinh tế thuần nông Nhìn một cách tổng quát, nếu xét về chỉ tiêu kinh tế như tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là khoa học kĩ thuật và công nghệ, mức sống của nhân dân thì Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, khó khăn và lạc hậu, đang ở trình độ văn minh nông nghiệp” [5, tr.160]
“Để tiến hành sản xuất lớn, hiện đại, nước ta phải thực hiện quá trình công nghiệp hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số Đây là một quá trình nhảy vọt của lực lượng sản xuất và của khoa học kĩ thuật Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, lực lượng sản xuất phát triển một cách mạnh mẽ
cả về số lượng và chất lượng, chủng loại và quy mô Lực lượng sản xuất được tạo ra trong thời kỳ này là cái cốt vật chất kĩ thuật rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nó làm thay đổi cách thức sản xuất chuyển người lao động từ sử dụng công cụ thủ công sang sử dụng công cụ cơ giới và nhờ đó làm mà sức lao động của con người được giải phóng, năng xuất lao động xã hội ngày càng tăng, sản phẩm xã hội được sản xuất ra ngày càng nhiều, càng đa dạng và phong phú, đáp ứng được ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân” [5, tr.163]
Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng đã chỉ ra: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn
Trang 8quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [2, tr.78] Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta không có nghĩa là chuyển ngay sang các ngành công nghệ cao để
có cơ cấu kinh tế như các nước phát triển đã đạt tới, mà thực thi chiến lược phát triển dựa vào tri thức, thực chất là vận dụng tri thức mới vào tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế, làm tăng nhanh giá trị gia tăng; giảm tiêu hao nguyên liệu và lao động; tăng hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm; dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa, sớm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Từ một nền kinh tế nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chúng ta phải tiến thành đồng thời hai quá trình: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp; chuyển từ kinh tế nông - công nghiệp lên kinh tế tri thức và kinh tế số Trong khi ở các nước đi trước, đó là hai quá trình kế tiếp nhau, thì ở nước ta, tận dụng cơ hội là nước đi sau, hai quá trình này được lồng ghép với nhau, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức là gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh
tế tri thức và kinh tế số
Trong đó nhất thiết phải bắc được những “nhịp cầu trung gian” để thực hiện những bước chuyển quá độ Đây là cả một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp Trong khi đối với các nước đi trước, để thực hiện bước chuyển này chỉ
là hai quá trình kế tiếp nhau, còn đối với nước ta để thực hiện bước phát triển
“rút ngắn” đòi hỏi phải “kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt Một mặt, tận dụng lao động, cơ sở vật chất hiện có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập Mặt khác, đi thẳng vào hiện đại ở những khâu, những lĩnh vực, những ngành có lợi thế, phát triển các ngành, các vùng kinh tế mũi nhọn tạo thành đầu tầu có sức kéo lôi mạnh toàn bộ nền kinh tế đi lên” [5, tr.198]
Nhiệm vụ trung tâm là “sử dụng tri thức mới của thời đại kết hợp với sáng tạo tri thức mới để nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
Trang 9nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ hàm lượng tri thức cao, giá trị gia tăng cao trên cả ba hướng tăng cường sử dụng tri thức để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp và nông thôn; đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong các ngành công nghiệp và dịch vụ truyền thống; tập trung sức để phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào công nghệ cao Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, thiết lập
hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu - động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế tri thức Chú trọng đặc biệt năng lực nghiên cứu cơ bản để tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới Đồng thời, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và quản lý khoa học - công nghệ, phát triển mạnh thị trường khoa học - công nghệ, thiết lập
hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu” [4, tr.120]
3 Liên hệ tại Ngân hàng nhà nước
Thời gian qua, nhằm triển khai các định hựớng, chính sách của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia đến năm
2025, định hướng đến năm 2030”, “Ngân hàng Nhà nước đã rà soát, ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ, cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở bảo đảm an ninh, an toàn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng Nhờ vậy, chuyển đổi số ngành ngân hàng đã có những bước tiến mạnh mẽ, mở rộng quy mô và phạm vi, được ghi nhận bằng nhiều thành quả tích cực Điển hình, nhiều dịch vụ ngân hàng đã có thể thực hiện hoàn toàn trên kênh số (thanh toán, tiền gửi, tiết kiệm) đáp ứng nhu cầu giao dịch trực tuyến, mọi lúc mọi nơi của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh giãn cách xã hội để phòng ngừa dịch Covid-19” [6, tr.50]
Ngoài ra, “thanh toán trên thiết bị di động tăng trưởng mạnh; các ngân hàng Việt Nam được đánh giá có mức độ ứng dụng ngân hàng số với tốc độ nhanh nhất trong khu vực Thêm vào đó, Ngân hàng Nhà nước xếp vị trí số 2 về chỉ số chuyển đổi số (DTI) đối với bộ ngành, trong đó chỉ số kiến tạo thể chế xếp thứ nhất 2 năm liên tiếp được xếp hạng A về công tác bảo đảm an toàn thông tin” [6, tr.51]
Trang 10Bên cạnh những kết quả đạt được, “chuyển đổi số cũng đặt ra cho ngành Ngân hàng nhiều thách thức trong vấn đề hoàn thiện các quy định pháp lý, đồng bộ,
và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng để kết nối, tích hợp tạo lập hệ sinh thái số, thay đổi về nhu cầu, hành vi khách hàng, đảm bảo an ninh an toàn và bảo mật dữ liệu khách hàng” [6, tr.53] Để phát huy những kết quả đạt được, vượt qua các khó khăn, thách thức, nhằm tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số và đảm bảo an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng, Thống đốc vừa ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các đơn vị thuộc, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trụng gian thanh toán tập trung triển khai có hiệu quả 5 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể
Thứ nhất, “chủ động triển khai quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải
pháp nêu tại Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc” [6, tr.54]
Thứ hai, “nâng cao nhận thức của các tập thể, cá nhân trong ngành Ngân
hàng về vai trò, lợi ích của hoạt động chuyển đổi số Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp về chỉ đạo triển khai chuyển đổi số trong cơ quan, tổ chức, lĩnh vực được phụ trách” [6, tr.55]
Thứ ba, “tiếp tục chú trọng và tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an
toàn, giảm thiểu tối đa các rủi ro phát sinh trong quá trình cung ứng, thực hiện các hoạt động ngân hàng trên môi trường số” [6, tr.55]
Thứ tư, “tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến kiến
thức, giáo dục tài chính, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp hiểu rõ và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số một cách an toàn, đúng quy định pháp luật” [6, tr.56]
Thứ năm, “thúc đẩy các hoạt động hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và nghiên
cứu, ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng để phát triển, cung ứng
đa dạng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích, an toàn, tăng cường trải nghiệm khách hàng và đáp ứng tốt nhu cầu và kỳ vọng ngày càng cao của người dân, doanh nghiệp” [6, tr.56]