Chức năng của luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh từ góc độ nghiên cứu so sánh pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của một số quốc gia - giải pháp hoàn thiện cho Việt Nam
Trang 2T R Ư Ờ N G ĐẠI H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
C H U Y Ê N N G À N H LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
6Dltà£:
CHỨC NĂNG CỦA LUẬT Tư TRONG VIỆC BẢO VỆ TRẬT Tự CẠNH TRANH TỪ GÓC ĐỘ NGHIÊN cứu so SÁNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỦA MỘT sô QUỐC GIA - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện Lớp
Khóa Giáo viên hướng dẫn
Dương Thị Phượng Anh 2
44
TS Bùi Nguyên Khánh
Í Y.O^O^
im
Trang 3MỤC LỤC LỜI NÓI ĐÀU Ì CHƯƠNG 1: MỘT SÒ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN c ơ BẢN VÈ CHỨC NĂNG
CỦA LUẬT Tư TRONG VIỆC BẢO VỆ TRẬT Tự CẠNH TRANH 5
/ MỘT SÒ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN so SÁNH PHÁP LUẬT TRONG LĨNH vực
CẠNH TRANH K H Ô N G LÀNH MẠNH (CTKLM) 5
1.1 Khái quát về pháp luật chống C T K L M 5
1.1.2.1 T r o n g mối quan hệ với quyền tự do cạnh tranh 7
1.1.2.2 Hành v i C T K L M theo Công ước Paris 8
1.1.2.3 Hành v i C T K L M và chuẩn mực về đạo đức kinh doanh 9
1.1.3 Các hành v i C T K L M l i
1.1.3.1 Những hành v i xâm hại lợi ích của đối thù cạnh tranh l i
1.1.3.2 Những hành v i xâm hại lợi ích cùa khách hàng 13
Ì 2 M ô hình pháp luật về chống C T K L M 15
Ì 2.Ì M ô hình xây dựng đạo luật về chống C T K L M 15
1.2.2 M ô hình sử dụng quy định trong Bộ luật Dân sự 16
1.2.3 M ô hình không có các quy định đặc biệt về Cạnh tranh 17
1.3 Vị trí của pháp luật về chống C T K L M trong hệ thống pháp luật kinh tế 18
Ì 4 M ố i quan hệ giữa pháp luật về chống C T K L M với luật chuyên ngành 19
Ì 4 Ì Trong quan hệ với pháp luật chống H C C T 19
1.4.2 Trong mối quan hệ với pháp luật về sỦ hữu trí tuệ 20
Ì 4.3 Trong m ố i quan hệ với pháp luật bảo vệ ngưỦi tiêu dùng 22
Ì 5 X u hướng phát triển của pháp luật về chống C T K L M Ủ các nước trên thế giới 22
1.5.1 X u hướng đa dạng hóa thiết chế thực thi 22
1.5.2 X u hướng đa dạng hóa hệ thống chế tài 24
1.5.3 X u hướng hài hòa hóa pháp luật về chống C T K L M trong các khối kinh tế,
khu vực 26
li MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN so SÁNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ CHỨC N Ă N G
C Ủ A LUẬT TƯ 28
2.1 Khái quát về Luật tư 28
2.2 Chức năng cùa Luật tư và chức năng của Luật công trong việc x ử lý các hành v i
C T K L M 29 2.2.1 Chức năng của Luật công trong việc bảo vệ trật t ự cạnh tranh 29
2.2.2 V a i trò của Luật tư trong việc bào vệ trật t ự cạnh tranh 31
Trang 42.2.3 Vai trò cùa Luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh
CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG CỦA LUẬT TƯ TRONG LĨNH vực
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở MỘT SÒ QUỐC GIA TIÊU
BIÊU
ì QUYÊN TIẾP CẬN CÔNG LÝ
Ì Ì C ơ chế khởi kiện cá nhân
Ì 2 C ơ chế khới kiện tập thể
li THIẾT CHÉ THỰC THI
2.1 Tòa án
2.1.1 Chức năng của Tòa án
2.1.2 Thẩm quyền cùa Tòa án trong việc x ử lý các hành v i C T K L M theo Luật
Cạnh tranh 2004 51 2.1.2.1 Thẩm quyền cùa Tòa án đối v ớ i việc khởi kiện quyết định giải quyết
k h i ế u nại về quyết định x ử lý vụ việc cạnh tranh 52
2.1.2.2 Thẩm quyền của toa án đối với các khiếu kiện đòi bồi thưấng thiệt hại do
hành v i C T K L M gây ra 54
2.2 Thương lượng và hòa giải 54
2.2 Ì Thương lượng 55 2.2.2 Hòa giải 56 2.3 C ơ chế tự quản 57
ni TRÁCH NHIỆM DÂN sự CHO H À N H VI CTKLM 59
3 Ì Bồi thưấng thiệt hại và cơ sấ pháp lý của bồi thưấng thiệt hại 60
3.1.1 Thiệt hại trong C T K L M 61
3.1.1.1 Sự cần thiết phải xác định thiệt hại 62
3.1.1.2 Bản chất cùa thiệt hại 62
3.1.1.3 Đánh giá thiệt hại 63
3.1.2 Hành v i C T K L M 64 3.1.3 L ỗ i trong C T K L M 65
3.1.4 M ố i quan hệ nhân quả giữa hành v i C T K L M và thiệt hại 66
CHƯƠNG 3: MỘT SÒ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHỨC NÂNG
CỦA LUẬT TƯ VÈ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
HỆ THÔNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 67
ì CÁC QUY ĐỊNH VẺ PHÁP LUẬT CHỐNG CTKLM 67
Ì Ì D ự liệu các hành v i C T K L M chưa được đề cập trong L C T 2004 67
Ì 2 Đ ố i tượng áp dụng (địa chi áp dụng) 70
37 37 43
47 48
Trang 51.3 Quyền khởi kiện tập thể 71
Ì 4 Nhu cầu hướng dẫn thi hành các quy định về chống CTKLM 73
Ì 5 Đảm bào sự hài hòa, tính tương thích giữa các luật liên quan 75
Ì 7 Tính quốc tế trong việc áp dụng pháp luật quốc gia 76
Ì 8 Pháp luật CTKLM phải đảm bảo hội nhập với pháp luật quốc tế và khu vực 78
li HOAN THIỆN P H Á P LUẬT V È BỒI T H Ư Ờ N G THIỆT HẠI DO H À N H VI
2.1 Cách xác định thiệt hại thực tế cừa người bị vi phạm 81
2.2 Cách xác định thiệt hại trên cơ sở lợi nhuận bị đơn thu được từ hành vi vi phạm.82
2.3 Xác định những tồn thất về cơ hội kinh doanh cừa người bị thiệt hại 83
2.4 Xác định chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại 84
2.4 Ì Chi phí ngăn chặn và hạn chế thiệt hại 84
2.4.2 Chi phí tố tụng 85
2.4.3 Chi phí để khắc phục thiệt hại 85
2.5 Chi phí luật sư 86
2.6 Quỹ bồi thường cho người tiêu dùng 86
HI C Á C Đ È XUẤT V È VIỆC H O À N THIỆN THIẾT C H É T H Ự C THI 87
3.1 Nâng cao năng lực, hiệu lực trong quá trình thực thi nhiệm vụ cừa cơ quan quản
lý cạnh tranh 88 3.2 Tăng cường năng lực cùa Tòa án trong việc xử lý các hành vi CTKLM 89
3.3 Phát huy vai trò cừa thương lượng và hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp
liên quan đến hành vi CTKLM 91
3.4 Thừa nhận về mặt pháp lý chức năng giải thích pháp luật cừa thẩm phán 92
3.5 Cần thừa nhận vai trò cừa án lệ 93
3.6 Xây dựng đạo đức kinh doanh cừa doanh nghiệp 94
3.7 Nâng cao ý thức pháp luật cùa doanh nghiệp và người tiêu dùng 96
3.7.1 Khả năng tự bảo vệ cừa doanh nghiệp 96
3.7.2 Khả năng tự bào vệ cừa người tiêu dùng 97
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A S E A N Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A
BHSHTT Bảo hộ sờ hữu trí tuệ
BLDS Bộ luật dân sự
BLTTDS B ộ luật tô tụng dân sự
B V N T D Bảo vệ người tiêu dung
C T K L M Cạnh tranh không lành mạnh
EU Liên minh Châu A u
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
HCCT Hạn chê cạnh tranh
LCT 2004 Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam
OFT Cơ quan Thương mại lành mạnh
SHCN Sở hữu công nghiệp
SHTT Sờ hữu trí tuệ
TRIPS Hiệp định vê quyên sờ hữu trí tuệ liên quan đèn thương mại WTO Tô chức thương mại thê giới
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trước khi ban hành Luật Cạnh tranh, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh và phát triển của kinh tế nhiêu thành phàn ờ nước ta, đặt cơ sở cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuầc mọi hình thức sờ hữu ở Việt Nam Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm cũng đã góp phần tạo ra khung pháp lý cần thiết cho việc thực hiện các quyền đó của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng từ khi cạnh tranh được thừa nhận, các hành vi C T K L M giữa các doanh nghiệp đã xuất hiện, đe doa quyền kinh doanh, gây ra những hậu quả xấu cho môi trường kinh doanh, cho doanh nghiệp làm ăn chân chính và cho người tiêu dùng Trong khi đó, quy định của pháp luật liên quan đến hoạt đầng cạnh tranh đã không đủ các chế định để ngăn chặn các thủ đoạn C T K L M tinh vi, phức tạp của mầt bầ phận doanh nghiệp trên thị trường Nhiều hành v i chưa được xử lý hoặc mức đầ xử lý chưa nghiêm làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp làm ăn chân chính bị xâm phạm C ơ chế kinh
tế thị trường đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì mầt môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh Đây cũng là mầt trong những điều kiện để Việt Nam thực hiện cam kết sau khi gia nhập WTO Trước bối cảnh đó, tại
kỳ họp thứ 10, Quốc hầi khóa X I ban hành Luật Cạnh tranh (năm 2004) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường tại nước
ta Sau hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới, lần đầu tiên tại Việt Nam Luật Cạnh tranh được ban hành - mầt văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt đầng cạnh tranh với tính cách là mầt tiêu chí căn bản của nền kinh tế theo cơ chế thị trường Luật Cạnh tranh ra đời đánh dấu mầt bước phát triển mới của xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, khác với các đạo luật khác, Luật Cạnh tranh là đạo luật đặc thù lần đầu tiên được ban hành ở Việt Nam trên cơ sở du nhập kiến thức, tiếp thu kinh nghiệm của mầt số nước tiên tiến trên thế giới Nhiều chế
Trang 8định, khái niệm trong luật còn rất xa lạ không chỉ đối với các doanh nghiệp m à cả
đối với các luật gia, các nhà nghiên cứu cũng như cơ quan quản lý Do đó, việc triến
khai áp dụng Luật trong thực tiễn đã vấp phải không ít khó khăn Mặc dù các biểu
hiện phản cạnh tranh vẫn diễn ra trong đủi sống kinh doanh, nhưng cho đến nay rất
hiêm khi có đơn kiện được gửi tới cơ quan quản lý cạnh tranh Đặc biệt trong lĩnh
vực C T K L M (CTKLM), khía cạnh gây rối đối với trật tự quản lý kinh tế của hành
vi C T K L M được các nhà lập pháp Việt Nam ưu tiên xem xét1
Theo đó, hành v i
C T K L M được nhìn nhận là một hành vi vi phạm hành chính Điều này hoàn toàn
khác với các nước có hệ thống pháp luật phát triển, nơi m à pháp luật C T K L M về cơ
bản là thuộc lĩnh vực Tư
Cạnh tranh, xét về bản chất, là hoạt động có tính sáng tạo của các chủ thể kinh
doanh Điều này dẫn đến một hậu quả pháp lý là rất có thể cơ quan quản lý cạnh
tranh sẽ không ngăn chặn được một cách hiệu quả và kịp thủi các hành vi C T K L M
mới nảy sinh và chưa được liệt kê trong các văn bản pháp luật hiện hành vê cạnh
tranh Mặt khác, từ khía cạnh kinh tế trong việc sử dụng nguồn lực xã hội đã cho
thấy việc huy động một hệ thống các cơ quan Nhà nước đông đảo (trong đó có cơ
quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò trung tâm) nếu chỉ giải quyết một vụ tranh chấp
nhỏ liên quan đến hành vi C T K L M rõ ràng là không thực tế Thực tiễn phó mặc việc
xử lý C T K L M cho cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan hành chính khác đã
chỉ ra là rất thiếu hiệu quả Điều này còn được thể hiện rõ hơn trong bối cảnh pháp
luật C T K L M của Việt Nam chưa có sự phân định rõ ràng thẩm quyền giữa C ơ quan
quản lý cạnh tranh, Quản lý thị trưủng, Thanh tra chuyên ngành, Hải quan .thậm
chí là Công an trong việc xử lý hành vi CTKLM Do đó, việc bổ sung các công cụ
của Luật tư là hết sức cần thiết Thông qua những phân tích so sánh về pháp luật
C T K L M của một số quốc gia và Việt Nam, luận văn với đề tài " Chức năng của
Luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh từ góc độ nghiên cứu so sánh pháp luật CTKLM của một số quốc gia - giải pháp hoàn thiện cho Việt Nam" có mục
đích chỉ rõ Luật tư có vai trò như thế nào trong việc bảo vệ trật tự cạnh
' Bùi Nguyên Khánh, Chức năng cùa Luật tư trong việc bào vẻ trật tự cạnh tranh lừ góc độ nghiên cứu so
sánh giữa pháp luật CTKLM của Việt Nam và CHLB Đức, Tạp chi Nhà nước và Pháp luật, số 10/2007, Tr.45
Trang 9tranh lành mạnh - một nhiệm vụ công quan trọng trong các Nhà nước có nền kinh tê thị trường
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của một số quốc gia tiêu biểu, luận văn đề xuất một số giổi pháp nhăm nâng cao hiệu quổ việc bổo vệ trật tự cạnh tranh từ góc độ Luật tư
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh;
- Phân tích quy định liên quan đến pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của một số quốc gia tiêu biểu và so sánh với các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004;
- Đưa ra các bình luận, đánh giá; trên cơ sờ xem xét tính phổ biến của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này để rút ra những nhận xét về những ưu điểm và những hạn chế cùa pháp luật chống C T K L M của nước ta hiện nay;
- Đ ề xuất một số giổi pháp nhằm nâng cao vai trò của Luật tư trong việc bổo vệ trật tự cạnh tranh ở Việt Nam;
3 Phạm v i nghiên cứu
Pháp luật chống C T K L M là một vấn đề phức tạp, có nội dung rất rộng và liên quan nhiều đến các lĩnh vục pháp luật khác, đặc biệt là các đạo luật kinh tế chuyên ngành có quy định liên quan nhiều đến cạnh tranh, pháp luật về hành chính, pháp luật về dân sự do đó, liên quan đến vấn đề này, luận văn chỉ giới hạn phạm v i nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các quy định về hành v i C T K L M trong Luật Cạnh tranh với các quy định có liên quan đến cạnh tranh trong một số đạo luật chuyên ngành về SHTT, pháp luật về B V N T D và một số quy định của pháp luật dân
sự liên quan đến B T T H ngoài hợp đồng Bên cạnh đó, pháp luật về chống C T K L M
có ở rất nhiều nước trên thế giới, do vậy, khi tham khổo kinh nghiệm của nước ngoài, luận văn chỉ tiến hành phân tích so sánh một số quy đinh điều chình hành v i
C T K L M trong Luật Cạnh tranh hoặc án lệ của một số quốc gia và vùng lãnh thổ
Trang 10tiêu biểu như: EU trong đó như: Đức, Pháp, Bỉ, Italia, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, thụy điển, Hungari, Bungari; một số quốc gia khác như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Canada, Australia
4 Phưong pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:
5 Kết cệu của luận văn
Kết cệu của luận vãn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính được chia thành 3 chương:
Chương Ì: Một số vện đề lý luận cơ bản về chức năng của Luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh
Chương 2: Chức năng của Luật tư trong lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh
ở một số quốc gia tiêu biêu
Chương 3: Một số định hướng hoàn thiện chức năng của Luật tư về cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Đ ể hoàn thành được luận văn, em đã cố gắng tìm tòi, tổng hợp và phân tích các thông tin, tư liệu thu thập được Tuy nhiên, do hạn chế về mật thời gian và vốn kiến thức còn ít ỏi, kinh nghiệm chưa nhiều, khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rệt mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô trong Trường và sự góp ý của bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Bùi Nguyên Khánh, Trường phòng Luật So sánh, Viện Nhà nước và Pháp luật, đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, cung cệp tài liệu quý báu để em có thể hoàn thành khóa luận này
Sinh viên
Dương Thị Phượng
Trang 11C H Ư Ơ N G 1: MỘT SÒ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN cơ BẢN VÈ CHỨC NĂNG
CỦA LUẬT Tư TRONG VIỆC BẢO VỆ TRẬT Tự CẠNH TRANH
/.MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN so SÁNH PHÁP LUẬT TRONG LĨNH vực CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH (CTKLM)
LI Khái quát về pháp luật chổng CTKLM
ỉ ỉ ỉ Khái niệm về CTKLM
Cho đến nay, C T L M mặc dù đã được tiếp cận, nghiên cứu và phản ánh trong nhiều học thuyết, song đều không đưa ra được nội hàm cụ thể cho khái niệm này Cũng như vậy, pháp luật về cạnh tranh cùa các quốc gia trên thế giới cũng không đưa ra được khái niệm thống nhất về thế nào là CTLM V à do đó chỉ có thể hiểu
C T L M một cách gián tiếp từ việc xác đựnh những hành v i C T K L M được quy đựnh trong pháp luật về cạnh tranh hoặc trong án lệ của các quốc gia Tuy vậy, dưới góc
độ thực tiễn, các quốc gia đều có sự thống nhất về bản chất cùa CTLM Theo đó
CTLM được hiêu là cạnh tranh trung thực, công bang, hợp pháp, hợp đạo đức và tập quản kinh doanh; là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng, cạnh tranh bằng tiêm năng von có của bản thân doanh nghiệp, vì lợi ích của bản thân trẽn tinh thần tôn trọng lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi ích công cộng
Như vậy, C T L M có một số đặc điểm như sau:
- Tuân thủ pháp luật;
- Tôn trọng truyền thống, tập quán kinh doanh;
- Phù hợp với đạo đức kinh doanh;
- Phù hợp với thông lệ quốc tế;
- Là động lực thúc đấy phát triến kinh tế;
Qua các đặc điểm trên cho thấy C T L M có nội hàm rất rộng và từ đó rất khó có thể quy đựnh cụ thể đặc điểm nào là hành v i CTLM Điều đó dẫn đến việc tiếp cận pháp luật từ mặt trái của hành v i và không triệt để trong việc xác đựnh về mặt nội dung Nêu xuất phát từ nguyên tắc các chủ thể kinh doanh được làm những gì pháp luật không cấm (chứ không chi được làm những gì m à pháp luật quy đựnh) thì
Trang 12không thể xác định được khái niệm chuẩn, đúng trong mọi trường hợp, cũng không thể xác định được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh các hành v i cạnh tranh mang tính tích cực để từ đó quyết định đó là hành v i cạnh tranh họp pháp M à ngược lại về mặt phương pháp phải xác định hành v i C T K L M và quy định thành điều cấm
Đ ố i lập vữi cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh không lành mạnh việc xác định
là lành mạnh hay không được căn cứ trên cơ sờ mục đích, tính chất và phương pháp tiến hành cạnh tranh trên thị trường Do đó, C T K L M là những hành v i cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tấc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội2 Thực tế cho thấy khái niệm C T K L M còn có những tên gọi khác nhau như: cạnh tranh không bình đẳng, cạnh tranh bất hợp pháp, cạnh tranh bất chính Tuy nhiên, thuật ngữ C T K L M được sử dụng phổ biến hơn cả, vì "không bình đẳng",
"bất hợp pháp" hay "bất chính" đều không bao quát được nội dung của vấn đề đang đặt ra Khái niệm C T K L M và cạnh tranh bất hợp pháp nếu xét về nghĩa của từ thì giữa chúng có sự khác nhau Thông thường tính bất hợp pháp được hiểu là v i phạm điều cấm của pháp luật Còn sự không lành mạnh bao gồm cả tính chất vi phạm đạo đức, v i phạm tập quán kinh doanh truyền thống Những hành v i C T K L M không phải lúc nào cũng đồng nghĩa vữi hành vi cạnh tranh bất hợp pháp B ở i vì, pháp luật chống C T K L M là một bộ phận của hệ thống pháp luật nói chung, quy định những hành v i cạnh tranh nào là bất hợp pháp về mặt lý luận, pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng, do quan hệ xã hội quyết định và Điều này cũng có nghĩa thường lạc hậu hơn so vữi sự phát triển, sự "sáng tạo" không ngừng của chủ thể cạnh tranh và cùng vữi đó là các quan hệ kinh doanh, quan hệ cạnh tranh và quan hệ CTKLM
1.1.2 Các quan niệm vê CTKLM
Hiện nay, trên thế giữi có nhiều quan niệm khác nhau về CTKLM Theo hiểu biết chung, có ba quan điểm chủ yếu về C T K L M như sau:
2 Đặng V ũ Huân, Pháp luật về kiểm soái độc quyển và CTKLM ờ Việt nam, Nhà xuất bàn Chinh trị Quốc gia
Hà n ộ i 2004, Tr 30,31
Trang 131.1.2.1 Trong mối quan hệ với quyền tự do cạnh tranh
Quan niệm thứ nhất cho rằng "CTKLM bao gồm tất cả hành v i nào xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp"
Cạnh tranh là thuộc tính tự nhiên của các nhà kinh doanh Cạnh tranh là động lực để các đối thủ phải tự cải tổ và trang bị cho mình nhẫng điêu kiện tót nhát đê duy trì sự tồn tại và phát triển trên thị trường Kết quả đó cũng mang lại cho xã hội nhẫng lợi ích đáng kể, ví dụ như chất lượng, mẫu m ã sản phẩm tốt và phong phú hơn với mức giá hợp lý hơn Vì vậy, nó cần phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các nhà kinh doanh và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh Cũng có thể khẳng định rằng, quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh Đ ó là hình thức canh đẹp, trong sáng
và giải thoát được khỏi thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường3 Trong mối quan hệ với các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng N ó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện quyền sở hẫu tư liệu sản xuất, tự do hợp đồng Hiện nay, hầu như các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa ra nhẫng bảo đảm pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh và đưa
ra nhẫng bảo đảm pháp lý nhàm thúc đẩy tự do cạnh tranh lành mạnh Đ ể đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh thì phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh hoàn thiện;
- Nhà nước phải có cơ chế kiểm soát giá cả;
- Phải kiếm soát được độc quyền và hạn chế hậu quả sự độc quyền, dù đó là độc quyền Nhà nước;
- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành v i CTKLM, cạnh tranh bất hợp pháp, và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh;
- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế;
5
Bùi Ngọc Cường, Một so vắn để về tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tể hiện hành à Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia xã hội, H à Nội, 2001
Trang 14Tuy nhiên, tự do cạnh tranh không được hiểu là được sử dụng mọi biện pháp hoặc thực hiện mọi hành v i để lôi kéo khách hàng Tự do nào cũng có giới hạn và nhiệm vụ của luật cạnh tranh chính là xác định những giới hạn dó Doanh nghiệp được sử dụng tất cả các biện pháp m à luật cạnh tranh không cấm để thu hút khách hàng
Với quan niệm này, các hành v i HCCT, nhất là những hành v i lạm dụng vị trí thởng lĩnh thị trường cũng thuộc phạm trù C T K L M (quan niệm này được phản ánh
rất rõ trong quy đinh của Luật Cạnh tranh Mông cổ)
Ì Ì.2.2 Hành v i C T K L M theo Công ước Paris
Quan niệm về C T K L M được quy định trong Công ước Paris về Bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ (ký kết ngày 20-3-1883) cụ thể là Điều l o bis (được bổ sung vào
Công ước năm 1900), theo đó "Sá? cứ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các
hành động trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đêu là hành vi CTKLM"
Nội dung của Điều l o bis đã trở thành một định nghĩa quởc tế nổi tiếng bởi nó
thể hiện mẫu hình pháp luật hiện đại, bao gồm các điều khoản chung và liệt kê các hành v i C T K L M quan trọng nhất phải bị cấm Điều khoản chung được bổ sung bằng một loạt những chỉ dẫn nêu rõ 3 nhóm hành v i C T K L M quan ừọng nhất đó là:
- Các hành v i gây rởi (lộn xộn);
- Các hành vi bôi nhọ, nói xấu;
- Các luận điệu lừa dởi;
Có thể nói là, toàn bộ Công ước Paris được xây dựng trên nền tảng khái niệm bảo vệ quyền lợi cá nhân trong hoạt động công nghiệp và thương mại, khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích công đã được đặt sang một bên Theo đó, tiêu chuẩn xác định "trung thực trong hoạt động công nghiệp và hoạt động thương mại" được hiểu như là sự liên quan đến hoạt động kinh doanh hơn là những người tiêu dùng Mặt khác, các quy định của Công ước Paris đã tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của các thiết ché trong mỗi quởc gia chởng lại các hành v i C T K L M trên toàn thế giới Các quởc gia hiện nay như Vương quởc Bi, Italia trong thập kỷ
20 và 30 đã chấp nhận Điều lObis Công ước Paris như là một bộ phận của pháp luật
Trang 15quốc gia và được sử dụng như pháp luật quốc gia để xử lý các hành v i C T K L M ; bời
vì khi áp dụng không chi đem lại lợi ích cho người nước ngoài m à còn đem lại lợi ích cho chính công dân nước sở tại Điều lObis Công ước Paris là một điều khoản
có thể thực hiện một cách trực tiếp ở các quốc gia thành viên vỉ điều luật này đã xác lập các tiêu chuẩn tối thiểu trong việc xử lý các hành vi CTKLM
1.1.2.3 Hành vi C T K L M và chuẩn mực về đạo đữc kinh doanh
Quan niệm thữ ba cho rằng, "CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đữc kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng" Theo quan niệm này, hành vi C T K L M có các dấu hiệu cơ bản sau:
- Là hành vi của doanh nghiệp nhàm mục đích cạnh tranh;
- Hành v i đó phải nhằm vào đối thủ hiện hữu;
- Hành vi đó có biểu hiện trái với các chuẩn mực đạo đữc kinh doanh, hoặc trái với pháp luật (cũng là trái đạo đữc);
- Hành vi đó gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho Nhà nước, đối thủ cạnh tranh hoặc cho người tiêu dùng;
Theo quan niệm này, C T K L M chính là những hành v i trái với các chuẩn mực đạo đữc kinh doanh thông thường N ó phản ánh khía cạnh chuẩn mực đạo đữc trong kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường Thông thường, để xác định một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp khác hay không, phải căn
cữ vào các chỉ tiêu thể hiện năng lực và trình độ kinh doanh, như quy m ô đầu tư, doanh số, công nghệ, hiệu quả lợi nhuận Đối với các doanh nghiệp CTKLM, thay
vì quan tâm đến các điều kiện trên đây, họ tiến hành cạnh tranh bàng các biện pháp thiếu trung thực, giả dối như: quảng cáo thổi phồng những đặc tính hữu ích, chất lượng cao hơn thực tế đạt được, nói xấu, dèm pha chất lượng hàng hóa, hạ thấp uy tín của thương nhân khác Nhìn chung, C T K L M theo quan niệm này là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại với các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khá, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội
Trang 16Quan niệm thứ ba về C T K L M cũng là quan niệm được quy định tại Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam (Điều 3 khoản 4, L C T 2004) Với những dấu hiệu trên thì không phải bất kỳ hành vi xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp đều bị coi là hành
vi C T K L M và bị xử lý bời pháp luật C T K L M m à chỉ những hành vi do đối thủ cạnh tranh thặc hiện đối với đối thủ cạnh tranh, không vì mục đích cạnh tranh sẽ không
bị coi là hành vi C T K L M và do đó sẽ bị xử lý bởi pháp luật chung - pháp luật dân
sặ Mặt khác, để đảm bảo quyền tặ do kinh doanh, tặ do cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trường được diễn ra một cách công bàng, bình đẳng, Nhà nước quy định hoạt động cạnh tranh phải tuân thủ nguyên tắc trung thặc, công bàng và không được xâm phạm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và nhìn chung là phải tuân theo các quy định của pháp luật
Như vậy, với ba quan điểm như đã nêu ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, theo quan niệm thứ nhất thì việc nhận dạng các hành v i C T K L M là rất rộng, có sặ hòa lẫn giữa các hành v i được coi là HCCT và những hành vi C T K L M và từ đó sẽ tạo ra
sặ thiếu phân hóa trong cơ chế xử lý giữa hai nhóm hành v i này Trong khi đó, tuy đều là hành vi cạnh tranh biểu hiện bằng cách hành xử của doanh nghiệp trên thương trường, làm hại đến sặ vận động bình thường và tính lành mạnh của thị trường, song chúng có những đặc điểm khác biệt về bản chất, tính chất, mức độ nguy hại cho thị trường và theo đó dẫn tới việc sử dụng phương thức áp dụng pháp luật và tính cương quyết trong việc trừng trị của pháp luật cũng khác nhau đối với hai nhóm hành v i này Nếu quan niệm theo quan niệm hai thì chỉ đề cập đến các hành v i "không trung thặc trong hoạt động thương mại và công nghiệp" Quan niệm
ba có phần hẹp hơn quan niệm thứ nhất, nhưng rộng hơn quan niêm thứ hai, theo đó hành vi C T K L M bao gồm bất kỳ hành vi nào ''trái với chuẩn mặc thông thường về đạo đức kinh doanh" và điều này sẽ bao gồm cả hành vi "không trung thặc" và cả những hành vi coi là "trung thặc" nhưng trái với chuẩn mặc thông thường về đạo đức kinh doanh V ớ i cách định nghĩa theo cách thứ ba này thì hành v i C T K L M không bị bó hẹp trong việc cấm đoán các hành vi C T K L M chỉ trong lĩnh vặc sở hữu công nghiệp m à còn sang cả các lĩnh vặc khác
Trang 17ỉ 1.3 Các hành vi CTKLM
Hiện nay, nội dung của pháp luật chống CTKLM, nếu xét về phương diện lập pháp, được giải quyết không thống nhất ở các quốc gia có thừa nhận chế định pháp luật này Tuy nhiên khi xem xét về nội đung của pháp luật chống CTKLM, thông thường có những nhóm hành vi bị pháp luật "can thiệp" như sau:
1.1.3.1 Những hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh
Trong số những hành vi vì mục đích cạnh tranh m à xâm hại đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh bao gồm các nhóm hành vi sau:
- Ngăn cản:
Ngăn cản các đối thủ khác trong quá trình tham gia cạnh tranh là loại hành v i
C T K L M tương đối điựn hình Tuy nhiên, đự phân biệt với hành v i ngăn cản trong pháp luật về chống độc quyền m à ở đó, ngăn cản được áp dụng đối với các đôi thủ tiềm năng (những doanh nghiệp đang tìm cách gia nhập thị trường), phải thấy rằng, các doanh nghiệp bị ngăn cản ở đây là những thành viên hiện hành Việc ngăn càn các đối thủ cạnh tranh được thự hiện chủ yếu thông qua thủ thuật bán phá giá Pháp luật chống C T K L M về chống bán phá giá chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán hàng dưới giá vốn trong điều kiện bình thường N h u vậy, trên thực tế pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp bán hàng dưới giá vốn trong một số trường hợp không bình thường như: hàng hóa có nguy cơ hư hỏng nhanh do điều kiện ngoại cảnh bất thường; bán hàng dọn kho do thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh; hàng hóa thuộc tài sản phá sản
Tính không lành mạnh của hành vi này thự hiện chủ yếu dưới hai dạng:
Thứ nhất, giảm giá, khuyến mại man trá được tiến hành bàng việc thông báo
hạ giá trên cơ sở giá cũ phi thực tế, hay khuyến mại theo kiựu thực tế, hay khuyến mại theo kiựu thực tế không có giải thưởng (quảng cáo gây nhầm lẫn),
Thứ hai, giảm giá khuyến mại quá mức bình thường, tạo cho các đối thủ cạnh
tranh những khó khăn trong việc bán hàng
Bên cạnh những dạng biựu hiện chủ yếu trên đây, thuộc các nhóm hành v i ngăn cản đối thủ còn bao gồm cả những hành v i tẩy chay, thâu tóm khách hàng của đối thủ đều được pháp luật chống C T K L M Điều chỉnh
Trang 18- Dèm pha và bôi nhọ đối thủ:
Việc đưa tin thất thiệt về người khác là điều không thể loại bỏ trong cuộc sống
Đe chống lại cách xử sự này, pháp luật dân sự của mọi quốc gia đều có những quy định nhằm bẫo vệ nhân phẩm, danh dự và uy tín của mọi pháp nhân và thể nhân
(bao gồm cẫ các thương gia) Bên cạnh những quy định chung của Bộ luật dân sự, thông thường vẫn có các quy định riêng cụ thể, dành cho các thương gia với tính
cách là các đối thủ cạnh tranh trong thương trường Trên thực tế, các doanh nghiệp thường sử dụng rất nhiều thủ thuật tinh v i và không lành mạnh làm tổn hại đến lợi ích (vật chất và phi vật chất) của các đối thủ Tại đây, pháp luật chổng C T K L M xem
xét loại hành vi này trên cơ sở các yếu tố:
- Hành v i này phẫi xuất phát từ đối thủ cạnh tranh, vì mục đích cạnh tranh Xuất phát từ đối thủ cạnh tranh không nhất thiết phẫi là đối thủ này trực tiếp hành động nói xấu, gièm pha
- Hành v i nói xấu, bôi nhọ phẫi nhàm vào đối thủ cạnh tranh trong cùng một
thị trường hàng hoa, sẫn phẩm Được coi là "nhằm vào đối thủ cạnh tranh" có thế bao gồm nhiều đối tượng cụ thế liên quan đến doanh nghiệp như: chất lượng sẫn
phẩm, cách thức bán hàng, tiềm lực kinh tế - tài chính, lực lượng lao động hoặc ban lãnh đạo doanh nghiệp
Khuyến mại tạo cho khách hàng tâm lý và thói quen lệ thuộc vào thương gia khuyến mại Họ bị chi phối bởi "tâm lý hám l ợ i " nên ít có cơ hội để quan tâm đến hàng hóa của đối thủ cạnh tranh khác Kết cục là, khi thói quen mua hàng trở thành phẫn xạ có điều kiện, khách hàng sẽ không còn quan tâm đến chất lượng của sẫn phẩm Tính không lành mạnh và sự nguy hiểm của khuyến mại là ở chỗ đó
Nhiều hành v i C T K L M ở các nước chỉ bị xử lý theo cơ chế bồi thường dân sự thì ở Việt Nam lại được bẫo hộ kép, đó là vừa có thể áp dụng cơ chế xử lý hành chính lại vừa có thể áp dụng cơ chế khởi kiện đòi bồi thường dân sự tại các Tòa án
có thẩm quyền4
4 Nguyễn Như Phát, Đưa pháp luật chong cạnh tranh không lành mạnh đi vào cuộc song, Nhà nước và pháp
luật, số 1/2006, Tr.32
Trang 19cần lưu ý rằng, xuất phát từ nguyên tắc Hiến định về tự do ngôn luận, phải
phân biệt hành v i dèm pha, bôi nhọ với những đánh giá nhận xét về sản xuất, kinh doanh về một doanh nghiệp Trong khi những nhận xét, đánh giá đó có thể là khách quan hay chưa khách quan và trong những trường hợp như vậy, hiện tượng sẽ nằm chính nơi biên giới với "đưa tin thất thiệt"
- Bóc lột:
Khái niệm này không được hiểu như khái niệm bóc lột trong kinh tế chính trị học hay triết học Dưới góc độ cốnh tranh, bóc lột được hiểu là sự hưởng dụng trái phép hay lốm dụng những thành quả lao động của một doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác Biểu hiện của những hành vi này là việc sản xuất và cho lưu hành hàng hóa, sản phẩm m à các dữ kiện và thông số về chúng không trung thực Biểu hiện của những hành vi này là việc đưa thông báo man trá về nguồn gốc của hàng hóa, bất chước, nhái lối các sản phẩm hàng hóa đã được bảo hộ
1.1.3.2 Những hành vi xâm hối lợi ích của khách hàng
Thị trường được coi là nơi gặp gỡ của người bán và người mua, m à ở đó, ai cũng muốn thu về cho mình những mối lợi cao nhất Vì vậy, trong mối quan hệ với khách hàng, kẻ bán hàng cũng có thể có những hành vi C T K L M m à pháp luật cần can thiệp Cũng như những hành v i xâm hối lợi ích của các đối thủ cốnh tranh, nhóm hành v i xâm hối lợi ích của khách hàng hay người tiêu dùng cũng khá đa dống, bao gồm:
Trang 20- Can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng:
Trong cơ chế thị trường, tự do kinh doanh ắt sẽ kéo theo tự do định đoạt của khách hàng Trong số nhữnh hành v i nhằm tác động vào sự tự do định đoạt cùa khách hàng trước hết phải kể đến hành vi lừa dối nhằm thu hút khách hàng, làm cho khách hàng không hoàn toàn tự chủ khi quyết định tham gia quan hệ mua bán Bên cạnh đó là các hành vi lừa dối thông qua quảng cáo, dồn khách hàng vào thê bí m à không có cách nào khác là phải tiếp nhợn quan hệ mua bán, các hành v i quảng cáo quấy rầy khách hàng,
- Khuyến mại
Khuyến mại được coi là những biện pháp nhằm thực hiện những dịch vụ phụ, không mất tiền, trên cơ sở có việc mua bán những sản phẩm, dịch vụ chính Đ ể xác định một hiện tượng khuyến mại, cần xem xét những dấu hiệu sau đây:
• Sản phẩm chính và sản phẩm phụ phải có một quan hệ nội tại (thí dụ, mua một xe máy có thể được tặng thêm một đôi mũ bảo hiểm: quan hệ xe máy
• Sản phẩm chính và phụ, phải biệt lợp với nhau, có giá trị kinh tế riêng biệt;
• Việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ phụ là không mất tiền
- Quảng cáo sai lệch
Quảng cáo là hành v i không thể thiếu của mọi doanh nghiệp khi tham gia vào cạnh tranh Mục đích của quảng cáo là để giới thiệu, khuyếch trương về hàng hoa, dịch vụ của mình và vì thế nó được coi là quyền hợp pháp của doanh nghiệp - một nội dung của tự do kinh doanh V ớ i bản chất là một quá trình thông tin có ý nghĩa lớn trong định hướng hành v i mua sắm và sử dụng dịch vụ của khách hàng, quảng cáo là phương pháp quan trọng giúp doanh nghiệp cạnh tranh, giành thị phần cho mình trên thị trường hàng hoa, dịch vụ Nhằm đạt được mục tiêu này ở mức độ tối
ưu, doanh nghiệp dễ có thể thực hiện quảng cáo không trung thực tâng bốc giá trị và
Trang 21chất lượng thật của hàng hóa, sản phẩm Đ ó là những phương thức như khẳng định
"ưu thế" của mình bằng việc so sánh với hàng hoa, dịch vụ của thương nhân khác (quãng cáo so sánh); sử dụng sản phẩm quảng cáo hoặc những thông tin có thừ gây nhầm lẫn lừa doi khách hàng đừ lôi kéo khách hàng (quảng cáo không trung thực); quảng cáo hàng hóa của mình trên cơ sở lạm dụng uy tín của một sản phẩm khác cùng loại (quảng cáo dựa dẫm) Những hoạt động quảng cáo như thế đều được thực hiện với mục đích CTKLM
1.2 Mô hình pháp luật về chống CTKLM
Chúng ta có thừ thấy rằng, quá trình tiếp nhận khái niệm C T K L M ở các quốc gia trong những điều kiện, hoàn cảnh không giống nhau đã làm cho pháp luật về chống C T K L M có mục tiêu, lợi ích cần bảo vệ, hình thức cơ cấu và vị tri của chúng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là rất khác nhau Do vậy, các nhóm quốc gia khác nhau sẽ sử dụng các kỹ thuật lập pháp khác nhau đừ xây dựng m ô hình pháp luật về C T K L M cho phù họp Qua khảo sát pháp luật C T K L M của các quốc gia trên thế giới, đã cho thấy một số m ô hình chính như sau:
1.2 ỉ Mô hình xây dụng đạo luật về chổng CTKLM
M ô hình này được thiết kế trên cơ sở tổng hợp các quy đinh về chống C T K L M trong một đạo luật m à mục tiêu của nó là bào vệ người tiêu dùng cũng như những chủ thừ tham gia cạnh tranh trước các hành v i CTKLM Ví dụ Luật về thị trường của Thụy Điừn và của Đan Mạch, Luật về hành vi trong cạnh tranh và thông tin đối với người tiêu dùng của Bỉ; Luật về chống C T K L M cùa C H L B Đức; Á o và Hy Lạp
v ề phương diện phạm v i áp dụng, thì một số các quy định của các đạo luật này đã hướng đến điều chỉnh quan hệ giữa chù thừ tham gia cạnh tranh và người tiêu dùng; hoặc là về thực tiễn kinh doanh giữa các thương nhân Ở đây các đạo luật này đã chiếm một vai trò trung tâm trong việc bảo vệ cả hai nhóm đối tượng và cố nhiên từ những điều kiện mang tính truyền thống chúng có thừ được định hướng theo một hoặc nhiều mục tiêu khác Từ phương diện bảo vệ người tiêu dùng, chúng được bổ sung và hoàn thiện thông qua các quy định của pháp luật về hợp đồng, pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như các quy định đặc biệt về bảo vệ người tiêu dùng
Trang 22Xét trên phương diện kinh tế thể hiện các đạo luật kể trên đều dựa trên một điều khoản tổng quát (general clause) và mục tiêu của nó là nhằm bảo vệ cả người tiêu dùng và chủ thể tham gia cạnh tranh Điều khoản tổng quát này cần tất cả các hành v i chống lại cạnh tranh lành mạnh (tuy nhiên có một ngoại lệ được tìm thấy
trong Luật về hành vi cạnh tranh và thông tin do người tiêu dùng của Bứ, trong đó
có hai điều khoản tổng quát tương tự nhau, một điều khoản nhàm mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và điều khoản kia nhàm bảo vệ lợi ích của chủ thể tham gia cạnh tranh) Điều khoản tổng quát trong đạo luật này được bổ sung thông qua các quy định đặc biệt (hoặc là được chứa đựng trong bản thân đạo luật đó hoặc là
trong đạo luật đặc biệt) Các quy định có liên quan đến nhóm hành v i C T K L M (ví
dụ như hành v i quảng cáo gây nhầm lẫn) và các hình thức tiêu thụ đặc biệt (ví dụ như bán hàng tại nhà)
Trong sự so sánh với nhóm các nước theo m ô hình này thì sự khởi đầu trong các quy định của Luật chống C T K L M của Phần Lan có sự khác biệt nhất định, theo
đó Phàn Lan có hai đạo luật để điều chứnh hành vi CTKLM: một đạo luật để bảo vệ người tiêu dùng (Luật Bảo vệ người tiêu dùng) và một đạo luật nhằm bảo vệ các thương nhân trước các hành vi C T K L M (Luật về CTKLM) Cả hai đạo luật này đều
có điều khoản tổng quát cấm các hành v i C T K L M và cả hai đều chứ ra rằng chúng được bổ sung thông qua các quy định pháp luật điều tiết ngành - các quy định Hên quan đến đối thủ cạnh tranh và phương thức tiêu thụ của các sản phẩm đặc thù
1.2.2 Mô hình sử dụng quy định trong Bộ luật Dân sự
Một sự khỏi đầu thành công theo hướng khác đã được tìm thấy tại Italia và H à
Lan Ở các quốc gia này, các quy định cơ bản về C T K L M đã được chứa đựng trong
các công trình pháp điển hóa của Luật tư: Bộ Luật Dân Sự của Italia {Codice Civile)
và Hà Lan (Burgerlịịk ỈVetboek) Theo đó, Codice Civile đã chứa đựng một điều
khoản tổng quát thiết lập nghĩa vụ cạnh tranh lành mạnh (Điều 2598) Ở H à Lan, các nguyên tắc cơ bản của cạnh tranh lành mạnh được đinh hướng từ các nguyên tấc
cơ bản của chế định bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng (Điều 6:162 Burgerlijk
Wetboek)
Trang 23Pháp luật về C T K L M của Pháp cũng có thể được so sánh ờ đây, vì các quy định quan trọng của chế định bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực pháp luật về CTKLM Từ các quy định của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ Luật Dân Sự Pháp, Tòa án của Pháp
đã phát triển trong án lệ một nguyên tắc chung về C T K L M (concurrence déloyale),
một nguyên tắc có ý nghĩa bào vệ trực tiếp các chủ thể tham gia cạnh tranh Người tiêu dùng là người được hường lợi gián tiếp từ án lệ này Cột trụ thứ hai trong hệ thảng pháp luật Pháp là Bộ luật về tiêu dùng chứa đựng một hệ thảng các quy định nhàm duy trì sự công bằng, minh bạch với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng
1.2.3 Mô hình không có các quy định đặc biệt về Cạnh tranh
Điển hình trong việc sử dụng m ô hình áp dụng án lệ cho các hành v i C T K L M
là hệ thảng pháp luật của Ailen và Vương quảc Anh Hệ thảng pháp luật của hai nước này đã phát triển theo một phương thức riêng biệt và không thể so sánh được trên cả hai phương diện: hành vi thị trường và cạnh tranh lành mạnh Trong lĩnh vực pháp luật này, một khuôn khổ pháp luật ờ Ailen cũng như ờ Vương quảc A n h -khuôn khổ pháp luật hình thành từ án lệ phù hợp với truyền thảng Common Law -được bổ sung thông qua hệ thảng các quy đinh pháp luật thành văn Trong phạm v i nguồn của Common Law đã cung cấp không chỉ các quy tắc của pháp luật hợp đồng
m à còn cả các quy tắc của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng các lĩnh vực pháp luật có liên quan đến cạnh tranh Ở đây dường như không thể hình thành một quy định mang tính tổng quát về cạnh tranh lành mạnh thậm chí là một nguyên tắc chung ngay cả trong các quy định về điều tiết ngành kinh tế
Tại Mỹ, với truyền thảng common law, không có văn bản pháp luật riêng Điều chinh hành v i C T K L M m à chúng nằm rải rác ở các Á n lệ và một sả đạo luật khác nhất là các luật trong lĩnh vực SHTT C T K L M (Unfair competition), theo pháp luật nước này, không phải là "một hành v i gây thiệt hại ngoài hợp đồng cụ t h ể " m à là
"nhóm hành vi gây thiệt hại ngoài họp đồng" nhằm bảo vệ các lợi ích thương mại
• t
17
Ị ») ;
Trang 241.3 Vị trí của pháp luật về chống CTKLM trong hệ thống pháp luật kỉnh tế
Khung pháp luật kinh tế là khái niệm rộng gồm tổng thể các yếu tố thể hiện
cấu trúc pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế của một
quốc gia
Theo nghĩa hẹp, với những yếu tố cấu trúc bên trong, khung pháp luật kinh tế
bao gồm các quy phạm, các chế định pháp luật, các ngành luật trực tiếp điều chỉnh
các quan hệ kinh tế phát sinh trong đẫi sống kinh tế xã hội Đ ể điều chỉnh các quan
hệ này, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật bao gồm các văn bản pháp
luật khác nhau Ở nước ta, các văn bản pháp luật này tạo thành một lĩnh vực pháp
luật m à vẫn được gọi là pháp luật kinh tế Nếu xét về chức năng thì hệ thống này có
thể gồm ba bộ phận hợp thành, đó là: Pháp luật đầu vào (pháp luật gia nhập thị
trưẫng); pháp luật điều chinh các quan hệ thị trưẫng và pháp luật đầu ra (pháp luật
thoát khỏi thị trưẫng) Trong đó, pháp luật cạnh tranh thuộc nhóm pháp luật điều
chỉnh quan hệ thị trưẫng Cạnh tranh vừa là quy luật vừa là môi trưẫng vận động
của nền kinh tế thị trưẫng Hoạt động cạnh tranh xuất hiện trong mọi lĩnh vực của
nền kinh tế và bản thân các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trưẫng đều chứa
đựng trong nó những yếu tố cạnh tranh Pháp luật với chức năng điều chỉnh các
quan hệ xã hội có nhiệm vụ định hướng và đưa các quan hệ này theo một trật tự
nhất định phù hợp với ý chí và định hướng của Nhà nước Bởi vậy, để đảm bảo các
quan hệ kinh tế vận hành có hiệu quả, theo định hướng đã định; đòi hỏi pháp luật
cạnh tranh phải đáp ứng các điều kiện như: đinh ra khuôn khổ cho quá trình cạnh
tranh, bảo đảm môi trưẫng cạnh tranh lành mạnh; chống lại có hiệu quả các hành v i
CTKLM, mọi xu hướng dẫn tới HCCT, triệt tiêu cạnh tranh.5
Với những mục đích đó, pháp luật về cạnh tranh có thể can thiệp và định
hướng vào hầu hết các nhóm quan hệ kinh tế do pháp luật kinh tế điều chỉnh V à nó
phải được hình thành trên cơ sở đồng bộ với các nguyên tắc định khung pháp luật
khác nhu: tự do cạnh tranh; tự do khế ước; tự do hình thành giá cả; bảo đảm sự bình
đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị
5
Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soái độc quyền và chống CTKLM ờ Việt Nam, Nhà xuất bàn Chinh trị
Quốc gia, Hà nội, 2004, Tr.45
Trang 25trường cùng các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh, truyền thống, tập quán thương mại lành mạnh được xã hội và pháp luật thừa nhận
Cũng chính những điều đó sẽ là nguy cơ làm giảm tính hiệu quả của thị trường, tạo cơ hội cho các hành vi C T K L M phát triển Do không có sự điều tiết của pháp luật cạnh tranh, thị trường sẽ bị "thả n ỗ i " , cùng với sự cấm đoán m ù quáng sẽ tạo ra sự hỗn độn, nghèo nàn của thị trường pháp luật kinh tế chuyên ngành phải có
sự hỗ trợ đắc lực của các quy định mang tính nguyên tắc và định hướng của pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống C T K L M nói riêng V à ngược lại với những quy phạm chủ yếu là mang tính cấm đoán, mang tính định hình, thiếu tính định lượng của các quy phạm pháp luật cạnh tranh, thì để có thể áp dụng được trong thực tiễn cẩn có vai trò rất quan trọng của các đạo luật chuyên ngành có liên quan trong việc nhận dạng hành vi chủ thể thuộc về các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau
1.4 Mồi quan hệ giữa pháp luật về chống CTKLM với luật chuyên ngành
Có thể thấy rằng, xuất phát từ tính cụ thể hơn của luật chuyên ngành so với luật chung m à trên thế giới đã hình thành nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành (Lex Generalis và Lex Specialis) là khi có xung đột giữa chúng với nhau thì có ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành Việc đề ra nguyên tắc này là để đảm bảo tính hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan
hệ xã hội vì chi có luật chuyên ngành mới có thể quy định được một cách chi tiết đầy đủ các vấn đề đặc thù phát sinh trong thực tiễn Phần trình bày dưới đây sẽ đề cập tới mối quan hệ giữa pháp luật chống C T K L M với các bộ phận pháp luật chuyên ngành như: pháp luật chống hạn chế cạnh tranh - HCCT, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, pháp luật bảo hộ sở hữu trí tuệ
1.4.1 Trong quan hệ với pháp luật chống HCCT
Xét về lịch sử hình thành cùa hai bộ phận hợp thành của pháp luật cạnh tranh, thì pháp luật về chống C T K L M ra đời sớm hơn pháp luật về kiểm soát độc quyền (hay còn gọi là pháp luật về hạn chế cạnh tranh) Pháp luật về C T K L M sơ khởi chỉ nhằm bảo vệ cá nhân các chủ thể cạnh tranh còn pháp luật về chống HCCT có mục tiêu duy trì sự cạnh tranh hoàn hảo Theo quan niệm hiện nay, Pháp luật về C T K L M
Trang 26và pháp luật về chống HCCT là hai nhóm công cụ bảo vệ cạnh tranh với phương thức, biện pháp khác nhau, là hai mặt của một đồng xu do tính chất tác động tương
hỗ của chúng Trong điều kiện của một nền kinh tế thị trường hoạt động, pháp luật
về C T K L M không chự có mục tiêu bảo vệ các chủ thể cạnh tranh tham gia cạnh tranh m à còn có mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và lợi ích công Tính lành mạnh của cạnh tranh không thể tách rời sự tự do của chúng Mặt khác, pháp luật về chống HCCT bảo vệ sự tồn tại của cạnh tranh như một chế định thuộc về lợi ích công trong khi đó pháp luật chống C T K L M bảo vệ sự lành mạnh của cạnh tranh như một che định thuộc về lợi ích tư Chúng ta cũng có thể tìm thấy sự giao thoa giữa pháp luật chống C T K L M và pháp luật chống HCCT đó là, cả hai lĩnh vực pháp luật này cùng điều chựnh quan hệ xã hội về cạnh tranh và có cùng chung một mục đích là duy trì một môi trường cạnh tranh công bàng và bình đẳng Trong những trường hợp nhất định, cùng một hành v i có thể bị tác động bời cả hai lĩnh vực Điều quan trọng là cần có sự phân biệt rõ ràng các dấu hiệu đặc trưng của nó Tuy nhiên, một chế tài của lĩnh vực pháp luật chự được áp dụng một lần Chảng hạn, chế tài B T T H chự được áp dụng một lần cho cùng hành v i v i phạm pháp luật Trong khi pháp luật chống HCCT hướng tới một nhóm chủ thể nào đó thì pháp luật chống C T K L M hướng tới tất cả các chủ thể tham gia thị trường Các chủ thể được tác động trong pháp luật chống HCCT phải có điều kiện về chủ thể (chẳng hạn, ngưỡng của sức mạnh thị trường) Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật chống HCCT bao giờ cũng xác định thị trường liên quan, trong khi áp dụng luật chống C T K L M không đòi hỏi yếu tố này Ở một số quốc gia, hai lĩnh vực pháp luật này được phân định một cách tương đối rõ ràng như trường hợp cùa nước Đức, chúng ta thấy có Luật về chống các hành vi C T K L M và Luật về chống HCCT và mỗi đạo luật này đều có chức năng riêng của mình Ngược lại, có những quốc gia liên kết hai bộ phận pháp luật này lại như Luật về C T K L M của Đài Loan
1.4.2 Trong mối quan hệ với pháp luật về sở hữu trí tuệ
Pháp luật chống C T K L M có liên hệ chặt chẽ với pháp luật Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (BHQSHTT) Xét ở góc độ điều chựnh pháp luật chống C T K L M , thì hầu hết các hành v i thuộc nội dung điều chựnh của PLBHSHTT (đặc biệt trong lĩnh vực
Trang 27SHCN) Việc chống lại các hành vi C T K L M chính là việc ngăn cấm các hành vi đã xâm hại đến các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, xuất xứ hàng hóa quyền chống C T K L M đôi khi hoa lẫn với bảo hộ bí mật kinh doanh, bảo hộ tên thương mại và chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
Pháp luật chống C T K L M và pháp luật BHQSHTT có mối quan hệ tương hỏ lẫn nhau Tuy nhiên giữa chúng không đồng nhất về mục đích và phạm vi điêu chinh Nếu như mục đích của pháp luật về BHQSHTT là bảo hộ quyền SHTT của
cá nhân, pháp nhân tránh khỏi sự xâm hại của các hành vi trái pháp luật, thì pháp luật chống CTKLM, ngoài mục đích nêu trên còn có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và trật tự cạnh tranh trong một thị trường cụ thể Chỉ bị coi là hành vi C T K L M nếu như hành vi của một chủ thể nhằm mục đích cạnh tranh
có hiểu hiện không lành mạnh, đã xâm hại đến quyền lợi của chủ thể khác cũng tồn tại trong một thị trường hàng hóa, dịch vụ hay thị trường liên quan Cũng từ sự khác nhau về mục đích điều chỉnh, cho phép trong quá trình thực thi pháp luật, các cơ quan chức năng, các đương sự có quyền lợi bị xâm hại có thể lựa chọn pháp luật để
áp dụng Những trường hợp xâm phạm quyền SHTT với ý thức chủ quan chỉ rõ ràng là nhằm mục đích tư lợi thì áp dụng các quy định của pháp luật BHQSHTT, còn những trường hợp xâm phạm BHQSHTT nhàm mục đích C T K L M thì phải áp dụng các quy định của pháp luật chống C T K L M để giải quyết
Hơn nữa, việc mở rộng hay thu hẹp khái niệm C T K L M cũng sẽ làm cho đường biên giới giữa pháp luật về C T K L M và pháp luật về BHQSHTT được phân định rất khác nhau trong pháp luật của mỏi quốc gia Khi mờ rộng khái niệm C T K L M , có người cho rằng bảo vệ các quyền SHTT là một trong những chức năng cơ bản của pháp luật cạnh tranh và theo đó Luật về sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa và thậm chí là bản quyền là những bộ phận pháp luật đặc biệt kể trên xóa bỏ những kẽ hở trong hệ thống pháp luật D ù sao, chức năng này của pháp luật về C T K L M là rất khác nhau
về mức độ ảnh hưởng của nó trong hệ thống pháp luật của mỏi quốc gia và do đó pháp luật về C T K L M cũng có tầm quan trọng khác nhau ờ mỏi quốc gia
Trang 281.4.3 Trong mối quan hệ với pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Mục tiêu bảo mặt khuất của thị trường, khía cạnh người tiêu dùng là một bước phát triển tiếp theo của pháp luật chống CTKLM Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD) hiện nay bao hàm những nội dung không liên quan nhiều đến CTKLM Chẳng hạn như kiểm soát các tiêu chuỉn và quy chuỉn kỹ thuật và trách nhiệm đối với sản phỉm Tuy nhiên, cũng không thể nói pháp luật chống C T K L M không có mối quan hệ với PLBVNTD chảng hạn như trong việc kiểm soát hoạt động quảng cáo, khuyến mại nhằm CTKLM Các vấn đề quảng cáo so sánh, khuyến mại không thật không chỉ là vấn đề của pháp luật chống C T K L M m à còn là vấn đề của pháp luật BVNTD
ờ một số quốc gia, pháp luật về C T K L M và pháp luật về B V N T D được xây dựng độc lập với nhau Ở một số quốc gia khác, pháp luật về C T K L M và pháp luật
về B V N T D được xây dựng hợp nhất với nhau và cùng đồng thời bảo vệ hai loại lợi ích (lợi ích của nhà cạnh tranh và lợi ích của người tiêu dùng)
1.5 Xu hướng phái triển của pháp luật về chống CTKLM ở các nước trên thế giới
Qua việc khảo sát nội dung pháp luật C T K L M của các quốc gia trên thế giới dưới đây cho thấy chúng đang vận hành và phát triển theo các xu hướng sau:
1.5.1 Xu hướng đa dạng hóa thiết chế thực thi
• Thanh tra tiêu dùng (Consumer-Ombudsman): Thiết chế Thanh tra tiêu dùng
là thiết chế được các nước Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển lựa chọn Tại đây, thiết chế này có vai trò như một cơ quan giám sát thị trường
ở Đan Mạch, Thanh tra tiêu dùng có nhiệm vụ bảo đảm các chủ thể thị trường tôn trọng và duy trì các chuỉn mực của pháp luật C T K L M (Điều 16 Luật về thị trường ngày 14-06-1974- Lov ôn Markedforing-LMF) Ở Phần Lan, trách nhiệm giải thích Luật về Bảo vệ người tiêu dùng (kuluttajansuojalaki-KSL) và Luật về
C T K L M (Laki Sopimattomasta Menettelyst-SML) trước hết thuộc về Thanh tra tiêu dùng Trong trường hợp các khiếu nại về sự giải thích nói trên, thì thỉm quyền giải quyết khiếu nại sẽ thuộc về một Tòa án đặc biệt có tên gọi là Tòa án thị trường Ở Thụy Điển, theo Luật về thị trường (Marknadsíoringslagen 1995:450-MFL), các
Trang 29trường hợp C T K L M do Thanh tra tiêu dùng chuyển đến sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án Stockholms và Tòa án thị trường Bên cạnh đó, Tòa án thị trường còn có thẩm quyền ban hành các Thông tư quy định các mức phạt tiền cho các hành v i
C T K L M
• Giải quyết tranh chấp về CTKLM bang con đường ngoài tô tụng của Tòa án:
Theo pháp luật của Italia, các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng có đăng ký có yêu cầu tiến hành thủ tục hòa giải tại Phòng Thương mại Tại H à Lan, người tiêu dùng, các nhà cạnh tranh và Hiệp hội của họ có quyền yêu cẩu xử lý các hành vi C T K L M theo một thủ tục tại một thiết chế tổ quản (Reclame Code Commissie)- Thiết chế được Nhà nước trao quyền giám sát đối với các hành v i C T K L M trong một sổ lĩnh vổc nhất định Trong trường hợp không chấp nhận phán quyết của cơ quan này, các bên có quyền đưa vụ việc này ra Tòa án để giải quyết theo thủ tục chung
• Thông qua cơ quan quản lý Nhà nước: ở Italia, cơ quan quản lý cạnh tranh
có thẩm quyền giám sát đối với hoạt động cạnh tranh và quảng cáo Theo đó, cơ quan này có thẩm quyền ban hành các quyết định xử phạt đối với các hành v i phản cạnh tranh theo đạo luật số 287 năm 1990 C ơ quan quản lý cạnh tranh được trao quyền ban hành lệnh cấm đối với quảng cáo trái pháp luật và áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết để khắc phục những hậu quả của chúng
ở Vương quốc Anh, cơ quan thương mại lành mạnh (OFT) đóng vai trò quyêt định trong việc thổc thi pháp luật về C T K L M và bào vệ người tiêu dùng Vai trò này đã được thể hiện trong mục đích thành lập của cơ quan này là "bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chống lại các hành v i C T K L M và khuyến khích sổ hình thành các quy tắc tổ quản trong các hiệp hội nghề nghiệp" Trên thổc tế, OFT đã thành công trong việc duy trì cạnh tranh lành mạnh thông qua việc công nhận các quy tắc
tổ quản của các Hiệp hội nghề nghiệp này Chẳng hạn như: Hiệp hội tiêu chuẩn quảng cáo của Anh quốc có vai trò quan trọng trong việc xây dổng và duy trì bộ quy tắc của Anh quốc về quảng cáo và xúc tiến thương mại
Hệ thống tự quàn: Một xu hướng phát triển khác đã được hình thành tại A n h
quốc và nhân rộng tại các quốc gia theo m ô hình Common Law - nơi m à các quyết định có tính chất tổ quản có vai trò thống trị trong lĩnh vục pháp luật về CTKLM
Trang 30Tại đây, việc áp dụng chế tài được ghi nhận trong các bộ quy tắc hành v i có tính tự quản là rất hiện thục về lý thuyết, người tiêu dùng và nhà cạnh tranh đều có quyền khởi kiện chống lại các hành v i C T K L M theo các nguyên tác của Common Law hoặc được quy định trong các đạo luật có liên quan Trên thực tế, một số lượng lứn các trường hợp được giải quyết thông qua cơ chế tự quản, chẳng hạn như thông qua một quyết định của Cơ quan về Tiêu chuẩn quảng cáo (Advertising Standards Authority), khi có hành vi xâm hại đến lợi ích công Hệ thống tự quản được ủng hộ chính thức thông qua Cơ quan về Thương mại lành mạnh (Office o f Fair Trading) Trong những trường hợp v i phạm nghiêm trọng, m à ờ đó hệ thống tự quản phá vỡ các giứi hạn của nó, thi C ơ quan về thương mại lành mạnh sẽ tiến hành thủ tục xử lý đối vứi doanh nghiệp có hành vi CTKLM
1.5.2 Xu hướng đa dạng hóa hệ thống chế tài
Việc đa dạng hóa các hình thức chế tài áp dụng đối vứi các hành v i C T K L M cũng trờ thành xu hưứng nổi trội trong pháp luật về C T K L M của các quốc gia phát triển trong thời gian gần đây Bên cạnh các chế tài truyền thống như bồi thường thiệt hại, xử phạt hành chính và hình sự, còn có các loại chế tài mứi như: Luật mềm, Cảnh báo, c ấ m hành nghề cụ thế là:
Luật mềm "soft law": Ớ H à Lan, Reclam Code Commissie có thể đưa ra các
khuyến nghị trên cơ sở tổng kết các v i phạm về CTKLM Các khuyến nghị này sẽ được thông báo rộng rãi trên cơ quan thông tấn ANP của H à Lan ở Vương quốc Anh, Hiệp hội tiêu chuẩn quảng cáo cùa Anh có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện
Bộ quy tắc quảng cáo và xúc tiến thương mại của Anh và sau khi được công nhận
nó có giá trị pháp lý như một đạo luật Hiệp hội tiêu chuẩn quảng cáo của A n h có thể cung cấp cho các phương tiện thông tin đại chủng các chiến dịch quảng cáo v i phạm Bộ quy tắc quảng cáo và xúc tiến thương mại của Anh
Cảnh báo: được xem là một loại hình chế tài mứi và được áp dụng khá phổ
biến ở các nưức công nghiệp phát triển, ở Bỉ, Bộ trưởng kinh tế có thẩm quyền ban hành các Cảnh báo đối vứi các sản phẩm có nguy cơ gây nguy hại đến sức khỏe an toàn của người tiêu dùng hoặc có khả năng lừa dối công chúng Đây co thể là sự khởi đâu cho một thủ tục tô tụng chông lại các hành vi CTK.LM tại Tòa án, nêu việc
Trang 31ban hành án lệnh yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm là yêu cầu cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng (Điều l o i LPC)
Quyết định của Tòa án: đây là mót chế tài phổ biến được nhiêu quốc gia áp
dụng đối với các hành vi CTKLM Theo pháp luật Áo, chế tài này được nhìn nhận
là chế tài quan trọng nhất để đấu tranh với các hành vi CTKLM N ộ i dung của án lệnh yêu cầu chủ thể vi phạm phải chấm dứt vô điều kiện hành vi và khực phục nhanh chóng hậu quả (nếu có)
Ở Bỉ, các yêu cầu của LPC được thực hiện chủ yếu thông qua án lệnh yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm (Điều 95 LPC) Á n lệnh do Chánh án Tòa án thương mại ban hành và nó được công bố công khai, nếu nó phù hợp để ngăn chặn có hiệu quả các hành v i CTKLM
Theo Luật chống C T K L M của CHLB Đức án lệnh yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm là một chế tài quan trọng để xử lý các hành vi CTKLM Trong quá trình xử lý vụ việc CTKLM, người bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng chế tài này bàng một quyết định tạm thời So với các quyết định tương tự trong một vụ
án dân sự thông thường, thì việc áp dụng chế tài vẫn có thể thực hiện được ngay cả trong trường hợp nguy cơ xảy ra thiệt hại từ hành v i này chưa thực sự được chửng minh rõ ràng Đây là một yêu cầu cần thiết để bảo vệ lợi ích công và sự thịnh vượng chung của xã hội
Ở Vương quốc Anh, chế tài này cũng được áp dụng để chống lại các hành vi CTKLM Trong trường họp các công cụ điêu chỉnh có tính tự quản bị triệt tiêu đối với hoạt động quảng cáo sẽ gây nhầm lẫn, thì Tổng vụ trưởng cơ quan thương mại lành mạnh (OFT) sẽ có quyền đệ trình lên Tòa án yêu cầu ban hành một án lệnh để chấm dứt hoạt động này
Bồi thường thiệt hại: Đây là một chế tài truyền thống được Tòa án áp dụng đối
với các hành v i C T K L M trên cơ sở khởi kiện của chủ thể bị thiệt hại Tuy nhiên, cơ
sở pháp lý của việc áp dụng chế tài này được các quốc gia quy định rất khác nhau: quy định chung của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự (Điều 823 BLDS Đức; Điều 2601 BLDS Italia; Điều 6 khoan 2 BLDS
H à Lan ) hoặc các quy định của luật chuyên ngành (Điều l,3,6,7,8,9,Luật số
Trang 32146/1914 của Hy Lạp; Điều 18 Luật số 3/1991 ngày 10/1/1991 của Tây Ban Nha Ley de Competencia Deslead - LCD)
-Hình phạt (theo Luật -Hình sự): cùng với bồi thường thiệt hại, hình phạt theo
Luật hình sự là một chế tài truyền thống được áp dụng đối với các hành vi CTKLM Tuy nhiên, các loại hình phạt và mức phạt được áp dụng cũng rất đa dạng ở các quốc gia trên thế giới
Theo Điều 102 LPC của Bỉ, các hành v i sau đây có thả bị tuyên phạt từ EUR250 đến EUR10.000:
V i phạm các quy định về giải thưởng hoặc hạn chế số lượng;
Vi phạm các quy định về chỉ dẫn thương mại và nhãn hiệu hàng hóa;
Vi phạm các quy định về giá (giảm giá, bán hàng phá sản, bán dọn kho);
Vi phạm các quy định về bán hàng từ xa
Riêng đối với các hành v i v i phạm Điều 84 và 85 LPC như: bán hàng đa cấp bất chính, buôn bán hàng nhái, hàng kém chất lượng, thì có thả bị phạt tù từ một tháng đến năm năm Các hành vi vi phạm các quy định khác của LPC sẽ bị phạt tiên
từ EUR 500 đến EUR 20.000 (Điều 103 LPC)
Theo Điều 4 của Luật chống C T K L M của Cộng hòa liên bang Đ ứ c thì các hành v i quảng cáo gây nhầm lẫn có thả bị phạt tiền hoặc bị phạt tù đến hai năm Còn ở Thụy Điản, các hành v i C T K L M v i phạm các Điều 5 đến Điều 13 M F L có thả bị phạt tiền từ 5.000 đến 5000.000 Krone
Các chế tài khác: bên cạnh các chế tài chính như trên, pháp luật của nhiều nước còn sử dụng nhiều chế tài khác như chế chính như cảnh cáo, cải chính công khai và như các chế tài bổ sung: cấm hành nghề (đặc biệt là nghề tự do như: kiảm toan, bác sĩ, kiến trúc sư, luật sư, ) hoặc đảm nhiệm các chức vụ nhất định; tịch thu công cụ, phương tiện v i phạm; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như
Trang 33cầu về số lượng các biện pháp xử lý các hành vi C T K L M trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng và đang xuất hiện nhiều dạng thức mới của sự xung đột trong hoạt động thương mại quốc tế Sự xuất hiện của Hiệp định TRIPS trong khuôn khổ WTO đã chia sẻ quan điểm về việc giỉm sự phân biệt đối xử với người nước ngoài cùng với sự tôn trọng các quốc gia chưa phỉi là thành viên của Công ước Trong lĩnh vực CTKLM, dù sao kết quỉ này có giới hạn về sự tác động trực tiếp Điều đó
có nghĩa, TRIPS khi định nghĩa "quyền SHTT" chỉ đề cập đến những vấn đề riêng biệt được giỉi quyết trong hiệp định Các hoạt động C T K L M không phỉi là đối tượng của nó Từ một số rộng lớn các hành v i CTKLM, TRIPS chỉ xử lý hai vấn đề: bỉo vệ chỉ dẫn về địa lý và bỉo vệ các bí mật thương mại
Sự thiếu hụt của các quy phạm thực chất thống nhất trong pháp luật quôc tê có nghĩa là nhiệm vụ ngăn chặn các hành v i C T K L M cho đến nay vẫn là nhiệm vụ của pháp luật quốc gia Thế nhưng, điều đáng nói là, pháp luật của các quốc gia lại rát khác nhau và điều này đang được đánh giá là những rào cỉn cho thương mại quốc tế
Đ ẻ khắc phục thực trạng nói trên, tiếp cận hài hòa hóa pháp luật trong lĩnh vực
C T K L M đã trở thành sự lựa chọn duy nhất của các khối trong khu vực Trong liên minh Châu Âu, hài hòa hóa pháp luật trong lĩnh vực C T K L M và B V N T D đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Quan trọng nhất trong số đó phỉi kể đến:
- Chỉ thị số 85/57/EEC về Bán hàng tại nhà
- Chỉ thị 90/314/EEC về Du lịch trọn gói
- Chỉ thị 93/13/EEC về Điều kiện thương mại chung
- Chỉ thị 94/47/EC về Quyền lưu trú ngắn hạn
- Chi thị 97/7/EC về Bán hàng từ xa
- Chỉ thị 98/6/EC về Chỉ dẫn giá
- Chi thị 98/2/ É C về Yêu cầu khởi kiện chấm dứt hành vi v i phạm
- Chỉ thị số 99/44/EC về Mua bán hàng hóa tiêu dùng
Đến nay hầu như các quốc gia trong liên minh châu  u đã chuyển hóa toàn bộ các yêu cầu của các chỉ thị này vào trong pháp luật của mình
Sụ thiếu vắng của khuôn khổ pháp lý về cạnh tranh trên quy m ô toàn cầu cũng đang thúc đẩy các quốc gia A S E A N phỉi tìm kiếm sự đồng thuận trong việc thiết
Trang 34lập pháp luật cạnh tranh trong khu vực Đ ố i với ASEAN hiện nay, quá trình ban hành và thực thi pháp luật và chính sách cạnh tranh của khu vực diễn ra đồng thời với việc hài hòa hóa pháp luật cạnh tranh quốc gia Bời vậy, việc thiết lập pháp luật cạnh tranh khu vực thông qua việc hài hòa hóa pháp luật cạnh tranh quốc gia và bảo đảm sự thi hành của chúng ờ cấp độ khu vực là phản ánh lựa chọn tốt nhất hiện nay
Sở sĩ phản ánh hài hòa hóa pháp luật là sự lựa chọn phù hợp với Asean đặ hình thành pháp luật cạnh tranh khu vực là vì Asean là sự thống nhất trong đa dạng với
sự khác biệt lớn trong mỗi quốc gia về cấu trúc kinh tế, cơ sở hạ tầng kiến trúc xã hội, hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa - xã hội Mặc dù có nhận thức chung
về vấn đề này, song việc hài hòa hóa pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh nói chung
và C T K L M nói riêng vẫn chưa thu được kết quả nào đáng kặ Thực trạng này chì có thế được cải thiện khi Asean có cơ chế bắt buộc thực hiện các thỏa thuận chung của khu vực
l i M Ộ T S Ố V Ấ N Đ È L Ý L U Ậ N so S Á N H C Ủ A P H Á P L U Ậ T V È C H Ứ C
N Ă N G C Ủ A L U Ậ T T Ư
2.1 Khái quát về Luật tư
Hệ thống pháp luật quốc gia của các nước theo truyền thống civiỉ law được
chia thành Luật công và Luật tư Sự phân biệt Luật công và Luật tư có nguồn gốc
từ luật La Mã Thuật ngữ jus publicum (Luật công) và jus singulorum hay jus
privatio (Luật tư)6
Luật công là tổng thặ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ
quan Nhà nước và giữa Nhà nước với tư nhân Còn Luật tư là tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các tư nhãn Vì vậy, phương pháp điều
chỉnh của luật công được đặc trưng bằng mệnh lệnh đơn phương, còn phương pháp điều chỉnh của Luật tư được đặc trung bằng sự thoa thuận ý chí Đ ố i tượne điều chinh của luật công hướng tới lợi ích công, còn đối tượng điều chỉnh của Luật tư hướng tới lơi ích tư Luật công được xem xét tại hệ thống tài phán luật công (chủ yếu là toa án hành chính), còn Luật tư được xem xét tại hệ thống toa án tư pháp
6 Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh, Vũ Quang, Lê Minh Toàn, Giáo trình Luật Kinh tế, NXB Thốn"
kê, 2008
Trang 35cần nhấn mạnh thêm rằng, pháp luật công hay tư không phải là hai ngành luật,
hai môn học pháp luật, m à đây là những khái niệm thể hiện cách thức và nguyên tắc xem xét những hành v i pháp lý và khả năng xử sự của các chủ thể pháp luật7
Theo
đó, pháp luật công là lĩnh vực pháp luật m à trong sự điều chinh của nó thể hiện nguyên tắc quyền lực Nhà nước, tòng thuộc hay lệ thuộc của các chủ thể trong một quan hệ pháp luật và nhằm bảo vệ lẳi ích của trật tự công cộng (public order) Luật Công bao gồm các ngành luật như luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật ngân hàng, luật tài chính công (bao gồm các nhánh như luật thuế, luật kiểm toán công, luật ngân sách) Trong khi đó pháp Luật tư là lĩnh vực pháp luật thể hiện sự bình đăng và ngang quyên, tự do ý chí và thoa thuận của các chủ thể và nhằm bảo
vệ lẳi ích riêng, cá biệt của các chủ thể8
Luật tư bao gồm các ngành luật như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại và luật lao động Như vậy, Luật
tư là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính bình đẳng, tự do và thỏa thuận m à tại đó, việc xem xét, đánh giá các hành v i pháp lý đưẳc tiến hành theo nguyên tắc "các chủ thể đưẳc tự do thực hiện những hành v i m à pháp luật không cấm" Nói khác đi, phương pháp điều chinh pháp luật của lĩnh vực này là phương pháp dân sự
2.2 Chức năng của Luật tư và chức năng của Luật công trong việc xử lý các hành vi CTKLM
2.2 ì Chức năng của Luật công trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh
Luật công là tổng hẳp các biện pháp can thiệp của cơ quan quản lý Nhà nước tác động lên các quan hệ kinh tế Cụ thể là trong mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể trên thị trường, khi phát hiện thấy các hành v i có dấu hiệu cản trở cạnh tranh, phá vỡ cấu trúc thị trường thì cơ quan công quyền đưẳc phép chủ động can
' Ở các quốc gia thuộc hệ Civil Law thi sự phán biệt này được thề hiện khá rõ mà theo đó, việc nghiên cứu, giảng dạy, xem xét, đánh giá vê hệ thông pháp luật cũng như tô chức, hoạt động, thâm quyên và các nguyên tắc tố tụng ở toa án cũng thề hiện sự phân biệt giữa luật công và Luật tư Trong khi đó ờ các quốc gia thuộc
hệ Common Lavv thì sự phân biệt này không rõ rệt nhung khi xem xét tặng văn bàn pháp luật, tặng hành vi pháp lý cụ thề đều cho thấy có sự khác biệt
8 Những tặ "cóng" hay "tu" ở đây không liên quan đến khái niệm tu nhân hay N h à nước hoặc cơ quan hay ngành tư pháp Một tư nhân ờ Lạng sơn khi tó chức dọn rác không thê tự do nghi ngơi khi không có húng thú làm việc; Một công ty điện lực không thê tự tiện không bán điện cho một quận vi lý do không cần tiền; một cửa hàng thuốc tân dược không thê tự do tăng giá thuõc vì lý do người mua "vẫn chấp nhận" Mặc dù
Trang 36thiệp m à không cần chờ đến các thể nhân hay pháp nhân khởi kiện Hầu như Luật cạnh tranh cùa các nước đều cho phép cơ quan quản lý cạnh tranh được quyền chủ động can thiệp khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm (ờ M ỹ là Bộ Tư Pháp, ờ Đ ứ c là Cục Cartel liên bang, ở Pháp là TẠng cục cạnh tranh, tiêu dùng và chống gian lận thương mại và Hội đồng cạnh tranh, ở Nhật Bản là Cục Chống độc quyền và JFTC Ạ
Tuy nhiên, các công cụ của Luật công đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ trật tự cạnh tranh đối với hành vi gây HCCT, bởi vì hành v i HCCT nguy hại về mức độ cũng như trên phạm v i rộng lớn cho thị trường nói chung so với hành v i CTKLM Do vậy, pháp luật chống HCCT thường có cách thức xử lý nghiêm khắc hơn và kịp thời hơn bằng những biện pháp có tính đặc thù hơn - biện pháp hành chính kinh tế Các chế tài được áp dụng để xử lý những hành vi v i phạm có thể ở những dạng như: đình chì hành vi, tuyên bố thỏa thuận vô hiệu, tái cấu trúc công ty, phạt tiền N h ư vậy, đối với các hành vi HCCT thì vai trò của Luật công trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh là hiệu quả hơn cà Ngoài ra, đối với các hành v i CTKLM, các công cụ của Luật công vẫn có vai trò bẠ sung, bởi vì một số hành v i C T K L M vẫn có thể bị xử lý về mặt hành chính bởi nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn, các hành v i C T K L M liên quan đến sở hữu công nghiệp có thể được xử lý theo các văn bản xử lý v i phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Các hành v i
về quảng cáo gian dối có thể bị xử lý về mặt hành chính theo các văn bàn pháp luật
về quảng cáo Tuy nhiên, ờ đây, việc sử dụng các công cụ của Luật công đối với việc xử lý các hành v i C T K L M chỉ đóng vai trò bẠ sung m à thôi
Tuy nhiên, Ở các quốc gia chuyển đẠi khác như Trung Quốc9
, C H L B Nga v.v thì vai trò của Luật công đối trong việc xử lý các hành vi C T K L M lại đóng vai
trò rất quan trọng Điều 3 Luật Chống C T K L M của Trung Quốc quy định "Các cơ
quan quàn lý hành chính công nghiệp và thương mại thuộc chính quyền nhăn dân cắp tinh thực hiện việc giám sát và điều tra các hành vi CTKLM Trong trường hợp chức năng giám sát và điều tra được chỉ định cho các cơ quan khác theo các luật về
9 Tham khảo thêm trong "Những vắn để đặt ra vả giãi pháp thực thi có hiệu quà Luật Cạnh lì-anh trong thực
tiễn": Đ ề tài nghiên cứu cấp bộ/ Tăng Văn Nghĩa: CN đê tài; H ồ Thúy Ngọc, Nguyễn M i n h Hằng: Đ H N g o ạ i
Trang 37cạnh tranh, thì các quy định của luật đó sẽ được áp dụng" N h ư vậy, việc giám sát
và điều tra các hành vi C T K L M thuộc về các cơ quan quản lý hành chính thương mại và công nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây vai trò của các cơ quan này đang phải đối mặt với những thách thức trong việc điều tiết cạnh tranh trong các ngành năng lượng, viễn thông, tài chính, hàng không dân dụng và dược phẩm
2.2.2 Vai trò của Luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh
Các hành vi C T K L M về mặt pháp lý đều được coi là một biờu hiện cụ thờ của
hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Theo đó, một chủ thê
tham gia cạnh tranh củng cố vị thế cạnh tranh của mình thông qua việc xâm hại đèn lợi ích của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng sẽ có thế bị khởi kiện yêu cầu chấm
Nói khác đi, trách nhiệm dân sự cho các hành vi C T K L M về cơ bản không có
sự khác biệt đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Vì dấu hiệu căn bản của hành v i C T K L M là vì mục đích cạnh tranh m à đã hoặc có thờ gây thiệt hại cho một đối thủ trong thị trường liên quan nên về nguyên tắc, pháp luật dành quyền "ưu tiên" cho doanh nghiệp được tự bảo vệ mình Đây cũng là một trong những triết lý của kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Do đó, cần phải quan niệm rằng việc áp dụng các chế tài của Luật tư đối với các hành v i C T K L M là hết sức cần thiết Như vậy, C T K L M chỉ bị pháp luật
"trừng trị" khi đối thủ cạnh tranh nhận thức được nguy cơ hay thục tế của sự tổn thất và từ đó họ tự quyết định nhờ đến sự can thiệp của pháp luật Theo cách thức
đó, về cơ bản, hành v i C T K L M bị xử lý bằng phương pháp dân sự và chế tài dân sự
Vì vậy, ở đây dễ dàng áp dụng nguyên tắc "không có đơn kiện thì không có Tòa án"10
Thực trạng pháp luật cạnh tranh của những nước có hệ thống pháp luật phát triờn đã cho phép không chỉ người bị thiệt hại m à còn các chủ thờ khác có quyền khởi kiện đối với các hành v i CTKLM Thông qua việc trao quyền khởi kiện này, nhiều lực lượng xã hội, đặc biệt là các hiệp hội đã được khích lệ trong quá trình bảo đảm một trật tự cạnh tranh văn minh và lành mạnh Tất nhiên, các hiệp hội và các tổ
Nguyễn Như Phát, Đưa pháp luật CTKLM vào cuộc sống, Tạp chí Luật học, số 6/2006, tr.29-tt.35
Trang 38chức xã hội khác khi tham gia vào tiến trình này đều nhàm mục đích là bảo vệ
quyền lợi cho nhóm xã hội m à họ đại diện
2.2.3 Vai trò của Luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh tranh trong Luật Cạnh
tranh 2004 của Việt Nam
Thoát thai từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo kiểu CNXH, nơi m à
cạnh tranh được coi là xa lạ và độc quyền Nhà nước được coi là phổ biến, nền kinh
tế thị trường theo định hướng X H C N của Việt Nam cho đến nay vấn ở trong giai
đoạn khởi đầu m à ở đó tính chất quá độ, sự lạc hậu của các hình thái cạnh tranh còn
thể hiện ở mức tương đối rõ rệt Các biểu hiện C T K L M như: hàng giả, quảng cáo
sai lệch, quảng cáo so sánh, khuyến mại không thật, v u khống làm hại đến uy tín
của đối thủ cạnh tranh, hạ thấp và bôi nhọ uy tín và sản phẩm, dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh còn rất phổ biến trên thị trường Việt Nam Thêm vào đó, do sự nhận
thức chưa đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cũng như sự
thiếu hụt của một cơ chế bảo Hiến1 1
Hậu quả của nó còn tiếp tục thể hiện rất rõ trong đời sổng kinh tế của ngày hôm nay, khi m à nhận thức cũ của nhiêu doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước vấn còn được bảo lưu và các doanh
nghiệp mới được thành lập vấn chưa nhận thức đầy đủ ràng, mình có những cơ hội
gì và những quyền năng cụ thể nào khi m à cạnh tranh được khuyến khích và được
đặt dưới sự điều tiết của Nhà nước Trong bối cảnh đó việc xử lý các hành v i
C T K L M còn phải hướng đến mục tiêu là nâng cao nhận thức về C T K L M cho các
chủ thể tham gia thị trường thông qua việc trừng phạt, cảnh báo, khuyến cáo Rõ
ràng, những mục tiêu này chỉ có thể thực hiện được thông qua các phương tiện của
Luật công Thòng qua các chế tài hành chính được ghi nhận trong các Điều 117,
118, 119 của LCT 2004, chúng ta thấy rằng pháp luật C T K L M của Việt Nam đã thể
hiện sự can thiệp "tích cực" của Nhà nước vào thị trường Theo cách tiếp cận này,
pháp luật C T K L M của Việt Nam không thuộc phạm trù của Luật tư M à ngược lại,
các nhà làm luật của chúng ta đã nhìn nhận pháp luật về C T K L M là một bộ phận
của pháp luật công - pháp luật hành chính kinh tế
' 1
Bùi Nguyên Khánh, Chức năng cùa Luật tư trong việc bào vệ trật tự cạnh tranh từ góc đọ nghiên cứu so sánh giữa pháp luật CTKLM cùa Việt Nam và CHLB Đức, Nhà nước và pháp luật, số 10/2007, Tr.47
Trang 39Như vậy, khi trật tự cạnh tranh được bảo vệ có hiệu quà trước các hành v i
C T K L M bằng các công cụ của Luật công thì vai trò của Luật tư ở đây chỉ đóng vai
trò bố sung Điều 117 LCT 2004 của Việt Nam có quy định "To chức, cá nhân có
hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhãn khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật" Như vậy, luận văn cho ràng, chế độ trách nhiệm dân sự cho
các hành vi C T K L M ở Việt Nam cần phải được xem xét thêm tể các góc độ sau:
Thứ nhắt, vì dấu hiệu căn bản của hành vi C T K L M là vì mục đích cạnh tranh
m à đã hoặc có thể gây thiệt hại cho một đối thủ trong thị trường liên quan như đã đề cập ở trên Do đó, cần phải quan niệm ràng việc áp dụng các chế tài của Luật công đối với các hành v i C T K L M như hiện nay chỉ là "giải pháp tình thế" và nó sẽ được thay thế tểng bước bằng trách nhiệm dân sự trong quá trình phát triển thị trường và
xã hội dân sự tại Việt Nam1 2
Thứ hai, trách nhiệm dân sự cho các hành vi C T K L M bao gồm nhưng không
chì là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Việc khơi kiện yêu càu chấm dứt hành vi v i phạm với tính cách là một chế tài dân sự chưa được quy định rõ ràng trong L C T
2004 2004 Sở dĩ có thực trạng này là vì theo Điều 3 của Pháp lệnh số UBTVQH10 ngày 02-07-2002 về việc xử lý các v i phạm hành chính và Điều 3 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30-09-2005 quy định xử lý v i phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh có ghi nhận nguyên tắc: M ọ i hành v i v i phạm phải được phát hiện kịp thời và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ ngay Đây là vấn đề cần phải nghiên cứu hoàn thiện khi trách nhiệm dân sự được sử dụng là công cụ chủ yếu trong việc đấu tranh với các hành vi C T K L M trong thời gian tới
44/2002/PL-Thứ ba, Liệu có cần thiết phải xây dựng các nguyên tắc riêng trong việc xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các hành v i C T K L M ở Việt Nam hay không? Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với các hành vi C T K L M
1 2 Bùi Nguyên Khánh, Chức năng cùa Luật tu trong việc bào vệ trật lự cạnh tranh lừ góc đọ nghiên cứu so
Trang 40có nhất thiết phải đủ 4 yếu tố cấu thành (Hành vi vi phạm; Người thực hiện hành vi
vi phạm phải có lỗi; phải có thiệt hại xảy ra; Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra) theo các quy định chung của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng hay không? Thực tiễn giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi C T K L M đã chợ ra rằng không phải lúc nào cũng chứng minh rõ ràng được về thiệt hại khi những thiệt hại đó do các hành vi nói xấu, gièm pha đối thủ, gây rối, quảng cáo so sánh gây ra
Thứ tư, pháp luật C T K L M của Việt Nam không thể phân loại và xác lập trách nhiệm hành chính cho tất cả các hành v i C T K L M đang và sẽ diễn ra vì cạnh tranh, xét về bản chất là hoạt động có tính sáng tạo của các chủ thể kinh doanh Điều này dẫn đến một hậu quả pháp lý là rất có thể cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ không ngăn chặn được một cách hiệu quả và kịp thời các hành vi C T K L M mới nảy sinh và chưa được liệt kê trong các văn bản pháp luật hiện hành về cạnh tranh
Thứ năm, từ khía cạnh kinh tế trong việc sử dụng nguồn lực xã hội đã cho thấy
việc huy động một hệ thống các cơ quan Nhà nước đông đảo (trong đó có cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò trung tâm) nếu chợ giải quyết một vụ tranh chấp nhỏ liên quan đến hành vi C T K L M rõ ràng là không thực tế Thực tiễn phó mặc việc xử
lý C T K L M cho cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan hành chính khác đã chợ
ra là rất thiếu hiệu quả Điều này còn được thể hiện rõ hơn trong bối cảnh pháp luật
C T K L M của Việt Nam chưa có sự phân định rõ ràng thẩm quyền giữa Cơ quan quản lý cạnh tranh, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành, Hải quan thậm chí là Công an trong việc xử lý hành vi CTKLM Do đó, việc bổ sung các công cụ của Luật tư là hết sức cần thiết
Ở đây, cần lưu ý rằng, hệ thống pháp luật về C T K L M ở mỗi quốc gia có nhiều điểm khác nhau, cách thức điều chợnh cũng không hoàn toàn giống nhau Nhưng nó thống nhất với nhau ở mục đích điều chợnh và việc xác định các nhóm hành v i cần thiết phải được điều chợnh Đặc điểm về lịch sử hình thành, thiết chế chính trị, truyền thống lập pháp, tập quán kinh doanh thương mại, nền tảng và sự phát triển nền kinh tế, phong tục tập quán xã hội và các quy tắc đạo đức là các yếu tố chi phối